Bác học và đại chúng (2)
Một cách nữa - cách hay gặp - là dán cho hạng A nhãn “đại chúng”. Nghệ thuật “đại chúng” được cho là phục vụ mục đích giải trí, trong khi nghệ thuật “đích thực” hay “nghiêm túc” thì nhắm vào việc thoả mãn nhu cầu “nghệ thuật”, “mỹ học”, thậm chí “tâm linh”. Cách nghĩ này thuyết phục nhiều người; nhờ nó, người ta có cơ sở để cho rằng văn học đại chúng cũng có cái hay, cái dở, cũng có quy luật đánh giá của riêng nó, độc lập với quy luật của văn học đúng nghĩa. Cuốn tiểu thuyết đại chúng là để đọc cho qua thì giờ. Vở hài kịch đại chúng chỉ khiến người ta cười rồi quên đi. Vở bi kịch đại chúng cho ta “khóc một mẻ”. Chúng đều đã có chỗ đứng riêng, xứng đáng, và ở dưới thấp. Nhưng tôi có quen vài người bác học; những người bác học nhất trong số đó dành hàng giờ liền chỉ nói về tính chất dung tục của nghệ thuật đại chúng. Thế nên họ phải am tường nó lắm; họ không thể thu thập từng ấy kiến thức nếu họ không yêu thích thứ nghệ thuật ấy. Bởi vậy, tôi cho rằng nếu có một lý thuyết vừa cho phép họ thoả thích uống nước từ suối Nghệ Thuật Đại Chúng, vừa không bắt họ từ bỏ phẩm giá thượng đẳng của mình, những người này sẽ chấp nhận ngay lý thuyết ấy. Tuy nhiên cách phân biệt Đại Chúng-Tinh Hoa này sẽ làm khó cho chúng ta. Khỏi cần ngó qua cũng biết rằng trên giá Sách Tốt ở thư viện trường dự bị kia sẽ có Scott và Dickens. Thế nhưng hai nhân vật này, vào thời của họ, lại là giải trí cho đại chúng, lại là những tác giả bán siêu chạy. Các độc giả bác học thời nay có thể phản bác bằng cách liệt những nhà văn này vào hạng B. Tôi không đồng ý, nhưng hãy thử nhường họ xem sao. Chúng ta hãy cũng làm điều tương tự luôn với những bài thơ của Scott, với Byron, người đã từng là A những giờ lại là B. Nhưng còn Fielding, Malory, còn Shakespeare và các đồng nghiệp của ông thì sao? Các truyện romance bằng thơ nữa? Cả thơ Ovid mà người cổ đại từng viết bậy trên tường ở Pompeii? Cả Moliere, người từng cho rằng đánh giá đáng tin nhất dành cho tác phẩm của ông đến sẽ từ bà già luôn luôn biết cười đúng những chỗ mà cả khán phòng cũng cười - rằng đánh giá ấy sẽ đến từ khán giả mà ông đã sáng tác để làm vừa lòng? Đã đành đây là một nghệ thuật khác hẳn: nhưng các vở nhạc kịch của Mozart thì sao? Bạn nói rằng một tác phẩm nhắm vào thị trường đại chúng đôi khi sẽ nhờ may mắn mà thành công ngoài dự tính ư? Nói thế không đủ; điều này xảy ra nhiều lần đến mức không thể gọi là may mắn nữa. Những gì lưu lại từ các thời đại trước, phần lớn là những tác phẩm có sức hút tôn giáo hoặc chính trị, còn không thì cũng là tác phẩm đại chúng và thương mại, sáng tác để phục vụ giải trí. Tôi nói “phần lớn” là vì tuy di sản của các nghệ sĩ “thuần tuý” không phải khi nào cũng chóng rơi vào lãng quên, nhưng di sản ấy nhỏ bé lắm. Một lượng lớn tác phẩm văn học nhãn B của ngày nay hoá ra lại là những tác phẩm được người nào đó viết với một lòng sùng kính nhằm mục đích giáo hoá người khác, hoặc được viết vì mục đích thương mại, để kiếm tiền bằng cách “cho công chúng thứ họ muốn”.
Điều này dẫn đến một kết luận rất thú vị. Các tác phẩm hạng B của một thời lại thường hay là tác phẩm hạng A của một thời khác. Môn đệ của các phong trào mới nổi và khó đọc trong văn chương thường dặn chúng ta không nên noi gương tổ phụ mà ném đá các nhà tiên tri. Những người ghét Pound hay Joyce thường được nhắc nhở: “Giá mà anh sống thời xưa, anh cũng chẳng ưa gì Wordsworth hay Shelley đâu.” Lời dặn dò này là hữu ích, nhưng nó nên đi kèm với câu: “Cứ coi chừng. Đừng xem thường những cuốn bán siêu chạy ngày nay. Biết đâu chúng lại trở thành kinh điển cho giới trí thức thể kỷ hai mươi ba đấy.”
Nếu, trong tâm tưởng của hậu thế, thời của chúng ta không phải thời của Eliot hay Auden, mà là của Wodehouse hay Buchan (đã có nhiều chuyện lạ lùng hơn từng xảy ra trong lịch sử), thì Buchan và Wodehouse sẽ vào hạng B, trẻ con sẽ được cho điểm cao nhờ đọc các tác giả ấy. Shakespeare và Scott, vốn là A, mà ngày nay là B đấy thôi. Một khi ta ý thức được thời gian có thể thay đổi số phận của sách vở đến mức nào, ta sẽ ý thức luôn một điều gì đó quan trọng về bản chất của cách phân biệt A-B. Thời gian khiến cho sách khó đọc hơn, thế nhưng nó cũng có nhiều tác động khác. Nó làm cho một tác phẩm được biết đến rộng rãi hơn, hoặc phủ lên cho nó một lớp màu thời gian khiến chúng ta hứng thú - như ở Virgil và Malory vậy. Thế nhưng chừng ấy không đủ để định nghĩa hạng B, vì rằng hạng B phải bao gồm cả tác phẩm đương đại nữa. Tính chất ta đang tìm là tính chất mà một số sách vốn đã có; nhưng nó lại cũng phải là tính chất được thời gian mang đến cho những sách vốn không hề có tính chất ấy. Hình như “khó đọc” là tên của tính chất này. Hay ho lắm đây, nếu “khó đọc” lại được xem là tiêu chí định nghĩa cho Văn Học, Sách Tốt hoặc các tác phẩm kinh điển. Một vở hài kịch sẽ còn là nghệ thuật bình dân chừng nào ai nấy đều hiểu những trò đùa của nó; nhưng ngay khi chúng ta cần các nhà bình giảng làm chú thích, nó lập tức biến thành một vở kịch có tính thẩm mỹ và giá trị tâm linh. Nhưng tôi e là trong số các giả thiết đã đưa, sự khó đọc là tính chất đền gần nhất với bản chất của phép phân biệt A-B mà ta đã nêu từ đầu bài viết này.
Chia sách ra thành dễ và khó là cách chia hợp lý thôi. Thích được cả hai loại sách thì tốt hơn là chỉ thích đọc sách dễ. Một người trước chỉ thích thứ dễ, nay lại tập thích thứ khó, có thể được xem là người đã nâng cao thẩm mỹ của mình. Vì rằng sự mở rộng, xét riêng nó, là một tiến bộ. Thế nhưng tiến bộ theo nghĩa này (tức là mở rộng một thứ gu tiêu dùng vốn là gu rất tốt trong một giới hạn nhất định) khác biệt rất xa với tiến bộ theo nghĩa sửa đổi hoặc hoàn lương từ cái dở để đi về cái hay. Lại cũng có một khác biệt lớn giữa cái dễ và cái dở. Không cuốn sách nào dở chỉ vì nó dễ đọc, không cuốn nào hay chỉ vì nó khó đọc: một cuốn sách có thể dở vì nó khó đọc. Nếu khó đọc vs. dễ đọc là đối lập đứng sau đối lập A-B, thì đối lập A-B đã bị áp dụng sai hoàn toàn. Từ luận điểm “Nếu được, bạn hãy tiến lên đọc cả những sách khó” (một luận điểm đúng), nhiều người sẽ rút những kết luận sai - rằng sách khó là sách hay hơn, rằng ta chỉ tiến lên được sách khó nếu quăng đi sách dễ. Rồi chúng ta sẽ thấy ngay những nguyên nhân tâm lý dẫn đến sai lầm này.
Cũng gần với cách phân biệt khó-dễ này là cách phân biệt lấy “phàm tục” làm tiêu chí định nghĩa cho một cuốn hạng A. Với quan niệm này, ta chỉ cần đáp lại: thế “phàm tục” ở đây được dùng ở nghĩa nào; ở nghĩa nào mà nó được gán cho tác phẩm của Beatrix Potter, John Buchan, George Birmingham, P.G. Wodehouse, “Somerville và Ross”, và cả tá các cây viết khác thuộc hạng A nữa? Thế nhưng “phàm tục” là tính từ rắc rối và, đến thời đại chúng ta, nó được sử dụng rộng rãi đến mức ta nên phân tích nó kĩ càng hơn. Với tôi, từ này có hai nghĩa chính. Nghĩa thứ nhất là nghĩa thuần tuý tiêu cực; “phàm tục” nghĩa là “không tinh”, “không tinh tế, không sâu sắc, không nhiều mặt”. Theo nghĩa này, một thứ gì đó phàm tục (chẳng hạn “tiếng tục”) hoàn toàn có thể là thứ hay: có hề hấn gì nếu thiếu tinh tế, thiếu chiều sâu khi tinh tế và chiều sâu là không cần thiết? Thế nên câu
Then come kiss me, sweet and twenty[1]
vẫn là câu hay, dù nó tục, và tục chỉ vì nó truyền đạt ý niệm về một tình yêu không cao thượng, không nhắm cụ thể vào đối tượng nào - vốn là thứ mà bài ca này đòi hỏi. Cũng câu này sẽ phàm tục theo nghĩa xấu, nếu ai đó ngu dại tới mức đặt nó vào mồm Launcelot khi chàng mới trèo rào để tỏ tình với Guinevere, hoặc mớm cho Zeus khi thần hiện ra từ cơn mưa vàng để tình tự với Danae. Theo quan điểm này, chúng ta kết luận rằng mọi tác phẩm văn học của A đều phàm tục và phải phàm tục mới được. Nó cần xử lý mạnh mẽ và đơn giản những cảm xúc mạnh và đơn giản: một bức chân dung bộc trực, không rối rắm cho những khía cạnh dễ gặp, dễ nhận ra của thực tại - bức chân dung như thế, miễn nó không giả vờ là một thứ khác nó, sẽ không bao giờ là một khuyết điểm. Nếu nó trình bày một cách thiếu tế nhị cái cần tế nhị, nó sẽ tục và cái tục ấy mới là một khuyết điểm. Thế nhưng chẳng phải toàn bộ ngón nghề của những người giỏi viết sách loại A nằm ở chỗ họ biết để tránh đúng lỗi đó? Tuy nhiên “tục” còn một nghĩa nữa; nghĩa ấy thường được dùng để nói về một nét xấu; về lâu về dài, nó sẽ là một nét xấu trong đạo đức: cái tôi nói ở đây là cái tầm thường, cái nhỏ nhen, cái hèn hạ. Ý nghĩa những từ này mập mờ; nhưng đưa một ví dụ là vấn đề sáng tỏ ngay. Theo tôi, ví dụ thuyết phục nhất về dung tục theo nghĩa xấu là một đoạn nằm ở Iliad của Chapman. Homer kể về những ông già đứng trên tường thành:
οἱ δ᾿ ὡς οὖν εἴδονθ᾿ ῾Ελἐνην ἐπὶ πύργον ἰοῦσαν,
ἦκα πρὸς ἀλλήλους ἔπεα πτερόεντ᾿ ἀγόρευον.
Chapman dịch như sau:
trước quyền uy sắc đẹp nàng, họ bước lên cao.
Đến những bậc vương tôn mà lòng đà nguội lạnh
-đến những bậc khôn ngoan nhưng xác thân đà héo úa-
đến các bậc này còn thấy lửa năm xưa nhen lại,
họ không cầm lòng đặng, thốt lên (dù chỉ dám thì thầm)…
Ý nói về tình trạng hứng tình ở tuổi già mà Chapman giúi cho nguyên tác không phải trong trường hợp nào cũng là tục. Có thể viết những câu thơ hay, bất kể hài hay bi, về chủ đề này. Nhưng nếu ai đó đi tuồn nó vào đúng ngữ cảnh này, qua đó cho thấy anh ta chẳng ý thức chút gì về cái bao la khác biệt giữa nó và bất cứ diễn giải nào có thể đưa ra về đoạn mà Homer để lại: điều này chính là bằng chứng của một tấm lòng không cao thượng, một sự thiếu hiểu biết xuống tầm thú vật về các thang bậc của cảm xúc con người. Đây không chỉ là thiếu tế nhị ở chỗ cần tế nhị; đây là tiếp nhận một cách vô thức và chết người cái thấp kém khi cái thấp kém ấy xin được thế vào chỗ của cái cao thượng hơn, đây là “ham muốn lao đầu sục xuống bùn”. Ở đây, ta khó mà không dùng những từ như “thấp hơn”, “cao hơn”; bởi “dung tục”, ở một tầng sâu hơn, là một từ chê trách. Nó chẳng liên quan gì đến sự phân biệt giữa đại chúng và kinh điển. Tục không phải vì trán thấp[2] nữa rồi, mà vì lòng dạ thấp.[3]
Chúng ta đã nỗ lực đi tìm một cách hiểu hữu ích cho việc chia sách ra làm kinh điển và đại chúng, Sách Hay và Sách, văn học và thương mại, bác học và bình dân. Nhưng chúng ta thất bại. Sở dĩ có cách phân biệt như trên là vì người ta lẫn lộn. Sự khác biệt trong mức độ hay dở giữa các cuốn sách đã bị họ đánh đồng với sự khác biệt giữa các thể loại sách. Biểu đồ văn học của chúng ta hiện không khác gì danh sách công bố điểm thi. Một cột dọc duy nhất liệt kê tên, được chia đôi bởi cũng bởi một đường kẻ ngang duy nhất; trên đường kẻ ngang đó là các thí sinh điểm ưu, còn bên dưới là các thí sinh điểm “đạt”. Thế nhưng ta cần có nhiều đường kẻ dọc để có nhiều cột trình bày nhiều thể loại sách. Thêm vào đó, ta cần vô số đường kẻ ngang, cho chúng chạy vuông góc với các đường kẻ dọc, nhằm biểu diễn mức độ hay dở của các sách trong từng loại. “Truyện phiêu lưu dễ đọc” sẽ đi thành cột riêng; ở cột ấy, Odyssey nằm trên cùng, Edgar Wallace nằm dưới cùng. Tên của Rider Haggard, R. L. Stevenson, Scott, William Morris sẽ tuỳ chúng ta sắp xếp mà đứng trên những đường kẻ ngang khác nhau của cột “Truyện phiêu lưu”. “Truyện tâm lý” lại là một cột riêng biệt, với tên đứng đầu bảng (Tolstoy hoặc ai đó khác) và tên đội bảng của riêng nó. Sẵn bức tranh đó trong đầu, chúng ta sẽ thôi nói với một em bé: “Con không nên đọc thứ rác rưởi King Solomon’s Mines làm gì. Thử đọc Meredith đi.” Lời khuyên đó sẽ hướng đứa trẻ cùng một lúc đi hai hướng rất khác nhau. Ta đang yêu cầu em vừa đi ngang từ loại này sang loại khác; vừa đi dọc, từ dở lên hay hơn. Thế nhưng ta còn làm một điều khác nữa, tệ hơn: ta đang cấy vào óc em ý nghĩ (thường không bôi xoá đi được) rằng sách không hay lắm và sách “văn học đích thực” sẽ cho em hai loại thú vui khác hẳn nhau, rằng loại thứ nhì là thứ phải đọc “ở trường”, là thứ thuộc về chuyện điểm chác, tốt nghiệp phổ thông, là thứ phục vụ cho lòng kiêu ngạo và công cuộc nâng cấp bản thân.
Tôi tin quan niệm sai lầm này sẽ ngày một phổ biến; nó sẽ không giới hạn ở học sinh thôi đâu. Và bối cảnh hiện tại sẽ góp phần củng cố nó. Chỉ mới đây thôi, người ta vẫn chưa coi việc đọc văn học viết bằng tiếng mẹ đẻ là điều đáng khen. Các tác giả lớn của thời xưa viết nhằm mục đích giải trí cho những người lớn sống cùng thời với họ. Không vì thôi thúc từ bên ngoài, cũng không vì điểm hạnh kiểm, độc giả sẽ ngồi xuống ăn những món mà các nhà văn này soạn ra chỉ vì độc giả ấy là người thích văn học. Ở trường, học trò được dạy đọc sách Latin và Hy Lạp dưới cây roi của thầy: trẻ con ngày xưa bập vào các thi sĩ Anh cũng như trẻ con thời nay bập vào xi nê ở địa phương vậy. Phần đông thanh thiếu niên ở lứa tôi và, tôi hy vọng, phần đông thanh thiếu niên ở lứa các bạn, đều bập vào văn học theo cách ấy. Mỗi chúng ta bị một nhà thơ lớn xông vào và khuất phục ngay từ khi còn đeo cổ Eton[4]. Có gì kiêu căng đâu nếu ta khẳng định rằng đa số sách ta đem lòng yêu từ buổi đầu ấy là sách hay, và những mối tình đầu ấy là những mối tình ta không bao giờ hối hận? Từ đó mới thấy thời nay là thời lạ, chứ không phải ngày xưa. Với những người như chúng tôi, nói “tôi khi nào chẳng thích Keats” cũng giống như nói “tôi khi nào chẳng thích thịt ba chỉ muối với trứng rán”.
Thời thế đang thay đổi. Có các khoa Anh văn mọc lên ở các trường đại học, có bài thi tốt nghiệp phổ thông, có Lộ Trình Giáo Dục[5]: đây đều là những thứ tốt, nhưng chúng có thể mang đến những kết quả không lường trước. Tôi dự đoán sẽ có một lứa người đọc và nhà phê bình mới; với họ, từ lúc đầu đời, tác văn học hay là thành tích chứ không phải là niềm vui nữa. Bên dưới cái gu đọc nhờ tập luyện mà có, họ sẽ luôn cảm nhận chút níu kéo khiến họ muốn đi giật lùi; nhưng đây là níu kéo mà họ thấy phải chống lại mới phải. Chê một cuốn sách là dở, là chưa hay lắm, với họ vẫn chưa đủ. Họ sẽ lập ra một hạng sách đặc biệt, mang nhãn nghệ thuật “bình dân”; đây là loại sách mà họ sẽ giễu cợt, kiểm dịch, chê bai, nhưng khi ốm đau hay mệt mỏi thì lại thích thú. Họ tin chắc rằng hễ cái gì được yêu thích rộng rãi thì nó là cái dở; từ đó, họ lầm tưởng rằng thẩm mỹ con người về bản chất là lầm lạc, thẩm mỹ ấy không chỉ cần được nâng cao và lớn lên: nó cần hối cải. Với họ, nhà phê bình giỏi - nói theo lối thần học - là nhà phê bình “sinh đến hai lần”, là người đã tái sinh, đã được gột sạch cái Gu Nguyên Tổ. Do không được nếm trải nên họ sẽ không có ý niệm về niềm vui tức thời đến từ tác phẩm văn học xuất sắc. Thẩm mỹ “tốt” của họ đến từ việc đổ mồ hôi; quá trình đạt đến nó thường trùng hợp với (điều này hợp lý thôi) quá trình thăng tiến kinh tế và xã hội của họ, họ sẽ bảo vệ thẩm mỹ này một cách gay gắt và căng thẳng. Họ xem thường sách đại chúng thể nào, thì họ cũng dung túng một cách ngờ nghệch như thế cho thứ văn chương nhàm chán và khó đọc của những kẻ, tuy chỉ giả danh hoặc viết lách tuỳ tiện, song lại đến trước họ với những khẳng định hùng hồn. Vì rằng văn chương nào với họ cũng khó hết, văn chương nào cũng phải học mới thưởng thức được, cho nên họ không biết phân biệt cái này với cái kia nữa. Họ sẽ nổi giận với những người yêu văn chương thật khi anh ta không thèm cố gắng giải câu đố mới ra lò trong lĩnh vực thi ca; họ gọi anh ta là tài tử. Tự do trên đỉnh Parnassus đã được họ mua bằng giá đắt; họ không thể chấp nhận được cái vô tư của những kẻ sinh ra đã tự do.
Muốn chữa bệnh này, không cần phải rút đi lộ trình giáo dục, hay các khoa Anh văn, hay đề thi tốt nghiệp phổ thông. Nếu nhận thức được nguy cơ, ta có thể ngăn chặn nó bằng dạy, bằng phê bình trên mọi mặt trận. Nếu ai đang ở thế lưỡng nan mà tôi trình bày, người ấy có thể gắng sức chiến đấu với bệnh tật trong mình. Chỉ cần đọc tập trung một chút thôi, bạn sẽ tìm thấy ở một cuốn “bình dân” những cái hay có thật, những cái dở có thật. Bạn sẽ thấy những hay, những dở ấy hoàn toàn tương đương với những hay, những dở ở các cuốn sách không bình dân. Một chút nhẫn nại, một chút khiêm tốn, là mọi việc sẽ ổn. Chính vì người ta phù phiếm, ưa học đòi cái mới, chính vì người ta lười biếng và ưa giản tiện, cho nên mới có chuyện gom lại cả trăm cuốn sách (có cuốn dở không chữa được, có cuốn lại xuất sắc), biến cái nhúm đó thành một tập hợp để ngành phê bình không bao giờ phải động đến chúng nữa. Một người không được xấu hổ khi đọc cuốn sách hay chỉ vì nó là sách dễ đọc và đại chúng. Anh ta cũng không được dung túng cho khuyết điểm của một cuốn sách dở chỉ vì nó dễ đọc và đại chúng. Anh ta phải nói: “Tôi đọc Buchan và Eliot vì cùng một lý do - tôi thấy họ viết hay. Tôi không đọc Edgar Wallace và Ezra Pound vì cùng một lý do - tôi thấy họ viết dở.” (Bạn thế tên nào vào những cái tên trên cũng được nhé.) Tôi muốn bác bỏ cách phân chia giữa bác học với bình dân không phải vì tôi muốn bảo vệ sách dở: chính cách phân biệt ấy lại bảo vệ sách dở là đằng khác. Nó không những tước đi lời khen xứng đáng cho một cuốn A hay; nó còn dạy cho các nạn nhân của nó học cách dung túng những cuốn A dở. Tại sao Tiến sĩ Richards đọc sách dở khi bị cúm[6]? Chẳng phải là vì khi ốm, ông cần một cuốn sách dễ, nhưng vì đã trót xem thường tất cả sách dễ, nên ông không còn phân biệt được sách dễ hay và sách dễ dở? Đây chính là kết quả thường thấy khi ta lập ra một giai cấp thủ đà la. Chế độ nô lệ không chỉ đàn áp những người nô lệ có phẩm cách cao đẹp; nó còn dung túng cho những hành vi suồng sã của nô lệ, vốn là những hành vi không bao giờ được chấp nhận ở một đầy tớ tự do. Những người khinh bỉ tầng lớp sản sinh ra gái điếm lại không chắc là những người giữ khỏi tội tà dâm. Quả thật, đâu thiếu những lần tôi ngã ngửa trước những người tỏ ra khinh bỉ tột cùng với nghệ thuật bình dân, những người chỉ ưng ý với thứ nghệ thuật mang cho họ ít niềm vui nhất: đâu thiếu những lần tôi ngã ngửa vì tình cờ nghe thấy họ buột miệng nói về thú đọc giải trí, những lạc thú họ nhúng tay vào khi rảnh rỗi, sau những giờ làm việc?[7]
[1] Hôn anh đi, em xinh tươi đôi mươi
[2] Nguyên văn “low brows”, để sánh với “low hearts”. Tác giả chơi chữ.
[3] Một ví dụ tuy nhẹ tội hơn nhưng sáng rõ hơn cho kiểu phàm tục này xuất hiện ở Dryden. Ông dịch Quare agite, o tectis, iuvenes, succedite nostris (Aen. i. 627) thành “Enter, my noble guest, and you shall find, If not a costly welcome, yet a kind” [Mời ông vào, hỡi khách quý của tôi. Ông sẽ thấy sự đón tiếp của chúng tôi, nếu chẳng xa hoa, thì cũng ân cần. Ở đây Dryden đã sa xuống cái gọi là “trang nhã”. Nên xem Gavin Douglas dịch câu này xuất sắc thế nào. (NC)
[4] Loại cổ cồn, xuất phát từ Eton, mà nam sinh các trường nội trú thường đeo.
[5] Lộ trình này bao gồm những nấc thang mà học sinh xuất thân khiêm tốn có thể leo lên và tiến thân bằng học hành.
[6] Xem Practical Criticism (1929), tr. 257. Tôi xin lỗi phải dẫn lại lời thú nhận của Tiến sĩ Richards. Sự thành thực của lời thú nhận ấy là thứ đáng cho mọi người học theo; còn bản thân Tiến sĩ Richards là nhà phê bình đã chắp bút cho nhiều tác phẩm mà mọi lý thuyết văn học trong tương lai sẽ bắt buộc lấy những tác phẩm đó làm điểm xuất phát. (NC)
[7] Muốn xử lý thấu đáo chủ đề mà tiểu luận này khui ra, chúng ta cần xem xét một giả thiết lịch sử. Giả thiết ấy cho rằng thời chúng ta có một nét đặc thù; nét đặc thù ấy đã tạo ra một khoảng cách lớn chưa từng có giữa Số Đông và Số Ít, nó ép gu đại chúng phải có nhu cầu hối cải. Tôi thì thấy tình hình đang như thế; nhưng tôi cho rằng phân biệt Bác Học-Bình Dân là một trong như thứ sản sinh ra nó. Nếu chưa bao giờ công chúng ít thích sách hay như hiện nay, thì cũng chưa bao giờ những người có khả năng viết sách hay lại ít nỗ lực chiều lòng công chúng như bây giờ; hoặc chưa bao giờ các cây viết ấy lại thấy họ có thể tự do xúc phạm công chúng ấy như bây giờ. Nhiều thành viên của giới trí thức hiện thời (nhiều người theo chủ nghĩa xã hội nhé) không thể nhắc đến những người kém văn hoá hơn mình mà không dùng một giọng thù ghét hoặc khinh bỉ nồng cháy. Ta đừng mặc nhiên cho rằng mọi lỗi lầm chỉ thuộc về một bên; tiếp cận vấn đề theo cách ấy là chí mạng ngay. Trong mọi tranh cãi - như luật Trời đã định rồi - bên có lý hơn sẽ là bên giảng hoà trước.
