favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

Bác học và đại chúng (1)

Đọc trước Hội Anh văn ở Oxford

Nhanh, nhanh lên. Ném Peregrine Pickle vào gầm bàn trang điểm! Quẳng ngay Roderick Random vào tủ! Nhét ngay The Innocent Adultery vào cuốn The Whole Duty of Man. Giấu ngay cuốn Ovid đằng sau gối dài - đấy, đấy. Bỏ The Man of Feeling vào túi quần đi. Đấy, để Mrs Chapone ở đâu cho mọi người đều thấy. Mở các bài giảng của Fordyce ra, đặt mở trên bàn.

SHERIDAN

 

Aristotle thường bắt đầu luận cứ của ông bằng cái mà ông gọi là “isagoge”. Isagoge là một chuỗi trường hợp riêng lẻ; mục đích của nó (khác với suy luận quy nạp của Mill) không phải là để chứng minh cho một nguyên tắc phổ quát, mà là để chúng ta thức tỉnh hơn với nguyên tắc đó. Vậy nên những trường hợp sau đây sẽ làm nên isagoge của tôi.

1. Mới cách đây vài năm, có một cô nọ được tôi làm hướng dẫn nghiên cứu. Cô có đưa ra một lý thuyết văn học có tính cách phổ quát, nhưng tôi không thể đồng ý. Như vẫn thường hay làm khi phản biện ai đó, tôi hỏi xem lý thuyết của cô có áp dụng được cho Tale of Peter Rabbit không. Cô im lặng vài phút, sau đó hỏi tại sao tôi lại đưa ví dụ như thế vào một cuộc thảo luận nghiêm túc về văn chương. Tôi trả lời rằng Peter Rabbit là một cuốn sách; cuốn sách ấy không tồi đến mức người ta có thể loại nó ra khỏi cái tập hợp mang tên “văn chương”. Cô nọ, vốn là người vừa học rộng, vừa thành thực (và tôi nhắc đến cô ở đây với sự tôn trọng tuyệt đối), không muốn gọi Peter Rabbit là một cuốn “dở”. “Vặt vãnh” là từ mà cô chọn sau cùng. Cô tin rằng các học thuyết văn học không cần phải xét đến nó làm gì.

2. Tôi nghe kể là ở một trường dự bị nọ, nội quy thư viện phân các đầu sách thành hai loại: Sách và Sách Tốt. Các em học sinh cứ mượn hai sách tốt thì được mượn một sách. Đọc sách tốt là đáng khen, còn đọc sách (không thôi) thì cũng tạm cho phép. Ấy thế mà những người lên nội quy vẫn tần ngần, chưa dám gọi các sách đối lập với “sách tốt” là “sách dở”.

3. Tôi nghe một ông hiệu trưởng trường trực thuộc[1] nọ khen các tiểu thuyết của Anthony Hope. Ông say mê kết luận: “Đó là những cuốn hay nhất trong hàng sách dở mà tôi từng đọc.” Ở đây, người ta đã dùng từ “dở”, nhưng trong ngữ cảnh này, tập hợp “dở” ấy lại chia thành hay, hay hơn và hay nhất.[2]

4. Tôi đã từng nghe - mà ai chưa từng cơ chứ - một người bình dân khen nức nở những điểm hay ở một truyện mà anh thích, thế nhưng lại kết thúc bằng một câu rụt rè: “Đương nhiên đấy không phải là văn chương đích thực.”

Qua bốn trường hợp trên, các bạn dư hiểu tôi muốn nói gì rồi. Ở cả bốn, chúng ta thấy mọi người chia sách ra làm hai loại. Người ta gán tiếng tốt cho loại thứ nhất, và gán tiếng xấu cho loại thứ hai. Vậy nhưng họ chưa dám đánh đồng sự phân biệt này với một phân biệt trắng đen hơn, tức phân biệt giữa hay và dở, giữa hay hơn và dở hơn. Với những sách bị họ coi là kém hơn, những người này thích gọi chúng bằng những tên như đại chúng, bình dân, thương mai, rẻ tiền, rác rưởi - đại loại thế. Những sách họ coi là tốt phẩm hơn, họ sẽ gọi là văn chương, kinh điển, nghiêm túc, nghệ thuật. Thời đại của chúng ta có hai tính từ gớm ghiếc - Bác Học và Bình Dân. Hai tính từ này đặt tên cho hai tập hợp trên kia, và chúng đã đánh bật tất cả các tính từ từng là đối thủ. Từ trường hợp thứ nhất, thứ ba và thứ tư mà tôi đưa ra, các bạn còn thấy rằng sự khác biệt về loại giữa sách bình dân và sách bác học là lớn đến nỗi đến sách bình dân cũng có hay và dở của riêng mình; đến nỗi tôi đòi cũng có đức hạnh và tật xấu riêng của tôi đòi; đến nỗi chúng phải được đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn đặc thù, và những gì chúng ta nói về văn chương thuần tuý sẽ không áp dụng được vào chúng.

Nhưng tôi thấy, ở phép phân biệt này, người ta đã lẫn lộn mức độ hay của một cuốn sách với cách mà nó hay. Nếu sách bình dân thật sự là một loại sách đặc biệt thì nó không thể thấp kém hơn sách bác học. Ta không thể thua một người trừ phi người đó và ta cùng bước vào một cuộc thi; ta không thể bị một người vượt mặt, trừ phi cả hai đang chạy cùng một hướng - điều này Chesterton đã nói. Hiện nay, phép phân biệt này cho mọi người thoả mãn ý muốn chê bai một số tác giả và độc giả, nhưng lại không bắt họ phải mất công chứng minh vì sao tác giả và độc giả ấy là những tác giả, độc giả tồi. Theo phát hiện của tôi, nó còn cho phép người ta vừa tận hưởng nghệ thuật bình dân, vừa tỏ ra vô ơn hoặc xấu hổ với nghệ thuật đó. Ai không dám nói “Mình đi xem phim dở đi” sẽ vui vẻ mà nói “Mình đi xem phim đại chúng đi”. Phép phân biệt này cho chúng ta được cái này mà khỏi mất cái kia.

Trong bài viết này, tôi đưa ra hai câu hỏi. (1) Liệu sách bình dân (hay cái được gọi là “sách” ở trường dự bị kia) và sách dở có là một? (2) Nếu không, thì phân biệt bác học-bình dân trên còn có ích gì nữa không?

Vừa tiếp cận câu hỏi thứ nhất, chúng ta thấy rằng ngay cả khi tất cả sách bình dân (ta gọi nó là Hạng A) là sách dở, thì ranh giới giữa bình dân và bác học - giữa Hạng A và Hạng B - vẫn không khớp với ranh giới giữa sách hay và sách dở. Lý do hiển nhiên quá: đến hạng B cũng có những cuốn dở mà. GorboducLeonidas của Glover, Fleece của Dyer, thơ sáu nhịp của Gabriel Harvey, Irene của Johnson, các bi kịch của Tennyson và sử thi của Southey: tất cả đều kinh điển, đều nghiêm túc, đều văn chương. Trong thư viện nhà trường, chắc chắn chúng được xếp vào giá các Sách Tốt, chứ không phải Sách. Thế nhưng các tác phẩm này đều dở - dở không chối được. Đứng từ góc nhìn này, ta cũng thấy ngay rằng hạng A không chỉ toàn những sách dở. Một tác phẩm thất bại sẽ không vì thất bại của mình mà được liệt vào hạng A. Nếu các sách hạng A là dở, thì cái dở của chúng là một cái dở đặc biệt, một cái dở tên A.

Thế nhưng chúng có dở hết không? Tôi chưa đọc hết các tiểu thuyết của Anthony Hope, cho nên dù trường hợp thứ ba có làm tôi muốn phân tích các tiểu thuyết ấy, tôi cũng không dám. Thế nhưng có lẽ dùng Rider Haggard cũng được, bởi sách của ông chắc chắn thuộc vào hạng A, và nhiều cuốn trong số đó là sách hay, “sách dở hay” như ông hiệu trưởng kia đã nhận xét. Trong các sách ấy, tôi nhặt ra She. Nếu được hỏi tại sao tôi đã hơn một lần sung sướng đọc She, tôi thấy tôi có đầy đủ lý do để làm thế. Thứ nhất, câu chuyện có cách tiếp cận tuyệt vời với người đọc. Trong những chương đầu, chúng ta mặc cho chủ đề chính lôi kéo mình đi qua những miền bao la của không gian và thời gian. Những gì ta sắp sửa được nhìn gần, thì trước tiên ta lại được cho nhìn theo chiều ngược qua ống kính viễn vọng. Nghệ thuật dẫn dụ người đọc đã được tác giả thi triển một cách tài tình. Ta thấy cùng một kỹ xảo này ở đoạn mở đầu Utopia, ở hồi hai vở Prometheus Unbound, ở những chương đầu của Odyssey. Thứ hai, đây là truyện nói về một cuộc săn tìm, và săn tìm thì luôn hấp dẫn. Đối tượng của cuộc săn tìm đó còn hội tụ hai sức hấp dẫn: “suối nguồn sức trẻ” và princesse lointaine[3]. Một lý do nữa nằm ở cái kết, vốn là thứ khó làm ở các truyện săn tìm. Dù truyện được đưa đến cái kết bằng những yếu tố độc giả không ngờ tới, cái kết ấy lại là một kết thúc hợp lý căn cứ vào những tiền đề tác giả đã đưa ra. Trong quá trình dẫn truyện, chi tiết tác giả đưa ra rất thuyết phục. Các nhân vật mà ông muốn thân thiện thật sự là các nhân vật thân thiện; những người ông muốn nham hiểm thực sự là những kẻ nham hiểm. Cái hay của She, như cái hay của bất kỳ cuốn sách nào, đã bắt rễ từ những quy luật căn bản của tưởng tượng. Thế nhưng có cái hay thì cũng có cái dở. Nếu She là romance chưa đạt, thì có hai lý do cho điều đó. Một là sự nghèo nàn trong văn phong; ở đây tôi không nói là Rider Haggard không tuân thủ một vài quy luật về văn viết được bịa ra một cách hoàn toàn tiên nghiệm. Tôi muốn nói đến sự lười biếng hoặc sự yếu kém đã khiến ông luôn thoả mãn với một diễn đạt mập mờ, chưa chạm đúng vào cảm xúc hay suy tưởng hay hình ảnh nằm trong ý định của ông. Thế nên suốt cuốn sách của ông là những câu chữ luộm thuộm và sáo lười. Lỗi thứ hai nằm ở những lời nông cạn và ngu xuẩn mà ông đặt vào miệng nhân vật She nhưng lại xem đó là lời khôn sáng. She, sống trong đơn độc, đã trở thành một nhà thông thái: đây là điều hợp lý thôi, và không những thế còn là cần thiết cho câu chuyện của Haggard. Thế nhưng Haggard thì không có sự khôn sáng để tuồn cho nhân vật này. Một tác giả ở tầm Dante có thể đặt nhiều điều khôn ngoan vào môi miệng bà She, một tác giả lưu loát như Shakespeare có thể khiến chúng ta tin bà là người khôn ngoan, dù bản thân Shakespeare không cần chường mặt mình ra.

Nếu phân tích của tôi là đúng, thì She không phải một cuốn “sách dở hay” theo nghĩa “sách hay trong hàng những sách dở”. Cuốn sách này hay và dở. Như bất kỳ cuốn sách nào khác, nó hay vì có những mặt hay, và nó dở vì có những mặt dở. Ai đã từng đọc nó và tìm thấy niềm thích thú, thì tức là họ đã thích những giá trị văn chương mà nó có - những giá trị văn chương mà nó có chung với Odyssey hay Life and Death of Jason. Đương nhiên, đây không phải một cuốn tốt lắm, thế nhưng vì những cái dở không áp đảo được những cái hay của nó (như đã được minh chứng bởi trải nghiệm đọc của nhiều độc giả khôn ngoan hơn tôi nữa), cho nên tác phẩm này vẫn còn hay hơn Leonidas hay Epic of Hades. Nói cách khác, cuốn này, vốn thuộc hạng A, lại hay hơn một số cuốn ở hạng B. Áp dụng phép thử nào, nó cũng cho thấy nó là cuốn hay hơn; nó cho thấy tác giả đã vận dụng nhiều kĩ năng hơn; nó làm cho độc giả sung sướng hơn; nó gần gũi hơn với bản chất của trí tưởng tượng con người; nó khiến cho người đọc nó giàu có hơn. Với trường hợp này, đánh đồng hai hạng A và B với hai tập hợp sách dở và sách hay (hoặc sách dở hơn và sách hay hơn) là một nỗ lực hoàn toàn thất bại.

Ta thử một vài định nghĩa khác cho hai loại A và B này nhé. Tôi nghĩ ngay đến lời của quý cô ở trường hợp một, người đã buông chữ “vặt vãnh” cho Peter Rabbit. Phải chăng hạng A bao gồm các tác phẩm vặt vãnh, còn hạng B là những tác phẩm nghiêm túc, nhiều sức nặng, hay quan trọng? Đại loại thì đây suy nghĩ của những người tin vào đối lập A-B, nhưng muốn xác định ý nghĩa của những từ họ dùng thì lại là việc khó. Chắc chắn, đối lập này không phải đối lập giữa cái hài và cái nghiêm túc, bởi nếu thế thì những truyện đăng trên tạp chí của các giáo phận sẽ mang nhãn B, còn Le Misanthrope [Kẻ ghét người] sẽ mang nhãn A. Mọi người có thể nói vở kịch của Moliere, tuy hài thật, nhưng lại là tác phẩm quan trọng; bởi nó chạm đến nhiều mặt của cuộc sống, nó khám phá chiều sâu của bản chất con người. Trên cơ sở đó, chúng ta diễn đạt lại mối phân biệt trên: hạng B là những tác phẩm “quan trọng” theo nghĩa vừa nói, còn hạng A thì chỉ động chạm tới chúng ta một cách phiến diện, hoặc chỉ động đến một khu vực đặc thù nào đó trong ý thức con người. Nhưng như thế thì The Importance of Being Earnest sẽ rơi vào hạng A. Đó là chưa kể không phải cuốn nào ở hạng A cũng là phiến diện, bề mặt. Các tác phẩm ở hạng này thường bị buộc cho tội “uỷ mị” hay “đa cảm”; thế nhưng cáo buộc này, khi ta chịu soi kĩ, lại thường che đậy một lời thú nhận bí mật: rằng các tác phẩm ấy đã đánh vào những cảm xúc cơ bản và phổ quát - vào đúng những cảm xúc mà các bi kịch lớn đánh vào. Ngay đến Boosey Ballad[4] của Tiến sĩ Richards, một tác phẩm không phải A nữa mà đơn giản là dở, còn đặt ra chủ đề mà đến Petrarch cũng không thể xem thường. Càng soi xét kĩ, tôi càng tin rằng bất cứ đối lập nào giữa nhiều sức nặng và tầm phào, giữa nặng và nhẹ, giữa nông và sâu - tất cả đều không trùng khít với phân biệt giữa A và B. Có bao nhiêu thứ vừa tuyệt hảo, vừa tầm phào! “Có sức nặng” và “bông lơn” là tên của hai loại văn học; ở mỗi loại, ta sẽ gặp các A tốt, A dở, B tốt và B dở. Đây chưa phải định nghĩa ta cần tìm.

Nội trong hạng văn học bình dân, tôi thấy các tác phẩm thường được phân chia dựa trên văn phong. Một người bình dân thú nhận rằng những cuốn sách anh thích không phải “văn chương đích thực”; nếu bị hỏi dồn, anh sẽ giải thích rằng chúng “không có phong cách”, “thiếu văn phong, đại loại thế”. Khi một người bình dân bị tóm lấy, bị biến thành một chàng sinh viên đại học vừa hoang mang, vừa tự nguyện một cách tội nghiệp, ta thỉnh thoảng sẽ thấy anh khen ngợi các tác phẩm lớn vì văn phong xuất sắc của chúng mặc dù anh chỉ đọc vì nghĩa vụ mà chẳng thích thú gì. Anh không nhìn ra những chỗ hài hước trong vở hài kịch, không cảm động vì vở bi kịch, không phản ứng với những khơi gợi của bài thơ trữ tình, anh thấy hồi này đến hồi khác của romance sao nhàm chán thế. Anh không lý giải được vì sao thứ mà với anh là buồn tẻ lại được truyền thống gán cho nhiều giá trị đến vậy; và vì thế, anh giải thích hiện tượng ấy bằng chính thứ mà anh ít hiểu biết nhất: nó, một thực thể bí nhiệm, có tên là Văn Phong. Cái văn phong này với anh cũng như lực thần bí với các nhà khoa học đời xưa, một asylum ignorantiae[5]. Sở dĩ anh làm vậy là bởi anh có một quan niệm sai hoàn toàn về văn phong. Anh không xem nó như là phương tiện ngôn ngữ nhờ đó tác giả sản xuất ra bất cứ kết quả nào ông muốn. Với anh, nó là cái gì đó được thêm vào, một động tác điệu đà kiểu cách tuy không bị đòi hỏi những đã được đính kèm vào cuốn sách, với mục đích thoả mãn một thứ gu “văn học” hay “phê bình” không liên quan gì đến những vui sướng thường thấy của trí tưởng tượng. Với anh, Phong Cách hay Văn Phong là một gia vị tuy vô nghĩa nhưng lại nâng tác phẩm lên bậc cao hơn - cũng như ba chữ cái Esq. đeo theo tên người đàn ông trên bì thư vậy. Cũng phải nói là những người bác học, với cách họ nói về văn phong, cũng phải chịu phần nào trách nhiệm cho những quan niệm sai lầm ở những người anh em yếu đuối của họ. Thế nhưng những người bác học ấy, trong phút họ bình tĩnh, hẳn sẽ nhận thấy “Văn Phong”, theo nghĩa mà người bình dân gán cho nó, là thứ không hề tồn tại. Khi nói rằng những đoạn mô tả đất đai ở She đã bị hoen ố vì yếu kém trong văn phong, chúng tôi không có ý nói rằng những mô tả đó là mô tả hay, mỗi tội thiếu một nét đẹp “văn chương” trừu tượng nào đó, một nét đẹp không thuộc về bản thân việc mô tả. Chúng tôi muốn nói rằng những mô tả ấy là những mô tả không hoàn hảo. Tại sao sự không hoàn hảo ấy là không hoàn hảo “về mặt văn phong”? Là vì khuyết điểm không nằm ở hình dung trong đầu tác giả, mà là ở thứ ngôn ngữ thiếu nhạy cảm và tuỳ tiện của anh ta. Chỉ cần khéo chọn hình dung từ một tí, là dãy núi xa xa đằng chân trời sẽ nổi bật hẳn lên. Chỉ cần khéo chọn ẩn dụ, thì toàn bộ bức tranh vốn đang bị lu mờ vì một biển hư ngôn sẽ lưu dấu mãi mãi trên trí tưởng tượng bên trong. Chỉ cần một nhịp câu trang nhã hơn, là cảm giác về không gian và chuyển động sẽ đến thẳng với chúng ta, chúng ta không cần phải suy nó ra từ văn bản nữa. Hãy đi từ She sang bất cứ trang nào của Eothen: bạn sẽ hiểu ngay văn phong đích thực của một đoạn mô tả là gì. Không hạng sách nào có thể “hay theo cách của riêng mình” mà không để ý ít nhiều đến văn phong. Ở nhiều cuốn, cái được tác giả diễn đạt không hoàn hảo, hoặc chỉ diễn đạt được một phần, cũng vẫn là đủ để chúng ta nhẫn nại đọc, bất chấp thất bại của anh ta. Anh ta mới làm nửa công việc; chúng ta sẵn sàng làm nửa còn lại. Đó là những cuốn khiếm khuyết về văn phong. Mà đâu chỉ có sách hạng A mới có khuyết điểm này. Scott, Dickens, Byron, Spenser, Alanus và Apuleius đều có những lỗi văn phong rất đáng chê, ấy vậy mà họ vẫn vào hạng B. Phao-lô, ngoại trừ những đoạn đẹp đến thẫn thờ, là người mà tôi xem là viết dở, thế nhưng làm sao xếp Phao-lô vào hạng A được. Donne, Chapman, Meredith, Saintsbury và nhiều người khác nữa, tôi đã đọc và đã thích; nhưng ngay ở họ, quá trình thưởng thức của tôi cũng gặp những cản trở to lớn không khác gì đã gặp ở Rider Haggard. Các bạn không cần đồng ý với các ví dụ tôi chọn, mà chỉ cần nhận thấy rằng văn phong kém (cũng như sự vặt vãnh) có ở cả sách hạng B nữa. Không thể lấy văn phong làm cơ sở phân biệt hai loại sách được.

 

[1] Nguyên văn là college. Ở nhiều đại học lớn bên Anh (Oxford, Cambridge, London), sinh viên sinh sống và học tập trong các trường trực thuộc này. Mỗi trường có một hiệu trưởng.

[2] Sau đó tôi mới biết tôi đã hiểu lầm ông, nhưng vì isagoge của tôi là để minh hoạ, không phải để chứng minh, cho nên tôi thấy có giữ nguyên ví dụ cũng được, không có gì là thiếu trung thực cả. (NC)

[3] Người đẹp trong mộng

[4] Xem Principles of Literary Criticism, chương 24.(NC)

[5] Chốn thiêng liêng của những thế lực ta không biết

Thêm vào giỏ hàng thành công