favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

Chương trình Anh văn của chúng tôi

“Tao không thích tên con bé”
“Thì có ai tính làm vừa lòng anh hồi rửa tội cho nàng đâu.”

SHAKESPEARE

Đọc trước hội Anh văn ở Oxford

Các thầy giáo thời nay đang bảo vệ giáo dục và chống lại đào tạo nghề, còn các trường đại học lại chống lại giáo dục để bảo vệ việc học thuần tuý.

Để tôi giải thích điều trên. Mục đích của giáo dục, như Milton giải thích, là đào luyện sao cho con người biết “thực hiện một cách ngay thẳng, thuần thục và đại lượng tất cả các nhiệm vụ công và tư, thuộc về chiến tranh cũng như thuộc về hoà bình”. Miễn chúng ta đừng nhấn mạnh quá từ “thuần thục”, Aristotle sẽ đồng ý với cách nhìn này. Thế nhưng ông sẽ nói thêm rằng giáo dục còn phải giúp người ta sẵn sàng cho sự nhàn rỗi. “Chúng ta chiến tranh để có hoà bình; chúng ta lao động để có được nhàn rỗi.” Giáo dục phải sản xuất ra con người tốt và công dân tốt - Aristotle và Milton không nghi vấn điều này - nhưng cũng phải nhớ rằng chúng ta không sử dụng từ “tốt” ở đây theo nghĩa luân lý mà thôi. “Người tốt” ở đây là người có thẩm mỹ tốt, có cảm thức tốt, là người biết tò mò và đáng cho người ta tò mò, gần như là người hạnh phúc vậy. Với mục tiêu đó, giáo dục ở đa số xã hội văn minh thường đi cùng một lộ trình. Qua kỷ luật trực tiếp hoặc gián tiếp, nó dạy cho con người ta lối ứng xử văn hoá. Nó đánh thức năng lực logic bằng toán học, bằng tranh biện. Nó cố gắng dạy cho người ta cảm quan đúng (cảm quan ấy, với cảm năng chúng ta, cũng giống như thói quen tốt với cơ thể người vậy) bằng cách cho học sinh thấm đẫm cả văn chương thiêng lẫn văn chương phàm vốn là cơ sở cho nền văn hoá của xã hội mà học sinh đó sống. Đào tạo nghề thì lại không chuẩn bị học sinh cho sự nhàn rỗi, mà cho lao động; mục tiêu của nó không phải là con người tốt, mà là một chủ nhà băng tốt, người thợ điện tốt, người quét dọn tốt, bác sĩ mổ tốt. Như các bạn thấy, giáo dục dành cho người tự do, còn đào tạo nghề là dành cho nô lệ: đó là trật tự ở các xã hội bất bình đẳng xưa. Con nhà nghèo đi học nghề, còn con nhà giàu lên Eton, rồi Oxford, rồi đi tour châu Âu. Khi xã hội trở nên bình đẳng (dù người ta chưa đạt được bình đẳng ấy mà chỉ nỗ lực hướng đến nó) thì chúng ta liền đối mặt với một khó khăn. Cho mọi người thụ hưởng giáo dục nhưng không bắt ai học nghề: đây là điều không thể; bởi chúng ta cần thợ điện, cần người biết mổ xẻ, và để có những người ấy thì chúng ta cần huấn luyện họ. Vậy nên lý tưởng sẽ là dành thời gian cho cả giáo dục lẫn dạy nghề. Một nguy cơ mà sự bình đẳng dẫn đến, đó là dạy nghề cho tất cả mà không giáo dục được ai; đó là ai cũng đổ xô học tiếng Pháp thương mại thay vì tiếng Latin, học làm sổ sách thay vì học hình học, học “kiến thức về thế giới ngoài kia” thay vì văn học. Đây là nguy cơ mà các thầy ở các trường phải chiến đấu, bởi nếu giáo dục bị đào tạo đè bẹp thì văn minh chết đi. Điều này nhiều khả năng xảy ra. Một trong những sai lầm cấy vào chúng ta bởi chủ nghĩa lạc quan thế kỷ mười chín, là quan điểm cho rằng nền văn minh cứ thế tự động phát triển và lan rộng. Song bài học từ lịch sử cho thấy điều ngược lại: văn minh là thứ hiếm gặp, phải khó khăn mới đạt được, và dễ mất. Mọi rợ là trạng thái bình thường của nhân loại, cũng như nước mặn mới là bề mặt trung bình của hành tinh này. Đất liền cộm lên trong trí tưởng tượng, cũng như văn minh xuất hiện nhiều trong các sách sử, là vì biển khơi và đời sống man rợ với chúng ta không thú vị bằng đất liền và văn minh. Nếu các bạn dồn tôi: “Vậy văn minh theo ý anh là gì?”, tôi trả lời ngay: nhân văn. Nhân văn này không phải là lòng nhân, mà là hiện thực hoá của ý niệm về con người. Với tôi, đời sống con người là đời sống của một loài mà các hoạt động nhàn rỗi như suy ngẫm, nghệ thuật, văn học và trò chuyện là mục đích[1], còn những thứ như bảo tồn và kéo dài sự sống chỉ là phương tiện. Chính vì thế mà với tôi, giáo dục rất quan trọng: nó hiện thực hoá tiềm năng cho cuộc sống nhàn rỗi - đời sống nghiệp dư, các bạn nói thế cũng được - vốn là đặc quyền của con người. Các bạn chắc đã hiểu ý tôi muốn nói: con người là động vật nghiệp dư duy nhất; các loài khác đều chuyên nghiệp cả. Chúng không biết đến sự nhàn rỗi, cũng không ham muốn nhàn rỗi. Con bò khi ăn xong thì nhai lại; nhai xong nó ngủ; ngủ dậy lại nhai. Nó là cái máy chuyển hoá cỏ thành bê và sữa, một cái máy sản sinh ra nhiều con bò khác. Con sư tử không thể đừng săn mồi, con hải ly không thể đừng đắp đập, con ong không thể ngừng làm mật. Chúa khiến các loài ấy câm là để thế giới khỏi rơi vào nhàm chán vô biên, bởi nếu biết nói, chúng cả ngày sẽ chỉ biết nói chuyện công việc mà thôi.

Đó là quan niệm của tôi về giáo dục. Hệ quả của nó là người thầy nắm trong tay quyền rất lớn. Anh ta đang biến đứa học trò kia thành một người tốt, “tốt” theo nghĩa tôi đã giải thích. Điều này mặc định rằng người thầy ấy đã sẵn là một con người đúng nghĩa, còn học sinh kia đang học tập để trở thành người. Đứa học sinh đó vẫn đang còn là một mớ dục vọng bùng nhùng, cần được ai đó hiểu biết hơn ra tay nhào nặn và khuôn nắn để cho nó hình người. Trong giáo dục, người thầy là chủ động, người học trò bị động.

Theo tôi, học hỏi tự nó không liên quan gì đến giáo dục. Đây là một hoạt động để con người tham gia vào - một hoạt động dành cho những người đã được giáo hoá bởi quá trình nhào và nặn trên kia. Trong số những người này - tức là trong số những con vật đã được người-hoá mặc dù về sinh học mà xét chúng chỉ là linh trưởng - có một vài người ham muốn hiểu biết. Nói đúng hơn, ai cũng ham muốn hiểu biết, nhưng một số ham muốn cháy bỏng hơn đa số còn lại và sẵn sàng hi sinh nhiều hơn để hiểu biết. Họ có thể muốn biết những thứ rất khác nhau. Có người muốn biết điều gì xảy ra cách đây một triệu năm, người khác lại muốn biết điều gì đang diễn ra cách đây một triệu năm ánh sáng; một người khác nữa lại muốn biết điều gì đang diễn ra ngay trên chiếc bàn mình ngồi, nhưng ở cấp độ hiển vi. Cái họ có chung là ham muốn học biết. Lịch sử có thể đã khác; những người này có thể cứ sống riêng lẻ trong xã hội văn minh và thoả mãn sở thích của mình mà không có sự trợ giúp, không có can thiệp của đồng loại. Nhưng lịch sử đã không xảy ra như vậy. Các xã hội đó thường tin - và đây là niềm tin khá nặng tính siêu nghiệm - rằng tri thức là thức ăn tự nhiên cho trí óc con người, rằng những người chuyên theo đuổi nó là những người rất người, rằng hoạt động của họ không chỉ đáng khen và đôi khi có ích cho xã hội, mà tự nó còn là một hoạt động tốt đẹp. Do đó mà chúng ta mới có các hiệp hội mang tên “trường đại học” - các thiết chế hỗ trợ và khuyến khích những ai toàn tâm toàn ý với sự học hỏi.

Các bạn chắc đã được nghe - nhưng điều này nhắc lại bao nhiêu cũng không thừa - rằng các trường college ở Oxford được thành lập không phải nhằm dạy dỗ đám thanh niên, mà là để hỗ trợ các thầy học cái họ chuyên học. Theo thiết chế sơ khởi, các college này không phải là cơ sở giảng dạy, mà là nơi truy cầu tri thức. Bằng chứng còn đến ngày nay cho tính chất đó, là gần như không có college nào ở Oxford phải phụ thuộc vào các sinh viên cử nhân về mặt tiền bạc. Miễn không vì sinh viên cử nhân mà chịu thiệt hại là các college thoả mãn rồi. Một trường học không có học sinh sẽ không còn là một trường học. Một college không có sinh viên sẽ vẫn là một college, thậm chí còn là chính nó hơn.

Đâm ra bản chất sinh viên và học sinh khác nhau. Sinh viên không phải là một thí sinh thi lên làm người; về lý thuyết, anh ta đã là người. Anh ta không còn bị động nữa; thầy của anh ta cũng không còn là người điều hành, chịu trách nhiệm phải làm gì đó cho anh ta. Sinh viên là, hoặc phải là, một thanh niên bắt đầu biết theo đuổi việc học hỏi vì chính nó. Anh ta gần gũi một người học có thâm niên hơn không phải để được dạy, mà là để tiếp thu được bao nhiêu thì tiếp thu. Ngay từ đầu, cả hai đã phải là hai người cùng học, cùng là sinh viên. Điều đó có nghĩa là họ thôi không nghĩ về nhau nữa, mà nghĩ về môn học. Còn ở dưới mái trường, thầy phải nghĩ cho trò; điều gì thầy nói cũng là để phát triển nhân cách hoặc mở mang đầu óc cho trò - có thầy là để biến trò thành một người “tốt”. Trò cũng phải chú ý đến thầy. Vâng lời là một trong những phẩm chất trò phải học khi ở dưới tay thầy; nếu trò đọc cuốn này thay vì cuốn khác, thì lý do luôn phải là “Vì thầy đã dặn thế”. Thế nhưng địa vị của sinh viên tiền bối không bắt anh ta phải chịu những trách nhiệm tương tự với hậu bối của mình. Việc của anh ta là theo đuổi tri thức. Nếu công cuộc theo đuổi của anh ta có ích với người bạn trẻ tuổi kia, người bạn ấy cứ việc có mặt; còn không, anh ta cứ việc ở nhà. Đương nhiên người lớn hơn có thể vì lòng yêu mến mà vượt lên trên các yêu cầu thông thường để hỗ trợ người trẻ hơn; nhưng đó là anh ta đang hành động như một con người, chứ không đơn thuần là một sinh viên ăn ở trong college nữa.

Lý thuyết là thế. Đương nhiên, thời nay, dạy học đã trở thành một hoạt động rất lớn ở Oxford. Trong học kỳ, phần lớn thời gian của tôi là dạy; trong thu nhập của tôi, tiền dạy chiếm một phần quan trọng không thua gì tiền học bổng. Chắc đa số các bạn đến đây với mục đích hoàn thiện quá trình giáo dục của bản thân, chứ không để bước vào một xã hội theo đuổi tri thức vì tri thức. Những thay đổi này cho thấy điều gì? Theo tôi, nó cho thấy quãng đời dính với học hành của người ta đã đem lại giá trị giáo dục. Học không phải là giáo dục, nhưng nó có tác dụng giáo dục với cả những người không có ý định theo đuổi việc học hành cả đời. Việc học có sản sinh ra một sản phẩm phụ như thế thì cũng không có gì lạ. Thể thao là chơi cho vui, nhưng thể thao lại cũng cho người ta sức khoẻ. Tuy nhiên thể thao sẽ không đem lại sức khoẻ nếu người ta chỉ chơi thể thao vì thể thao. Nếu chơi để thắng, chúng ta sẽ thể dục cường độ cao; còn nếu chơi cho mình, chúng ta sẽ không thể dục như thế. Tương tự, có thể các em đến đây chỉ để được giáo dục, thế nhưng các em sẽ không nhận được món quà giáo dục vốn là đặc sản của trường đại học, trừ phi - trong suốt quá trình học tập với chúng tôi - các em xem (hoặc ít nhất là giả vờ xem) tri thức vị tri thức là điều các em quan tâm, chứ không phải là giáo dục. Về phần mình, chúng tôi gần như không làm gì để góp phần giáo dục các em được. Chúng tôi mặc định các em đã là những con người, những người tốt; chúng tôi mặc định các em đã có nhiều phẩm chất đặc thù của con người, nhất là phẩm chất tò mò. Chúng tôi sẽ không phát triển nhân cách cho các em nữa; chỉ cần giúp các em nhìn thấy một phần của hiện thực là chúng tôi đã làm hết phận sự của mình rồi.

Chắc nhiều người đang tự hỏi, những điều này rồi liên quan gì đến chương trình Anh văn nhỉ. Tôi giải thích đây. Từ những gì vừa trình bày, tôi khẳng định rằng, nếu một người trai trẻ đang phân vân chọn ngành mà lại đặt câu hỏi: “Ngành nào sẽ có lợi nhất cho giáo dục toàn diện của mình nhỉ?”, thì anh ta đang đi sai đường. Hoàn cảnh có thể buộc anh ta đặt câu hỏi “Ngành gì sẽ cho mình tấm bằng để làm những công việc tốt nhất nhỉ?”, bởi nghiệt một nỗi là ai rồi cũng phải có công ăn việc làm. Đòi hỏi giới hạn lựa chọn của anh ta là đòi hỏi từ bên ngoài; một người vì nghèo túng mà không thể làm nhà thiên văn cũng như vì mù nên không thể làm hoạ sĩ. Nhưng đòi hỏi “giáo dục toàn diện” là chúng ta lại sẽ quay về những ngày còn ngồi dưới mái trường rồi. Câu hỏi đúng cho một sinh viên năm nhất không phải là “Cái gì sẽ có ích cho tôi nhất?” mà là “Tôi muốn biết cái gì nhất?” Điều gì chúng tôi mang đến cho chàng trai này cũng sẽ là vô ích nếu anh ta không chịu quên chuyện phát triển bản thân đi trong vòng ba, bốn năm, và tập trung vào việc khám phá một mảng nào đó của hiện thực như trạng thái tự có của mảng hiện thực đó.

Cụm từ “như trạng thái tự có” là cụm từ quan trọng. Thoạt đầu ai cũng tưởng rằng nếu sinh viên không thể học mọi thứ, anh ta ít nhất nên học mỗi thứ một ít. Chương trình chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp sẽ là một chương trình tổng hợp - một ít triết, một ít chính trị, một ít kinh tế học, một ít khoa học, một ít văn học. Có rất nhiều lý lẽ phản đối một ngành học như thế, nhưng ở đây tôi chỉ đề cập đến một lý lẽ, lý lẽ hạt nhân cho lập luận của tôi. Như tên gọi của nó cho thấy, môn học tổng hợp này là do ai đó tổng hợp. Những chút ít từ nhiều môn khác nhau lại không hề xuất hiện bên cạnh nhau, cũng không xuất hiện ở các tỉ lệ và trong trật tự như chương trình tổng hợp nọ trình bày. Chúng đã được dồn thành một đống bởi một uỷ ban gồm nhiều giáo sư. Những ai học hỏi thuần tuý sẽ khám phá ra những thớ, những khớp mà mỗi môn học thật có; thực tế phơi bày những điều đó cho họ. Thế nhưng uỷ ban giáo sư kia không thể trình bày từng môn học theo đúng những thớ và khớp ấy. Đã dành đời mình để học thì không ai tin ngoài thực tế tồn tại một lĩnh vực vừa cân đối vừa bách khoa đến thế. Mỗi môn trong tổ hợp trên đều dài rộng đến vô cùng, mỗi môn đều ôm lấy toàn bộ thực tế ngoài kia - đương nhiên là theo cách của riêng mình. Uỷ ban giáo sư sẽ được dẫn dắt bởi một quan niệm về cái gì là tốt cho sinh viên - một quan niệm giáo dục thuần tuý. Học ngành như thế, sinh viên sẽ không bị ném vào một lĩnh vực nào đó như nó tồn tại trong thực tiễn, không bị buộc phải lang thang trong đó, khám phá được gì thì khám phá. Trái lại, các em sẽ nhận được một tuyển tập những thứ mà các tiền bối tuyển chọn từ thực tiễn - một thứ đã nấu sẵn, làm sạch, thanh lọc và khử mùi để giáo hoá các em. Các em vẫn nắm một đầu dây cho người khác dắt, vẫn như ngày còn đi học. Phổ đọc và lượng đọc của các em không mang tí dấu ấn nào của thực tiễn hay của trí óc các em, mà chỉ mang dấu ấn của uỷ ban kia. Những lý tưởng về giáo dục của một thời, một tầng lớp và một nhân sinh quan sẽ dấu ấn lên toàn bộ đường đời của các em.

Luận điểm trên sẽ thuyết phục hơn nếu ta thử tưởng tượng xem môn học mà ta am tường nhất sẽ có thân phận thế nào khi nó phải đứng trong một chương trình đa ngành. Phần văn học sẽ bao gồm gì đây? Hiển nhiên: các tác phẩm lớn, bởi chúng ta phải lấy chất bù vào lượng. Một vài tác phẩm “kinh điển” từ văn học Pháp, Đức, và Anh chăng? Nếu đây là chương trình cho học sinh trong trường thì không gì khai phóng, không gì khai minh bằng nó. Nhưng các bạn thấy ngay, chương trình ấy không liên quan gì đến văn học như là quá trình phát triển và vận hành của nó, với những thăng trầm có thật ở một đất nước có thật. Nhờ chương trình ấy, các bạn có thể rèn luyện đầu óc và trở nên một người tốt hơn (“tốt” theo nghĩa của Aristotle), thế nhưng các bạn chưa đủ lớn để thôi cần ai đó đào luyện cho hay sao? Chưa đến lúc các bạn thử đối mặt với hiện thực trần trụi sao?

Nếu các bạn đồng ý với phản biện của tôi, chúng ta có thể ngắn gọn mà bác đi một số đề xuất cải tổ bộ môn Anh văn. Khi hỏi “Sao không học tí triết?”, “Sao không học cả văn học Ý nữa?”, “Sao không học tí tâm lý học?”, thường mọi người đang mong muốn lập ra một môn tổng hợp. Nhưng có thể họ có động cơ tốt hơn. Họ muốn học cả triết lẫn văn học Ý không phải vì những môn ấy tăng thêm giá trị giáo dục cho chương trình học, mà là bởi các tác giả Anh đã chịu ảnh hưởng từ triết học và từ văn học - những nội dung ấy chính là một phần của cái thực tiễn mà chúng ta đang khám phá.

Họ nói đúng lắm. Máu thịt của ngữ văn Anh còn bao gồm luôn lịch sử của các nền văn học Rô-măng và Giéc-manh tính từ những thời xa xưa nhất, bao gồm cả lịch sử của mọi nền văn học đã từng ảnh hưởng tới chúng ta, bao gồm lịch sử xã hội, chính trị và kinh tế của toàn bộ châu Âu, bao gồm luôn cả hệ thực vật, hệ động vật và địa chất của Đại Britain. Muốn nghiên cứu trọn vẹn văn học Anh, phải nghiên cứu luôn những thứ trên - như Hegel từng nói: muốn nghiên cứu trọn vẹn bất cứ thứ gì cũng cần hiểu biết về tất cả mọi thứ. Thế nhưng

đời thì ngắn, nghề lại lâu mới học thành,

cho nên chúng ta phải thoả lòng với ít hơn. Các bạn, chỉ học tập cùng chúng tôi trong bốn năm, còn phải thoả lòng với ít hơn nữa. Đương nhiên là phải đặt ra một giới hạn nào đó: không thể bắt chương trình ngữ văn Anh bao quát toàn bộ thực tiễn của một nền văn học được. Tuy nhiên, vẫn có một sự khác biệt giữa một bên là tuyển chọn một cách võ đoán và bên kia là cắt bỏ nhưng vẫn tuân theo những thớ gân thật có trong thực tiễn chứ không phải do chúng ta gò ép sáng tạo ra. Nếu một người không có thì giờ để học địa lý toàn bộ thế giới, ta có thể dạy anh ta địa lý Đại Britain, một khối đất liền tồn tại trong tự nhiên. Do không biết về châu Âu, cho nên anh ta sẽ không nắm được một số sự kiện về nước Anh: đó là điều ta phải chấp nhận. Phương án còn lại - phương án chọn lọc võ đoán - sẽ cho anh ta các điểm nổi bật nhất từ mọi nơi trên hành tinh này - Grand Canyon, sông Rhine, rồi đảo qua rừng nhiệt đới Nam Mỹ, vịnh Biscay và sa mạc Gobi. Phương án thứ nhất sẽ mang cho anh ta tri thức tuy giới hạn những thực chất về tự nhiên - nó sẽ cho anh ta biết một đất nước có mùi gì, trông thế nào, sinh sống và chết đi thế nào. Còn phương án thứ hai chỉ biến anh ta thành một người cưỡi ngựa dạo xem thế giới.

Chúng tôi tiếp cận môn văn học Anh theo tinh thần này. Chúng tôi thú nhận rằng chúng tôi không thể nghiên cứu toàn bộ lĩnh vực ấy, nhưng chúng tôi thà gạt sang một bên các địa hạt ở ngoại vi, các mối liên hệ xa xôi, còn hơn là phá vỡ sự thống nhất ở trung tâm. Việc trước tiên cần làm, là lược bỏ đi những năm tháng lịch sử văn học gần với phía chúng ta nhất. Lý do thì hiển nhiên rồi. Thứ nhất, chúng tôi muốn giúp sinh viên nghiên cứu những phần mà chúng tôi giúp đỡ được nhiều nhất và sinh viên cần được giúp đỡ nhất. Ở văn học đương đại thì chúng tôi lại giúp được ít nhất, các em lại cũng ít cần giúp đỡ nhất. Các em chắc hiểu thứ văn học ấy còn rõ hơn chúng tôi; nếu không thì hoặc là các em, hoặc là nền văn học ấy đang có vấn đề. Tôi không cần nói kĩ điểm này. Có gì đó mâu thuẫn trong việc biến văn học đương đại thành chủ đề nghiên cứu. Muốn thầy giúp mình đọc sách vở của các nhà văn đồng thời thì cũng như nhờ cô y tá giúp mình hỉ mũi. Hơn nữa, tác phẩm chỉ có thể được hiểu dựa trên những gì đã xảy ra trước, chứ không phải sau nó. Dừng câu chuyện giữa chừng là điều đáng tiếc, nhưng nếu đọc từ đầu, ta sẽ hiểu toàn bộ câu chuyện ấy - tức là từ đầu cho đến thời điểm nó dừng lại. Thế nhưng ta sẽ không hiểu gì nếu ta bắt đầu từ giữa. Tôi hoàn toàn tưởng tượng được ai đó phủ nhận điều này; anh ta cho rằng chỉ có thể hiểu thế kỷ mười chín bằng những ánh sáng của thế kỷ hai mươi. Nhưng nếu thế, bản thân thế kỷ hai mươi cũng chỉ có thể hiểu được qua thế kỷ hai mốt và mọi thế kỷ sau nó. Dừng lại ở thời kỳ nào đi chăng nữa, chúng ta cũng hiểu sai mọi thời kỳ; và không có lý do gì để dừng lại ở thời kỳ này thay vì ở một thời kỳ khác.

Chúng ta lược đi một trăm, hoặc hai trăm, hoặc bất kỳ số năm nào là hợp lý tính từ hiện tại trở về trước. Kiến thức còn lại vẫn là quá nhiều. Nếu hình dung môn học này như thể cái cây, ta sẽ thấy trước tiên là đất mà nó sinh trưởng: đất ấy là lịch sử xã hội, kinh tế và học thức của người Anh. Tuy nhiên chúng ta không dại gì tập trung vào chủ đề này. Theo quy định, các giám khảo có quyền ra đề trúng vào lĩnh vực ấy; nếu chúng ta bàn nhiều quá, các vị ấy sẽ giật mình tỉnh giấc và ra câu hỏi vào đề tài đó thì gay. Ta sẽ không nói thêm về đất, mà nói về rễ của cái cây. Rễ cái của tiếng Anh là tiếng Giéc-manh cổ; rễ ấy từ từ phát triển, đến khi rẽ đất vươn lên thì nó đã là tiếng Anh cổ. Một rễ nữa, không lớn bằng và không quan trọng bằng, là tiếng Pháp cổ. Rễ thứ ba, nhỏ hơn nhiều, là rễ bắt từ tiếng Latin. Đây là ba rễ cứng, ba rễ sống còn với cây này. Sau đó mới đến các rễ nhỏ hơn - chẳng hạn cọng rễ tuy bé xíu nhưng lại hấp dẫn và được xiển dương nhiều mang tên tiếng Hy Lạp. Có cả rễ từ tiếng Tây Ban Nha hiện đại, tiếng Ý hiện đại, tiếng Pháp, tiếng Đức hiện đại, v.v. Từ đây, chúng tôi có nhiệm vụ xác định đâu là những nhành rễ có thể lược bỏ mà không xâm hại đến tính chất của cái cây.

Phải cắt những rễ con thôi. Trong bốn năm không thể học hết cả ngữ văn Hy Lạp, Tây Ban Nha, Ý, Pháp và Đức. Còn nếu muốn giữ lấy một trong số đó thì phải giữ ngữ văn Pháp hiện đại. Đương nhiên, nếu được chọn nền văn học thú vị nhất trong số đó, tôi không ngại gì mà chọn ngay Hy Lạp; nhưng làm thế tức là từ bỏ giải pháp tự nhiên mà quay về chọn lọc võ đoán, từ bỏ học hỏi mà quay về giáo dục. Văn học Hy Lạp chắc chắn hay hơn văn học Pháp, thế nhưng trên thực tế, văn học Anh và văn học Pháp khăng khít với nhau hơn xa văn học Anh và văn học Hy Lạp. Nhưng ngay cả ngữ văn Pháp chúng ta cũng không giữ được: còn ba rễ lớn phải xử lý. Rễ cái, tức Anglo-Saxon, là không thể bỏ được. Người không biết tiếng Anglo-Saxon có khác nào con nít đứng giữa những người nghiên cứu văn học Anh thực thụ. Ở văn học Anglo-Saxon, chúng ta sẽ thấy chính nhịp điệu trong văn nói hằng ngày được biến chuyển thành nhịp thơ. Ở đó, chúng ta tìm thấy nguồn cội của yếu tố lãng mạn trong văn học Anh mà những người không hiểu biết cứ cố đưa ra nhiều giả thiết kỳ quặc hòng giải thích. Trong rễ này có nhựa sống làm nên thân thể của cái cây; sự sống nó mang đến lan toả đến mỗi cành, mỗi nhánh dù là xa xôi nhất. Đây là phần chúng tôi không thể cắt bỏ. Chúng tôi đã miễn cưỡng cắt bỏ tiếng Latin, tiếng Pháp cổ; nhưng nếu các bạn muốn học cả những thứ đó, tôi sẽ là người cuối cùng phản đối.

Với những giới hạn trên, chúng tôi giao cho các em một lĩnh vực như nó tồn tại trong thực tiễn. Các em đừng tin những điều người ta nói về các chuyên gia với chuyên môn hẹp hòi mà dại. Như các em rồi sẽ thấy, đối lập với chuyên gia là một sinh viên phải nô phải dịch dưới ách do ai khác chọn lọc. Giữa đất nước bao la thô tháp mà chúng tôi mở ra, các em hãy chọn lấy đường đi cho mình. Đây là súng, đây là xẻng, đây là lưỡi câu; các em hãy tự kiếm miếng ăn cho mình. Đừng đòi một thực đơn tổng hợp, bao gồm nhiều món xuất xứ từ nhiều nơi trên cả một bán cầu nữa. Các em đủ lớn rồi. Đã đến lúc các em tự đương đầu với tự nhiên ngoài kia. Vả lại ai là người mà các em sẽ tin tưởng và giao cho nhiệm vụ lên cái thực đơn kia chứ? Biết đâu, trong chính con sông mà tôi đã loại ra vì tin rằng đó là sông độc, lại chẳng có con cá ấy, con cá mà các em đặc biệt muốn, chỉ là chưa phát hiện ra? Nhưng các em sẽ chẳng bao giờ tìm ra nó nếu các em để chúng tôi tuyển chọn. Chọn lọc của chúng tôi chỉ là một nỗ lực nhằm trói buộc tương lai vào hiểu biết và thẩm mỹ hiện tại của riêng chúng tôi. Kết quả các em tạo ra sẽ không vượt ra ngoài những gì chúng tôi đã đưa vào chương trình. Cái tệ ở đây nó còn tệ hơn thế nữa kia; bởi chọn lọc của chúng tôi sẽ là một kiểu tuyên truyền. Đây là một kiểu tuyên truyền được che đậy, vô thức và có sức mạnh toàn năng. Phải đâu các em thích được bón ăn như thế thay vì tự dùng hai hàm răng mà cạp lấy toàn bộ đất nước bao la kia? Các em không biết nghi kỵ, không biết hoài nghi nữa rồi hay sao?

 

[1] Mục đích ở cấp độ tự nhiên. Sẽ là không đúng chỗ nếu tôi trình bày niềm tin của mình về mục đích siêu nhiên của con người. Đây cũng không phải chỗ cho giải thích tại sao tôi cho rằng, con người cứ việc theo đuổi mục đích tự nhiên, nhưng mục đích ấy, nếu được theo đuổi độc lập với mục đích siêu nhiên, sẽ không bao giờ được hiện thực hoá hoàn toàn. (NC)

Thêm vào giỏ hàng thành công