favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

Khoa ngữ văn Anh

Có một khác biệt lớn giữa các thần tượng trong trí óc loài người và những ý niệm của trí tuệ thiêng liêng; giữa một bên là các lý thuyết trống rỗng, còn bên kia là những dấu ấn đích thực được lưu lại trên tạo vật, y như các tạo vật ấy tồn tại trong tự nhiên.

BACON, Novum Organum, i. 23

Đọc ở buổi gặp mặt các hội Anh văn và Cổ điển học

Tiêu đề của tiểu luận này nghe thật xui xẻo: nó nhắc cho mọi người nhớ lại tiêu đề cuốn sách hay nhất của Newman. Nó xui xẻo đến hai lần kia; là vì nó không những vẽ ra cảnh đang đứng đối mặt với một tác giả vĩ đại như Newman, nó còn cho thấy triệu chẳng lành về phương diện thực tiễn. Bởi cho đến nay, đã có lời khuyên nào của Newman được áp dụng đâu. Thế nhưng tiêu đề như trên là không tránh khỏi. Quả thực, ý định hôm nay của tôi là nói nhiều nhiều về ngành ngữ văn Anh như nó đang tồn tại ở Oxford. Tôi không quan tâm đến lịch sử của nó; tôi muốn xem ngành học này như một nỗ lực tiệm cận đến một lý tưởng, và thảo luận về nó dưới cách nhìn nhận đó. Công việc của chúng tôi ở Oxford sẽ chỉ đáng cho mọi người quan tâm nếu nó cũng đồng thời chỉ ra được cái mà chúng tôi đang cố làm, hoặc phải làm được. Chúng tôi chắc chắn nhiều khuyết điểm, chúng tôi cũng không lảng tránh phê bình, miễn là phê bình ấy dựa trên hiểu biết chính xác về mục đích của chúng tôi. Quý vị có thể không đồng ý với những mục đích ấy; tôi thì có mong quý vị đồng ý. Thế nhưng xin đừng trách một người sao tiến chậm về phía bắc trong khi ý định của anh ta là đi về phương đông.

Chúng tôi không mơ hồ gì về tiếng xấu đã mang với thế giới ngoài kia. Ngôn từ mà kẻ thù dùng để nói về chúng tôi luôn truyền đạt mạnh mẽ (dù không phải khi nào cũng rõ ràng) suy nghĩ của họ - họ nói về “rừng rậm Giéc-manh”, “cái mớ ngữ văn ấy”, “định luật Verner”, “Anglo-Saxon”, và nặng hơn, “Gô-tích”. Chăm chú lắng nghe những lời ong tiếng ve ấy, chúng tôi chia chúng thành hai điệu. Có hai kiểu người, và do đó có hai cách lẫn lộn giữa một bên là “ngôn ngữ Giéc-manh” hoặc “tiếng Anglo-Saxon” với bên kia là “môn ngữ văn” hay cái gọi là “định luật Verner”. Ở nhóm thứ nhất, chúng ta gặp một con người vẫn còn tắc lại ở thời Phục Hưng, điển hình là anh chàng Ascham tội nghiệp, người tin chắc rằng hễ thứ văn học nào anh ta không biết dịch phải là thứ văn học dở tệ; nó phải là thứ văn học “Gô-tích” theo nghĩa cổ điển của từ đó. Anh ta không thích thi ca của thời Tăm Tối, thời Trung

Cổ (vì ignoti nulla cupido[1] mà) và anh ta dùng “ngữ văn” như một từ miệt thị. Anh ta không ám chỉ tí gì về bản thân môn ngữ văn cả. Ở loại thứ hai, đối thủ là người đáng tôn trọng hơn nhiều. Có thể đây là một học giả ý thức được rằng anh ta không biết ngôn ngữ trung đại nào. Anh ta không phản đối các mảng văn học chưa được biết đến: một nhân vật như anh sẽ không đời nào làm thế. Cái anh ta chống lại là môn ngữ văn so sánh. Anh ta đang mường tượng ra một môn học nhiều triển vọng; ở học môn ấy, các thanh niên sẽ được hướng dẫn nghiên cứu một cách bài bản các tác phẩm kinh điển trong văn học Anh, thêm vào đó là các tác phẩm kinh điển rút từ văn học Latin và Hy Lạp để óc đánh giá trở nên vững vàng hơn. Thế nhưng các hoạt động này rồi sẽ bị làm biến dạng, làm thui chột vì những chuyến cưỡi ngựa xem hoa vào miền ngữ văn Giéc-manh. Vị học giả này thấy rằng mối quan tâm đáng nhẽ phải dành cho Shakespeare và Johnson, nay lại bị tiêu tán vào những so sánh nhạt nhẽo giữa tiếng Anh và các ngôn ngữ cùng gốc. Anh ta không rõ vì sao tiếng Anh lại phải mang lấy gánh nặng thuần tuý khoa học và phi văn chương này. Gánh nặng ấy, dù là thích đáng hay không, đã chẳng được cột lên lưng một vài ngành khác rồi hay sao?

Đối với nhà phê bình thứ hai, nhà phê bình hữu lý, chúng tôi trả lời đơn giản như thế này. Thông tin của anh đã lỗi thời. Không sinh viên cử nhân nào ở Oxford còn phải học tiếng Đức Cao đậm tính gô-tích, cũng không ai phải học tiếng Norse, không ai phải nghiên cứu mối quan hệ giữa các ngôn ngữ trên với tiếng mẹ đẻ của mình nữa. Sinh viên Anh văn được chọn một trong ba lối đi, và mỗi lối đều có thể dẫn anh ta đến tấm văn bằng danh giá nhất. Một trong số đó quả thật là nghiên cứu ngữ văn trung cổ; chọn ngành này tức là sinh viên quan tâm đến tiếng Anh thời kỷ sơ khởi và các họ hàng của tiếng Anh ấy. Ngạch thứ hai là trung điểm giữa hai ngạch còn lại. Nó là một ngạch hơi phức tạp nhưng không can hệ tới chúng ta lúc này. Ngạch thứ ba là ngạch thuần văn chương: đây là ngạch được đa số sinh viên lựa chọn.

Nhưng cái khó là đây. Ở ngạch thứ ba, cái ngạch văn chương ấy, có ba khoá luận mà kẻ thù của chúng tôi sẽ thích gọi bằng tên “ngữ văn”. Khoá luận đầu tiên là tiếng Anh hiện đại. Chủ đề của nó là lịch sử ngữ nghĩa, xét cả cú pháp lẫn từ vựng. Khoá luận thứ hai là các văn bản Anglo-Saxon, khoá luận thứ ba là các văn bản tiếng Anh trung đại. Nhà phê bình kia sẽ không phản đối khoá luận thứ nhất đâu. Trong trường hợp anh ta dám phản đối, chúng tôi sẽ đáp trả bằng một câu hỏi đích đáng: “Thế anh có muốn các sinh viên hiểu những gì các em đang đọc không?” Bởi thực tế là thế này: khi động đến khả năng đọc hiểu tiếng mẹ đẻ của một sinh viên ngữ văn ở trình độ trung bình, thì những ai chưa có kinh nghiệm dạy ngữ văn Anh đều đang sống trong một thiên đàng của kẻ không biết gì. Không biết bao lần, đọc bài sinh viên nộp, chúng tôi đã cố lần ra nguyên do tại sao các em lại viết những câu kỳ quặc đến thế; và chúng tôi phát hiện ra rằng sở dĩ các em viết như vậy là vì đã không hiểu một nghĩa nào đó ở Milton hay Johnson hay Coleridge, cũng như cậu học trò trung học không hiểu Caesar hay Xenophon. Các nhà phê bình chắc sẽ thoả mãn với câu trả lời này. Nhưng hai khoá luận còn lại - nghiên cứu văn bản Anglo-Saxon và tiếng Anh trung đại - sẽ bị xem là “tàn dư”, là di vật của thời kỳ mà Oxford này mới bắt đầu nghiên cứu ngữ văn Anh, là “một phần của cái phần mà ban đầu vốn là tổng thể”. Người chỉ trích chúng tôi sẽ dễ coi hai khoá luận này là toán hậu quân chưa bị đánh bại nhưng thất bại của nó chỉ là vấn đề thời gian. Nhưng anh ta đừng mong thế mà vô ích: và đây là điểm mà tôi phải tranh cãi với anh ta. Một khoá luận tàn dư, nếu có, phải là khoá luận về tiếng Anh hiện đại kia. Trên kia tôi vừa đưa ra lý lẽ bảo vệ nó trước công chúng, thế nhưng sẽ là giả ngơ nếu chúng tôi không thừa nhận rằng chính khoá luận này mới là chủ đề cho anh em trong khoa chúng tôi cãi vã. Tôi là một trong những người phản đối khoá luận ấy. Thế nhưng đây không phải mối quan tâm của chúng ta trong lúc này. Tôi đề cập đến chuyện này là để cho quý vị thấy, rằng mang tính ngữ văn cao nhất phải là khoá luận này, chứ không phải hai cái còn lại; rằng hai bài còn lại không những không phải là tàn dư của một thời xưa cũ, mà trái lại còn là cốt lõi của ý niệm về bộ môn Anh văn trong hình dung của tôi.

Trước khi giải thích vì sao, tôi cần xoá bỏ hai quan niệm sai lầm. Quan niệm thứ nhất cho rằng Anglo-Saxon là một ngôn ngữ khác hẳn với tiếng Anh;  rằng - như người ta từng hay nói - tiếng Anh là ngôn ngữ thứ ba, do hai ngôn ngữ trước đó - tức Anglo-Saxon và tiếng Pháp - kết hợp với nhau mà sinh ra. Sai lầm này thô vụng tới mức một đầu óc thành kiến nhất cũng chỉ cần học tiếng lấy sáu tuần là xoá bỏ được nó. Nói như họ thì cũng như nói rằng tiếng Latin là một thứ tiếng hoàn toàn mới, khai sinh nhờ tiếng La Mã và tiếng Hy Lạp kết hợp lại. Anglo-Saxon đơn giản là tiếng Anh hồi sơ khởi. Tiếng Pháp Norman đơn giản là tên gọi của một trong nhiều ngoại ngữ đã từng làm giàu cho từ vựng của ngôn ngữ chúng ta. Những biến động khiến cho tiếng Anglo-Saxon bị tách rời khỏi tiếng Anh trung đại (như ta thường hay gọi) là những biến động đã bắt đầu từ trước khi người Norman đặt chân đến đây, và những biến động đó cũng vẫn sẽ xảy ra như chúng đã xảy ra, bất luận William có chinh phục Britain hay không. Vì phải nói ngắn gọn, tôi đành nói chắc nịch thế; song đây là vấn đề đã an bài, không ai thấy cần bàn đến nữa.

Quan niệm sai thứ hai là quan niệm xoay quanh chữ “ngữ văn”. Không có ngữ văn gì trong hai khoá luận về tiếng Anglo-Saxon và tiếng Anh trung đại hết. Đây là hai khoá luận chú trọng vào văn bản. Trong tâm của chúng là các trích đoạn cho sinh viên dịch, kèm theo các câu hỏi yêu cầu kiến thức khảo cổ học, văn bản học, văn hoá và lịch sử liên quan đến các văn bản đó. Kiến thức phải có về Beowulf hay Pearle cũng hoàn toàn tương đương với loại kiến thức phải có về Virgil hay Sophocles. Ngữ văn không xuất hiện, trừ phi bạn gọi ngữ pháp là ngữ văn. Tôi được biết có những người phê bình Chaucer nhưng đến khi dịch thì phạm phải nhiều lỗi nghiêm trọng. Họ sau đó còn xây dựng những siêu cấu trúc thẩm mỹ dựa trên một hình dung hoàn toàn trực giác, đôi khi còn sai lầm, về nghĩa mà tác giả muốn nói. Nhưng quý vị có mặt ở đây chắc đều đồng ý rằng, nếu bạn đọc một cuốn sách thì tốt hơn là nên biết từ nào đang viết ở chủ cách, từ nào ở đối cách.

Giờ chúng ta mới đứng trong vị thế tốt để xử lý câu hỏi lớn nhất. Những pho sách cũ kia rõ ràng là viết bằng tiếng Anh, nhưng đề thi chúng tôi ra lại không có câu hỏi ngữ văn nào dựa trên văn bản: vậy thì đọc những văn bản ấy để làm gì? Với người muốn đọc văn học Anh hiện đại, bắt anh ta nghiên cứu Beowulf để làm gì? Nếu ta chỉ tìm giá trị văn chương, há lại không có nhiều bài thơ, tuy khó đọc chỉ ngang Beowulf, nhưng lại hay hơn nó hay sao? Tại sao không học Iliad hay Aeneid đi? Còn nếu các anh muốn tìm về cội nguồn của văn học hiện đại, chẳng nhẽ các anh không tìm thấy nó ở La Mã và Hy Lạp? Trong số các thi sĩ lớn của chúng ta, chẳng ai biết đọc tiếng Anglo-Saxon hết, nhưng hầu hết biết đọc và đã đọc tiếng Latin, một số biết cả tiếng Hy Lạp.

Tôi sẽ bắt đầu với câu hỏi thứ hai. Trước khi trả lời, xin cho tôi thanh minh: tôi không thù hằn gì các tác phẩm cổ điển. Trong các bài thơ dài đã từng đọc, Aeneid là bài thơ tôi đọc nhiều nhất. Tôi mới đọc lại Iliad thêm lần nữa. Nếu đánh mất đi những gì tôi có được nhờ Plato, nhờ Aristotle, tôi như đi mất đi cánh tay hay cẳng chân. Tôi sẽ trả bất cứ giá nào để bị nọc ra, bị bắt học tiếng Latin, tiếng Hy Lạp. Nếu ta tranh luận về giá trị của giáo dục Hy La, tôi xin đứng về phe cực hữu cho các bạn xem. Không biết chiến tuyến cuối cùng của cuộc chiến giáo dục hiện tại là ở đâu rồi. Nhưng hãy chỉ cho tôi nó đang diễn ra nơi nao trên bản đồ chiến hào: tôi tới ngay. Tuy nhiên câu hỏi chúng ta đặt ra là liệu nguồn cội của văn học Anh có tìm thấy được ở các tác phẩm kinh điển Hy La hay không. Có lẽ, nếu câu hỏi là “nguồn cội” ở đây ám chỉ “mọi nguồn cội”, sẽ không ai, dù dốt nát đến đâu, lại đi nói Có. Cùng lắm thì những người phê bình cũng chỉ có ý nói: trong vô số món nợ mà truyền thống văn chương của chúng ta phải mang, món nợ với La Mã và Hy Lạp là lớn lao nhất, quan trọng nhất. Nhưng điều này tôi không cho là đúng.

Muốn tìm ra lẽ đúng, trước tiên ta phải gạt các triết gia và thi sĩ lớn của Hy Lạp sang một bên. Nếu bỏ ngoài những ngoại lệ như Milton và Gray, thì tính đến trước thế kỷ mười chín, các tác giả này vẫn chưa gây được ảnh hưởng đáng nói nào. Homer của Chapman, thậm chí của Pope, chỉ chứng tỏ được rằng với người Anh, Homer vẫn còn vô hình cho đến khi cuộc phục hưng của phong trào Lãng Mạn làm cho họ sáng mắt ra. Ở kịch, Seneca quan trọng hơn tất cả bi kịch gia Hy Lạp cộng lại. Trong truyền thống của chúng ta, Plato đích thực - Plato thứ thiệt - vẫn không là gì so với món thần triết học kỳ quặc mà Ficino và những người khác đặt cho cái tên “thần học kiểu Plato”. Đúng là Aristotle (dưới dạng mà Thomas Aquinas nhào lại) đã ăn sâu vào đầu óc của con người trung cổ. Thế nhưng kết quả văn chương của nó thì ở đâu nào? Đọc phê bình văn học của thế kỷ mười bảy, ta thấy ảnh hưởng của Aristotle ở từng bước nghĩ, nhưng đây lại là luồng ảnh hưởng chỉ làm công việc quậy phá mà thôi.

Đã gạt đi những cái tên khả kính nhưng không liên quan này, chúng ta phải nhắc lại tên các tác giả đã gây ảnh hưởng sâu và kéo dài suốt nhiều thời kỳ. Trong số các tác giả La Mã, đi đầu sẽ là những người mà trước hay sau giai đoạn Phục Hưng đều được ái mộ ở mức độ và theo những cách gần như không đổi. Đây là các vị vua mà nền trị vì đã khởi đầu từ trước khi Beowulf được viết ra; và nền trị vì của họ đến nay vẫn còn tiếp diễn. Họ là Boethius, Ovid và Virgil - và thứ tự này cũng phản ánh chênh lệch trong tầm ảnh hưởng của họ. Xếp ngay bên dưới họ, xét theo độ dài và độ bền vững của triều đại, chúng ta có Juvenal, rồi đến các tác phẩm đạo lý của Cicero và Seneca, Horace, Statius, Claudian, và vài người khác; mặc dù, theo truyền thống kinh viện hiện đại ngày nay, Apuleius và Pliny Chú được xếp cao hơn những người này nhiều. Trong số các tác giả Hy Lạp, những người đưa chuyện, những kho giai thoại (như Plutarch và Diogenes Laertius) là những người đứng đầu bảng. Ở vị trí số hai, chúng ta có Theocritus và các tiểu thuyết gia như Longus, Heliodorus, v.v. Họ cộng hưởng với nhau, hoà trộn kĩ đến mức không thể phân tích luồng ảnh hưởng này khỏi luồng ảnh hưởng khác. Có thể - nhưng đến đây thì tôi không dám chắc nữa - là có cả ảnh hưởng từ Tuyển tập Hy Lạp nữa.

Sau khi đã nhận dạng các tác giả có ảnh hưởng, chúng ta xét xem ảnh hưởng của họ cụ thể là gì. Nhưng điều đầu tiên phải làm rõ, là văn học của chúng ta không vay mượn nhiều hình thức sáng tác từ các nền văn học trên. Chúng ta dễ quên rằng thiên sử thi và vở bi kịch cổ điển của Milton là các ngoại lệ riêng lẻ. Những nỗ lực gieo trồng một hình thức cổ đại vào văn học Anh phần lớn đi đến thất bại. Milton là người duy nhất sinh tồn được, trong khi quanh ông bao người đã ngã - nào Cowley, nào Blackmore, nào Glover. Vở Samson còn sống đến ngày nay, nhưng Gorboduc, Cato, Caractacus thì đã ngóm. Danh sách những truyện thơ hay nhất của chúng ta sẽ có tên Troilus, Faerie Queene, Prelude, Don JuanEndymion, nhưng sẽ không nhắc tên một sử thi cổ điển nào - trừ một. Thơ trữ tình của chúng ta, ở một số thời kỳ, quả thật được tổ điểm nhờ những vay mượn từ văn học Hy La, mặc dù những vay mượn đó chẳng nhiều hơn những vay mượn từ văn học Latin trung đại, văn học Ý, và từ các tác phẩm viết bằng tiếng Pháp cổ và hiện đại. Nỗ lực lớn nhất nhằm khuôn nắn nó vào một hình thức văn học cổ đại rồi cũng chỉ để lại một hay hai bài thơ thành công của Gray - những thành công ít ỏi giữa một bãi tanh bành mang tên “các tụng ca kiểu Pindar”. Đó là chưa nói, nếu đem bản chất mọi thứ ra mà xét, thì giữa thơ trữ tình dựa vào độ dài âm tiết, với bên kia là trữ tình có vần dựa vào trọng âm - giữa hai thứ thơ này, những tương đương về hình thức chỉ là tương đương ở bề ngoài. Ngay bài hát Sumer is icumen in[2] đã cho thấy chúng ta soạn thơ trữ tình dựa trên những phát hiện nhạc tính mà người Hy Lạp chưa từng phát hiện. Tiểu thuyết, con đẻ của tiểu luận và romance; hoặc sonnet, vốn khởi nguồn từ người Provence, là những thể loại xa cách với văn học cổ đại còn hơn nữa. Nếu soi vào thể thơ châm biếm và thể điền viên, chúng ta thu được nhiều bài học hơn. Ở đó, chúng ta thấy các tác giả nỗ lực khuôn nắn tác phẩm vào hình thức văn học cổ điển nhưng bất thành; nhưng bên cạnh đó, ta cũng thấy họ đã biết mà rời xa khuôn thước đó. Mẫu mực của thơ La Mã - tức loại thơ công kích, lôi thôi và bạ gì nói nấy - đã được Donne, Hall, Marston và Churchill giữ lại, đã được Pope làm theo ở các tác phẩm kém hơn của ông. Còn các tác phẩm châm biếm xuất sắc của chúng ta lại từ bỏ mẫu mực ấy để trở thành thể loại khác - tuy vẫn là châm biếm, nhưng lại là hư cấu và sử dụng phong cách phóng đại. Các tác phẩm châm biếm ấy có lẽ vay mượn chút gì đó từ Lucian và Margites, nhưng món nợ của chúng với Rabelais và Cervantes thì lớn hơn nhiều; chính chúng về sau đã cho ra những Hudibras, Absalom, vở Rape, Dunciad, Gulliver, Don Juan, ErewhonBrave New World. Ở thơ văn đồng quê, ta nhận thấy cả hai quá trình chuyển biến này trong cùng một tác giả (không chỉ tác giả Anh). Ta cất Piscatory Eclogues đơn điệu đi và vui sướng nhặt lên Arcadia của Sannazaro. Ta bỏ lại thứ thơ điệu đà mà trống rỗng ở Shepherds Calendar để bước vào chương sáu của Faerie Queene. Chút Theocritus, pha với romance từ phương bắc xuống và thơ tình từ Provencal, đã thêm vị ngon cho ly rượu; còn như uống thẳng không pha, dạ dày ta tức thì vật vã. Chúng ta đọc Sidney và William Browne, không vấn đề; nhưng nếu không vì ăn của đút thì có ai đi mở các tập thơ thôn dã của Mantuan, Barclay và Googe ra đọc?

Có lẽ tôi đang phân tích hơi kỹ một điều hiển nhiên. Các tác phẩm hay nhất và đặc sắc nhất của văn học Anh không vay mượn gì nhiều từ văn học cổ điển. Chúng ta muốn nói đến một thứ gì đó ở tầng sâu hơn là hình thức hay thể loại cơ. Cái chúng ta muốn nói ở đây là một tinh thần, một tính khí, một thái độ được đã truyền cho nền văn học ấy. Đương nhiên, nhiều tác giả trong nền văn học chúng ta đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các tác phẩm cổ điển mà họ đọc. Chúng ta không thể mường tượng một Chapman chưa đọc các triết gia khắc kỷ, một Burke chưa đọc Cicero, một Tennyson chưa biết đến Virgil. Thế nhưng, cũng ở một mức độ tương tự, chúng ta không thể mường tượng ra một Chaucer mà không có Guillaume de Lorris, một Spenser mà không có Ariosto, một Morris chưa đọc Froissart và sử thi Edda. Nếu truy xét xu hướng ở từng tác giả một, ta không bao giờ đi được đến cùng. Điều cần chứng minh ở đây là: tinh thần của văn học chúng ta, hoặc tinh thần của các tác phẩm xuất sắc trong nền văn học ấy, hoặc của phần lớn thơ văn xuất sắc từng xuất hiện trong nền văn học ấy, đã đến gần với văn học cổ điển hơn bất cứ nền văn hoá nào khác. Nhưng điều này thì chưa ai chứng minh cả.

Thơ tình ái của Ovid, được văn hoá chúng ta dung nạp, lại trở thành thi ca của ái tình chốn cung điện. Thơ thần thoại của ông thì biến thành truyện kỳ ảo của Chaucer và Gower, thành một hệ thánh thần bị phóng dụ hoá hoặc chiêm tinh hoá của Fulgentius và Lydgate. Nó đã hoá thành các thần trong tranh của Botticelli, của Titian, của Tintoretto, thành các vị thần biểu tượng trong các kịch hoá trang, các vở ballet và kịch câm. Đến thế kỷ mười tám, các thần của Ovid đã bị trừu tượng hoá, chỉ còn là các ý niệm được tác giả viết hoa. Thế kỷ mười bốn, câu chuyện thành Troy được trình diễn cùng mũ sắt và áo giáp xích. Đến thế kỷ mười tám, người ta đeo ren và đội tóc giả mà diễn câu chuyện đó. Thơ văn điền viên, một thể loại tả chân, đã được chúng ta giật lấy từ những triền đồi của xứ Sicily, mang trở lại đất Arcadia hoàng kim và rồi khoác lên cho nó một không khí huyền ảo. Sự thay đổi mà các tác phẩm cổ điển trải qua khi chúng bước vào tưởng tượng của chúng ta chính là sự thay đổi về tinh thần, về tâm tính. Tên gọi và myth được giữ lại, nhưng đều được lãng mạn hoá, chỗ thì làm cho đen nặng hơn, chỗ thì làm cho sáng sủa thêm. Chúng ta đem cho chúng những bóng nghĩa mới, chúng ta thích ứng chúng với nhu cầu của chính mình. Đây không phải là đổ rượu mới vào bình cũ; nói đúng hơn là rượu mới đã được pha vào nhiều rượu cũ. Chúng ta không phải là một trống không bao la được các tác phẩm cổ điển điền đầy, chúng ta không phải phía thụ động được chúng tác động lên. Chúng ta có cá tính của riêng mình. Chúng ta là một tinh thần, một tinh thần cổ xưa, phức tạp và hết sức sôi động. Chúng ta du nhập những gì có thể biến thành da thịt của mình; quá trình tiêu hoá thì thật là triệt để. Quidquid recipitur, recipitur ad modum recipientis, thứ được nhận luôn được nhận tuỳ theo tính chất của kẻ nhận. Về recipiens, tức nàng thơ Anh, người mẹ của chúng ta, tôi sẽ nói thêm ở bên dưới. Như quý vị thấy, cho đến thời điểm này nhân vật ấy còn chưa bước vào câu chuyện.

Nhiệm vụ của tôi là trả lời câu hỏi mà chính tôi đã đặt: thế thì các tác phẩm cổ điển ảnh hưởng chúng ta đến đâu? Tôi e là trên kia tôi đã trót nói hơi nhiều. Nếu chúng không cho ta hình thức, cũng không cho ta tinh thần, thì trời ơi đất hỡi, chúng cho ta cái gì? Câu trả lời đơn giản lắm. Chúng cho ta chất liệu: không phải là một cách viết hay cách cảm nhận mới, nhưng là những chất liệu mới để lấy đó mà viết, lấy đó mà có cảm nghĩ. Chúng cho ta các lý thuyết và lịch sử mới lạ, các sự kiện, thần thoại, giai thoại và con người mới. Chính vì vậy mà các tác giả viết bách khoa hay chép truyện tầm phào - như Plutarch, Pliny, Diogenes Laertius, Aulus Gellius và Macrobius - lại có tầm quan trọng dường ấy. Đây mới là dấu ấn mà giáo dục cổ điển để lại trên văn học của chúng ta. Ta có thể đọc thơ văn Anh cả ngày mà không gặp một thể thơ thể văn, không gặp một cảm quan cổ điển nào, thế nhưng ta sẽ ngập ngụa trong điển tích - Acteon đã chết ra sao, những loài chim nào đã cứu viện Capitol, Agesilaus đã nói gì, Pompei đã làm gì, hiến pháp Sparta, những rắc rối hôn nhân của Socrates, hay lời khôn khéo mà ai đó đã dùng để đáp lại Alexander. Đây là những ảnh hưởng nằm trên bề mặt của văn học chúng ta, chúng là thứ ai cùng nhìn thấy. Đây là những gì mọi người hình dung ra khi họ nói rằng nguồn cội của chúng ta là Hy Lạp và La Mã.

Thế nhưng nguồn gốc của chất liệu thì khác xa nguồn gốc của cảm hứng, bởi cảm hứng mới là ảnh hưởng đích thực lên hình thức và tinh thần sáng tác. Khác biệt này trở nên rõ ràng nếu chúng ta so sánh ảnh hưởng của văn học cổ điển với ảnh hưởng của một lực khác, một lực đã chạm tới chúng ta trước thời kỳ Phục Hưng một vài thế kỷ. Trên kia tôi vừa hứa sẽ nói thêm về mẹ chúng ta, tức nàng thơ của văn học Anh, recipiens đã tiếp thu mọi ảnh hưởng theo cá tính vốn có của người. Giờ tôi phải nhắc các bạn, rằng từ lâu trước khi người mẹ kia gặp gỡ văn học Hy Lạp, người đã có một nhân tình khác, một người tình uy quyền hơn xa mà người từ bấy đến nay vẫn chưa quên được. Tôi muốn nói đến văn học Pháp cổ. Trên kia tôi đã nói, rằng các bạn có thể đọc thơ Anh cả ngày mà không gặp một thể cổ điển nào. Đây: bạn không thể một câu thơ Anh nào, trừ phi đó là thơ tự do, mà lại không gặp một thể thơ nào đó từ văn học Pháp cổ. Chính văn học này đã hất cẳng thi luật bản xứ của đất này; từ đó trở đi, chúng ta chưa thôi ngân nga điệu hát cổ xưa của Pháp. Chính văn học Pháp cổ đã dạy cho chúng ta những cảm quan, những phong cách trang nhã mà chúng ta còn dùng tới ngày nay. Nếu bạn đang đi tìm vần cho một bài limerick, nếu bạn coi bài tự sự hư cấu được viết bằng văn xuôi là một hình thức sáng tác cho văn học, nếu bạn biết nhường ghế cho một quý cô quý bà, nếu bạn biết xây một lâu đài thay vì một biệt thự trên núi, thì bạn đang sống theo những gì văn hoá Pháp cổ đã dạy. Bạn muốn cổ điển bao nhiêu thì tuỳ; nhưng bao nhiêu Pháp cổ thì bạn không chọn được đâu. Nó đã nằm trong hệ thống, trong xương. Đây mới đích thực là một ảnh hưởng. So với nó, ảnh hưởng văn học cổ điển thật là mới; ảnh hưởng ấy chỉ lưu trên bề mặt và gần như không đáng nói.

Quan điểm này, như quý vị thấy, sẽ rọi một tia sáng gây quan ngại cho vấn đề dạy và học của chúng tôi. Nếu muốn tìm về cội nguồn đích thực của nền văn học chúng ta, thì địch thủ của Anglo-Saxon không phải là Hy La đâu, mà chính là tiếng Pháp cổ. Quăng đi Beowulf, cái chúng ta điền vào khoảng trống không phải là Homer, mà là Romance of the Rose. Có hai lý do. Mức độ ảnh hưởng của thơ văn Pháp cổ là lớn hơn rất nhiều. Nhưng điểm thứ hai là thế này: loại ảnh hưởng của nó lại không phải là thứ chúng ta có thể học một cách gián tiếp. Truyền dẫn tinh thần của nền văn học này sang nền văn học khác là một quá trình có sự tham gia của những tác nhân vô hình. Nghiên cứu quá trình đó đồng nghĩa với việc nghiên cứu những đối tượng mà ta không thể tiếp cận nếu không đọc những văn bản gốc một cách lâu dài và nhạy cảm. Còn chất liệu, vốn là thứ được vay mượn từ Hy Lạp và La Mã, ta cứ học từ các từ điển cổ điển học, các sách giáo khoa lịch sử và các bản dịch là đủ. Xin đừng hiểu sai chữ “đủ” của tôi. Ý tôi không phải là sinh viên sẽ biết đủ về các tác phẩm cổ điển, nhưng các em sẽ được chuẩn bị đầy đủ về cổ điển học để học Anh văn. Các em sẽ được học những gì mà các tác giả xưa kia đã học, và học theo cách y như họ. Nhiều trang sức của văn học cổ điển đã đến trong thơ Anh từ các sách giáo khoa như Natalis Comes và Lamprière, từ các bản dịch, như Plutarch của North. Pope phát hiện ra rằng ông dễ dàng diễn lại Homer mà không cần học tiếng Hy Lạp nghiêm túc gì cho lắm.

Hoặc là Anglo-Saxon, hoặc là tiếng Pháp cổ (hoặc - nhưng đây là có thể thôi - là tiếng Latin trung đại[3]). Nếu có chọn Anglo-Saxon thì tôi cũng chọn trên nguyên tắc Quidquid recipitur trên kia đã nói. So với văn học cổ điển, mẹ chúng ta đầu phục tiếng Pháp cổ nhiều hơn. Thế nhưng người không đầu phục hoàn toàn. Vào thế kỷ mười một, người đã mang trong mình một tinh thần riêng; tinh thần ấy có sức mạnh biến hoá và đồng hoá những gì người nhận lấy. Nó thêm cho các hành vi anh dũng, vốn đến từ một văn học ngoại nhập, một tình cảm mộc mạc hơn. Tinh thần ấy đã làm cứng rắn thêm những hành vi và tư tưởng anh hùng của nó, đã làm ngơ với thói mỉa mai của nó, đã mở mang cho sự khôi hài của nó, đã làm sâu thêm nỗi sầu của nó, đã mang cho những yếu tố diệu ảo trong nó một màn sương mờ gây choáng ngợp, đã ban trọng âm cho thể thơ dựa trên số âm tiết của nó. Nhưng thế là, sau tất cả, tôi lại trở về với thơ điệp ngữ cổ xưa của chúng ta. Đây là nơi đầu tiên tôi tìm thấy một thi luật dựa trên cùng một nhịp nói mà ngay nay ta vẫn nghe người ta nói với nhau. Khi tôi đã học để hiểu thơ ấy nói gì, tôi liền có một cảm nhận ngôn ngữ, và cảm nhận ấy máu thịt với chúng ta đến nỗi những gì in sâu lên tâm tưởng của độc giả thế kỷ tám, thì nay cũng in sâu như thế lên tôi. Tôi nhận ra ngay, rằng những từ như gold, wolf, heart, blood, winter, earth mang cùng một bội âm cho họ và cho tôi. Rất Anh, Anh không chối đi đâu được. Chất Anh thuần khiết này bị nhiều người không biết tiếng Anglo-Saxon lầm tưởng là chất Lãng Mạn. Họ thích quy nó cho Cách mạng Pháp, thậm chí cho vệt máu Ken-tích chạy trong huyết quản chúng ta. Họ đưa ra những lý thuyết khiến cưỡng nhằm giải thích vì sao người Anh lại viết thơ sầu ai vào thế kỷ mười tám: họ làm vậy mà không biết rằng người Anh đã làm điều đó từ thế kỷ tám. Khi đọc về chuyến phiêu lưu trên những biển xa ở Morris hay Coleridge, họ cho rằng cảm xúc bao trùm lên những phiêu lưu đó là một đặc điểm của thời hiện đại. Họ so sánh nó với sự đơn sơ không mập mờ của Odyssey, nơi mà người anh hùng chỉ muốn một điều: về nhà. Đúng là có nét tương phản này; thế nhưng cảm xúc bao trùm của Morris hay Coleridge không phải là đặc sản của thời hiện đại. Cùng một cảm xúc ấy đã xuất hiện trong thơ Anglo-Saxon. Nó đi liền (như Wordsworth hẳn sẽ nhận xét) với tiếng chim cúc cu. Odyssey là ví dụ rất hữu ích; ta sẽ thấy được tương phản giữa nó và thi ca cổ xưa nhất của đất nước này. Grendel và những gã Cyclops[4] sẽ minh hoạ cho sự khác biệt giữa hai nền văn học. Bên này là một con quái vật đen tối, huyền bí, rất thích hợp để làm biểu tượng cho cái ác trong một bài thơ lớn; còn bên kia là một tên khổng lồ rất đời, rất tình cờ mà có, tuy là kẻ thù của người nhưng - báng bổ thay - lại là hậu duệ của thần linh. Về địa lý cũng như về tính khí, Virgil đứng giữa Homer và Beowulf. Ông chìa tay trái ra với sắc màu sặc sỡ, với sự sáng rõ của người Hy Lạp, nhưng chìa tay phải với nhà thơ Anh, người có cùng với ông cái sầu nhưng không bi quan, lòng kính sợ thành thần chưa nói hẳn thành lời, và trên hết là cảm nhận về quá khứ. Không chắc Homer đã cảm thụ được horrendum silvis et religione parentum[5], không chắc ông đã thích hình dung Latium như một Lurkwood (quia his latuisset in oris[6]), một khu rừng rậm rạp cho ai nương náu không biết. Nhưng bất cứ người Anh nào ở bất cứ thời nào cũng sẽ cảm thụ được, cũng sẽ thích hình dung như thế.

Nếu chúng ta ưu tiên gốc gác, nguồn cội, thì tiếng Anglo-Saxon phải giữ vị trí của nó trong bất cứ chương trình ngữ văn Anh nào. Vả lại, đến tầm này rồi, tôi cũng xin thông báo luôn: đa số sinh viên thích môn này. Thời xưa sinh viên không thích, nhưng thời nay thì có. Thế nhưng tính tiếp nối không phải là tiêu chuẩn duy nhất. Vẫn còn một luận cứ mà chúng tôi phải đáp trả; luận cứ ấy như thế này: “Có thể cội nguồn của văn học Anh là đúng như những gì anh nói. Thế nhưng tôi chỉ biết là thằng con tôi thích đọc Homer hơn Beowulf.” Thích như thế hoàn toàn được thôi, và đương nhiên để thoả mãn sở thích này, ta nên thuyết phục đưa trẻ học cổ điển học thay vì ngữ văn Anh. Nhưng đương nhiên ý người cha là khác kia. Vì một lý do nào đó, chúng ta không đặt ra chuyện đứa con kia học cổ điển học nữa, và thứ người cha nọ muốn là không phải là cổ điển học thay vì ngữ văn Anh, mà là ngữ văn Anh bao gồm cả cổ điển học.

Tôi sẽ bỏ qua những khó khăn thực tiễn mà đề nghị trên gây ra, mặc dù những khó khăn ấy là lớn chứ không phải không. Trong trường hợp này, câu chuyện về nguyên tắc xây dựng chương trình sẽ đưa ta thẳng đến gốc rễ của triết lý giáo dục mà mỗi người theo đuổi. Hiện nay môn ngữ văn Anh đang ưu tiên tính hoàn chỉnh và tính tiếp nối. Nói vậy có nghĩa là, khi đã chọn lấy một lĩnh vực của tri thức, chúng tôi muốn gạt sang một bên những tiểu tiết thú vị, những thứ hay hay ở ranh giới của nó. Đồng thời, chúng tôi muốn hết sức khám phá lĩnh vực ấy, khám phá cho triệt để, và khám phá dựa trên cấu trúc tự nhiên của nó. Lộ trình bao gồm Hy La, có khi bao gồm cả nhiều tác phẩm kinh điển Pháp, và kết hợp chúng với các nhà văn Anh lớn nhất - tức lộ trình mà người kia đề xuất - thì khác. Nó dựa trên một nguyên tắc khác: nguyên tắc tuyển chọn. Với chương trình thứ nhất, chúng ta đẩy đám thanh niên vào một đất nước đang bừa bộn, mặc cho các em hiểu ra được gì thì hiểu. Ở trường hợp thứ hai, ta đưa các em đến năm hay sáu địa điểm đã được các bậc cha chú xem là hay ho; song năm, sáu điểm ấy lại nằm rải rác khắp lục địa. Một bên là biết Worcestershire cho cặn kẽ, từ trong ra ngoài, nhưng không biết gì về thế giới ngoài kia nữa; bên kia là biết qua tầm bốn, năm thủ đô của châu Âu, nhưng không bám rễ được vào nơi nào trên khắp châu Âu cả. Quyết thế nào cũng không phải chuyện dễ. Một bên là lý tưởng mà Arnold đã nói: “những thứ hay nhất từng được biết đến và nghĩ ra trên thế giới”; bên kia là Spartam nactus es[7]. Đi theo cái thứ nhì, ta cô lập và quê mùa. Làm theo cái thứ nhất, ta sẽ chỉ là một du khách, lướt qua muôn nước nhưng không đứng vững được ở đâu. Người nào dốt hơn: chàng chăn cừu chưa bao giờ rời khỏi Cotswold, hay vị triệu phú xê dịch? Khách quen của quầy rót bia nhà Red Lion hay kẻ đã ngồi qua hết các phòng chờ của những Palace Hotel?

Khi khó quyết về hẳn một bên, tôi xin đề xuất một phương án thoả hiệp. Những điểm nhấn mà bậc cha chú lựa chọn cho, cũng như cái đất nước bao la mà một thanh niên tự khám phá: cả hai đều cần thiết cho sự giáo dục của một con người. Thế nhưng tôi thấy chỗ cho những điểm nhấn kia là trung học, còn chỗ cho cái còn lại là trường đại học. Chúng ta trao cho đứa trẻ nhiều chìa khoá để mở ra bốn hay năm căn nhà tri thức mà ta tin là tốt nhất: việc làm này vừa tự nhiên, vừa cần thiết. Thế nhưng để cho một người thành nhân chọn căn nhà mình muốn sống cũng là điều tự nhiên không kém. Sẽ khó nhận ra bản chất của sự thay đổi từ cậu bé thành chàng thanh niên này nếu chỉ nói rằng chúng tôi tin vào “tăng cường chuyên môn hoá”, vì rằng chuyên môn hoá ngụ ý thu hẹp lại, thu hẹp lại ngụ ý giam hãm. Đương nhiên, theo một nghĩa nào đó, một chuyên gia sẽ hiểu biết hẹp hơn một người đọc tuyển chọn “những nền văn học xuất sắc”.  Thế nhưng theo một nghĩa khác, chẳng phải anh ta lại tự do hơn sao? Bất cứ chương trình kết hợp Anh văn và cổ điển học nào rồi cũng sẽ mang dấu ấn của những lý tưởng văn hoá đặc thù của một thời, của một giai cấp, và nó sẽ đậm dấu ấn ấy ở mức mà môn ngữ văn Anh không đáng bị. “Anh văn”, bao gồm tiếng Anglo-Saxon, tiếng Anh trung đại và tiếng Anh hiện đại, bao gồm cả những giai đoạn “nhạt” lẫn giai đoạn “xuất sắc” như chúng ta hay nói: cái Anh văn này là một vật thể mà tự nhiên mang đến cho ta. Còn khoá học cân bằng Anh văn với Cổ điển như trên sẽ là kết quả do tuyển lựa của chúng ta mà có. Tuyển lựa ấy, vì nó tuân thủ các lý tưởng hạn hẹp và nhất thời của chúng ta, sẽ nghiến phải những khớp, vỉa và thớ chạy trong cơ thể của lĩnh vực. Một cái tự nhiên mà có, cái kia có được nhờ cất đặt. Và cất đặt ấy là của chúng tôi, chứ không phải của sinh viên. Chúng tôi đang làm hộ một việc mà đáng nhẽ các em phải tự làm. Chương trình Anh văn vừa hoang dã vừa gồ ghề của chúng tôi đã kết quả ra một số phát hiện thú vị. Cứ vào đó, thì chính những thời kỳ bị xem là nhàm chán và khó nghiên cứu, bị quăng đi bởi những người tín nhiệm nguyên tắc tuyển lựa nhằm dành chỗ cho những món ngoại nhập ngon nghẻ hơn: chính những thời kỳ đó ngày nay lại không còn nhạt nhẽo nữa; còn những ảnh hưởng từ kỹ thuật của thơ Anglo-Saxon thì nay lại đang xuất hiện trong thơ của các thi sĩ trẻ. Nói cách khác, bằng cách tập trung vào đối tượng học thay vì quan niệm có sẵn, chúng tôi đang hiểu biết thêm lên. Chúng tôi ngày nay biết nhiều hơn mình từng biết, và hẳn điều này đã không xảy ra nếu chúng tôi chỉ bắt đầu từ một mớ những thứ “hay nhất” từ hai, ba nền văn học. “Hay nhất” sẽ là những thứ mà một uỷ ban gồm bốn, năm ông thầy cho là hay nhất dựa trên truyền thống mà họ cùng được dạy dỗ. Giá làm theo cách ấy, hẳn chúng tôi đã toàn quyền định hình lối đi cho tri thức và gu văn học của thế hệ tương lai dựa trên gu văn học và sự thiếu tri thức của chính chúng tôi. Một lĩnh vực được định hình theo cách ấy làm sao mà phát triển được. Ta ném gì vào lĩnh vực ấy thì nó cũng chỉ cho ra từng ấy, và mọi bước tiến đích thực trong hiểu biết của chúng ta về ngữ văn Anh sẽ được thực hiện bởi những người khác - những học giả riêng lẻ nhưng đích thực, đang ngạo nghễ làm việc độc lập hoàn toàn với chúng ta ở một nhà xứ nông thôn hay một nhà trọ nào đó ở London.

Đó là suy nghĩ của tôi về chương trình ngữ văn Anh ở trường đại học. Vì suy nghĩ của tôi là thế, nên tôi thấy các tác phẩm cổ điển không có chỗ trong chương trình đó. Có cần phải nói thêm là tôi có muốn các sinh viên biết cả Latin lẫn Hy Lạp nữa? Thế nhưng các em không nên đến khoa Anh văn để học các thứ tiếng ấy. Nếu trước khi đến với tôi các em trót chưa học, thì tôi muốn các em học sau khi đã xong xuôi với tôi. Càng ngày, những năm tháng sau-đại-học của sinh viên càng dài ra, thế nên nếu ai đề xuất cho các em học thêm Hy La trong quãng thời gian đó, người ấy sẽ được tôi ủng hộ hết mình. Để điều đó thành hiện thực, tôi sẵn sàng cắt bỏ đi bao nhiêu cũng được cái lượng thời gian bị cúng cho hoạt động mà ngày nay người ta gọi là “Nghiên Cứu”.

 

[1] Người ta không ưa thứ mình không biết

[2] Một bài hát Anh thời trung cổ.

[3] Sau khi đã suy xét thêm, tôi thấy tiếng Latin trung đại cũng nặng ký ngang với tiếng Pháp cổ. Nhưng hiện tại, giao cho sinh viên các văn bản Latin trung đại liên quan đến môn học sẽ là làm khó các em, còn để dịch ra tiếng Anh thì gian nan lắm. (NC)

[4] Về điểm này, hãy tham khảo Beowulf: the Monsters and the Critics, một tác phẩm không th??

Thêm vào giỏ hàng thành công