favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

William Morris (2)

Nhưng rồi Morris từ bỏ ngay những ý tưởng này. Với người yêu thích tính “phương Bắc” như ông, các vị thần Edda xấu số - mẫu mực cho tư tưởng lãng mạn khắc kỷ - có sức hút rất mãnh liệt. Thế nhưng Morris vẫn ghi nhớ rằng ông thực ra không biết các vị thần như thế có tồn tại hay không; ông thấy toàn bộ hình dung của mình đang ngày càng giống một triết lý, một hệ thống thần học. Nhưng ông thì không muốn đưa thế giới của mình vào một hình thái giản tiện nào. Thế nên ở các romance văn xuôi - đỉnh cao của các trước tác Morris - ta mới về được với một thứ thật hơn nhiều. Câu trả lời cho “những ý nghĩ tru tréo, dù chưa thành hình” lại nằm ở đời sống thường nhật, ở sức khoẻ, ở việc bảo vệ nhân quần. “Họ hàng”, “gia tộc” hay “những miền đất nhỏ” trong các romance là điểm giao giữa Morris nhà chủ nghĩa xã hội và Morris nhà văn. Bởi Morris - về điều này chúng ta không nên mơ hồ - theo một nghĩa nào cũng là một “nhà toàn trị”, cứng rắn không thua gì một nhà toàn trị mà Moscow hay Berlin có thể sinh ra. Chủ nghĩa xã hội lãng mạn của ông - nếu nó là lãng mạn - sẽ nằm ở cực đối lập với chủ nghĩa cá nhân ở Shelley hay Tom Payne. Ông nhúng ngập cá nhân vào xã hội. Ở House of the Wolfings, nữ chính hỏi: “Nếu hôm nay anh chết đi, tình yêu của đôi ta đi đâu?” Trả lời: “Tình yêu ấy sẽ còn lại trong hồn linh nhà Wolfing.” Thành viên của bộ lạc không thể “nhìn thấy” cái “đêm đen của lỗ huyệt”, nhưng anh ta thấy “câu chuyện về nhà Wolfing rồi đây sẽ được kể ra”, anh ta thấy chính mình “ở trong câu chuyện ấy, mãi tái sinh và tái sinh”. Tâm thế này ngược lại tâm thế của những người lùn gặp phải lối mê, của người mà linh hồn bị tách rời khỏi quyến thuộc - “Tôi không yêu họ, chẳng thuộc về họ, và chẳng có gì ở bên ngoài tôi: ở bên trong tôi là thế giới.” Tôi đã in nghiêng những chữ cuối cùng đó; chúng chính là phân tích sắc bén mà Morris nhắm vào chất độc nằm bên trong một kiểu lãng mạn chủ nghĩa: chất độc ấy là thói nuông chiều bản thân, tính chủ quan, là au moins je suis autre[1] - một tiếng thét khiêu chiến hèn kém. Riêng ở đây, Morris không có gì phải học từ thế kỷ của chúng ta; nói cho đúng, ông xứng đáng dạy dỗ chúng ta. Nhiều nhà xã hội học viết sách vở nhàm chán vì họ tuy có nói về sự phân phối mọi thứ tốt (goods) cho công bằng, không ai trong họ cho ta thấy họ hiểu cái Tốt (Good) là như thế nào. Biết đâu thứ vàng được họ phân phối thật bình đẳng ấy lại chẳng là vàng cổ tích, để rồi khi đêm tan và ánh sáng ban ngày chiếu rọi, vàng ấy lại hoá thành những tem phát cháo, những lá phiếu bầu. Dùng yếu tố đồng quê trong văn học là để tìm ra và minh hoạ cho cái tốt - để mang giá trị thật cho ẩn số x mà môn đại số chính trị có thể tiếp quản và xử lý. Những xã hội bộ lạc mà Morris khắc hoạ trong House of the Wolfings hay Roots of the Mountains là những nỗ lực về phía đó, để tìm cho x một giá trị. Như Burke, như Tolstoy, Morris biết cụ thể mình muốn gì. Thi sĩ tả khuynh ngày nay vừa ngợi ca cảnh đoàn kết mà Morris từng ca ngợi, vừa mời mọc con người ta trở thành “một bánh răng trong tổ ong vàng đang ngân nga tiếng hát”. Nhưng Morris ngược lại; ông khắc hoạ những diễn biến cụ thể trong trời sống công xã: gieo, trồng, sinh đẻ, xây dựng, thuỷ lợi, ăn uống và trò chuyện. Mặc cho thi sĩ hiện đại kia (vì vô tình hoặc vì đang cố sáng tạo một nghịch niệm sống động nhưng không sáng tạo nổi) cố gắng chắp nối hai ẩn dụ xoàng xĩnh nhất của dân báo chí; mặc cho anh ta cố đi sâu, nhưng không sâu hơn cái sôi nổi của một cuộc mít-tinh - Morris, từ Mirkwood xa xôi và Burgstead không có trong lịch sử, Morris ấy đã tạo ra một cảm quan mà người ta có thể nương theo để sống. Theo một nghĩa nào đó, ông cũng nhiều lý tưởng như Shelley, nhưng theo một nghĩa khác thì ông lại đứng trên mặt đất, lại thực tế như Aristotle hay Johnson vậy. Ở đâu ông cũng cụ thể. “Vĩnh sinh trong nhận thức chủ thể” của Comte hay “lòng đại từ” của Godwin chỉ là các tiên đề triết học. Còn sự sống sau sự sống, sự sống trong hồn linh của gia đình Wolfing: chính đây mới là một thứ cụ thể và có thật, và được như vậy là bởi ta biết các thành viên của nhà Wolfing ấy và có cùng cốt nhục với họ. Morris kể về một thứ ông đã thử và thấy là tốt lành.

Tôi vừa nói đến cái bùa mê đã khiến một nam chính của Morris tách ra khỏi khối hiệp một nói trên. Điều đáng nói là sức mạnh phù chú ấy đến từ “tấm giáp do người lùn dệt”. Nó không cho sự chết phạm vào nhân vật. Sức cám dỗ của nó và sau cùng là sự chối bỏ nó: đây là chủ đề chính của House of the Wolfings: xung đột giữa nỗi sợ về cái chết và tình cảm dành cho gia tộc đã nổi lên rất rõ ở đây. Nếu mối quan tâm chính của Morris chỉ là nỗi sợ cái chết thì romance của ông hẳn đã thanh lý được xung đột này; vì rằng trên bình diện này, ông chỉ cần cho thấy chết và sống bên những người máu mủ là hạnh phúc hơn bất kỳ điều gì ở trong hay ở ngoài thế giới này. Tuy nhiên, nỗi sợ chết chưa bao giờ là mối quan tâm chính ở Morris. Nó chỉ là một khía cạnh của một thứ hoàn toàn khác, một cái gì đó khó khoả lấp hơn nhiều: khát khao có thật, khát khao nồng nàn được bất tử. Thế nên giải pháp chỉ là nhất thời được thôi; và ở các romance sau đó, niềm say mê hư đốn này vẫn cứ trào lên - và nó trở thành mãnh liệt vô song dưới ngòi bút của nhà văn tuy già nhưng không mệt mỏi. Ở các romance về sau, những đòi hỏi của bộ lạc không bị lãng quên, còn chàng trai trẻ - kẻ đi đến tận cùng thế giới để uống nước từ hồ sự sống - thì đi tìm con hồ đó và từ hồ trở về với quyết tâm ngày nào đó sẽ an cư một chỗ và trở nên một vị vua hiền minh trong đất nước nhỏ bé của mình. Lang thang đến mấy thì lang thang, chúng ta không được để phai mờ tình yêu dành cho “trung đội nhỏ bé mà ta thuộc về”. Ở đây, ta thấy không còn xung đột giữa sự say mê đời sống hữu hạn và mong muốn bất tử: hoá ra cái thứ nhất lại nằm trong cái thứ hai. Ta không thể không ước ao tuổi trẻ và đời người cứ kéo dài mãi mãi; thế nhưng đây có phải là thứ cho con người ước ao hay không? Từ lâu trước đó, ở Jason, Morris đã ám chỉ rằng mọi thứ ngọt ngào của sự sống này sở dĩ có được chính là nhờ sự chết, cái sự chết đã đẻ ra bao nhiêu đắng cay mà trút vào sự sống. Morris đã va vào mà không biết một biện chứng về dục vọng trong bản chất con người, thứ dục vọng khiến người ta không thể đừng muốn cái “vô hạn xấu tệ”, cái vô hạn mà vừa là nỗi kinh hoàng, vừa là sự hành hạ. Ở Story of the Glittering Plain, miền đất của những kẻ không chết cuối cùng cũng được tìm ra, thế nhưng hoá ra nó lại là một nhà tù tráng lệ. Ở đó, nhân vật chính nhận ra “cái không thật của miền đất không biết đến đổi thay này”: sống giữa nhân dân “yếu mềm và tươi tắn” của đất nước ấy, anh “nhớ ngôi nhà của tổ tiên, nhớ những người cầm giáo, nhớ lưỡi cày”. Tương tự, ở Well at the World’s End, người dân xứ Thanh Bạch (hãy để ý đến tên gọi của họ) đã chẳng nói rằng “các thần ban cho chúng tôi sự chết, kẻo đến lúc chúng tôi mỏi mệt vì sống”.

Nếu tác giả được bàn đến là người khác chứ không phải Morris, ta sẽ xem đây là kết luận cho tất cả. Thế nhưng ở Morris chẳng bao giờ có kết luận. Các dục vọng đối lập cứ thay phiên hoá thành đối lập của chính nó, bị ru ngủ và rồi lại tỉnh giấc; ta giành được trạng thái cân bằng, nhưng rồi mất ngay trạng thái ấy. Mọi sự cứ luôn luôn bắt đầu lại từ đầu: câu chuyện là điệu nhảy, chứ không phải sơ đồ. Cũng như trải nghiệm của con người, làm sao có thể tổng kết, dán nhãn rồi nhét nó vào một cách ngôn? Duy có một cảm nghĩ là không thay đổi và đạt đến mức độ vững chãi của một học thuyết. Morris tin chắc rằng con người ta phải cần lao vì ruột thịt và “yêu đất, yêu thế giới bằng trọn vẹn linh hồn”. Đây là bệ thờ ở chính giữa, còn điệu nhảy cứ thế lui tới xung quanh bệ thờ ấy. Niềm mê say thế giới và trái đất phải dụ cho người ta thả buồm đi tới tận cùng của thế giới, của trái đất ấy. Nhưng ai đã ra đi cũng phải đứng trên mặt bể không thấy bờ mà nhận ra rằng mình đã bỏ lại nguồn hạnh phúc duy nhất. Nhưng về tới nơi, người ta lại thấy hạnh phúc một lần nữa nhuộm mật đắng của sự chết, và vì thế lại tiếp tục mong mỏi. Mà dẫu người ta có tìm ra thứ mình hoài vọng, thì phát hiện đó có khi lại là sự huỷ hoại mà dục vọng gây ra, chứ không phải là hoá giải dục vọng đó. Nhưng chúng ta không thể vì thế mà thôi khao khát. Sự đi tới đi lui này có quá nhiều bất thường, quá nhiều màu sắc, đến nỗi không thể đem so nó với vòng pháp luân đơn điệu của Phật giáo. Vòng tròn này quá đẹp, không thể gọi nó là vòng luẩn quẩn được: hễ khi nao đời đủ nhàn rỗi và có nguy cơ sa vào chủ nghĩa bi quan, thì câu trả lời Morris rút ra luôn luôn thức tiễn, anh liệt và hợp tình hợp lý. Cũng như thế giới của Morris không thể nào giản tiện và tóm tắt được, bản thân nhà văn cũng không để ai định nghĩa mình. Chúng ta đặt cho ông tên gì đây? Một người chủ nghĩa lạc quan nhiều tưởng tượng - một con người mà điểm yếu là thèm khát một đám mây tô màu - một người huyền bí tiềm tàng nhưng bị kiềm chế bởi tình yêu xác quyết mà ông dành cho thế giới xương thịt này: tất cả định nghĩa này đều sai, tất cả đều trình bày một quá trình đang trong giải quyết như thể nó là một trạng thái cố định. Tốt hơn, ta nên đơn giản xem ông là một người kể chuyện giỏi; một người đã tái hiện toàn bộ đời sống đúng theo bộ dạng tự nhiên mà nó có và tái hiện đời sống ấy trung thực hơn bất cứ nhà văn nào.

Tấm lòng tin kính mơ hồ, nửa cơ-đốc, nửa phiếm thần của thế kỷ trước giờ đã không còn. Thế giới văn chương hiện đại ngày càng phân chia thành hai phe, phe của những người cơ-đốc hiếu chiến và phe của những nhà duy vật xác quyết. Morris có thể đóng một vai trò vô giá bằng cách ngăn chúng ta khỏi đi đến chỗ chia rẽ, bởi cả hai phía đều tìm thấy được ở ông cái họ cần. Sức hút của nhà văn ngoại giáo này đối với người cơ-đốc thì đã quá rõ ràng. Không ai phát biểu rõ ràng cho bằng Morris cái lưỡng nan giữa các dục vọng của bản tính người và những đức hạnh cũng nằm trong bản tính người, tức lưỡng nan làm điểm xuất phát cho mọi tôn giáo giàu tính triết lý, tức câu hỏi mà mọi thần học phải trả lời. Morris lại càng đáng trân quý chính vì ông chỉ dừng lại ở việc đặt vấn đề. Tác phẩm của ông là thứ trái tươi rói của trải nghiệm không tì vết, không bị hoen ố vì lý luận. Năm 1882, trong mạn đàm với William Allingham, khi được hỏi “về chuyện tin Chúa hay không tin Chúa”, ông đáp rằng “Chuyện ấy rất không quan trọng”. “Cố gắng thế nào đi nữa,” ông nói tiếp, “ta cũng chỉ đi tới ngôn từ.” Sự hoài nghi này - sự hoài nghi chân thật, không hề thầm kín thiên lệch về phía tiêu cực - đã giữ cho phát biểu về trải nghiệm ngoại giáo của ông được thuần khiết. Giá như ông xuất phát từ ý niệm Đời Đời, hẳn ta sẽ ngờ cho biện chứng thời gian mà ông mở ra là biện chứng ăn gian. Thế nhưng sự hé mở đó xông tới ông; nó đã kết quả từ việc ông tuân thủ khao khát trong mình. Ông không biết học thuyết mà mình đang ủng hộ là gì hết. Thế nên ông đã trở thành một nhân chứng ngoại giáo tuyệt vời - một nhà tiên tri không biết mình tiên tri, và do đó đứng trên mọi ngờ vực, y như con lừa của Ba-la-am vậy. Với các độc giả tả khuynh: họ sẽ không thấy tác dụng trực tiếp của Morris về mặt chính trị đâu. Quan niệm về cái tốt cho nhân quần của Morris là quan niệm bám rễ sâu vào nông nghiệp, thủ công và gia đình đến nỗi không thể đem nó áp dụng vào một xã hội lý tưởng của thời hiện đại. Thật ra, cái gì lôi cuốn người cơ-đốc, thì chính cái đó cũng lôi cuốn người tả khuynh thôi. Cánh tả và Morris đều đồng ý rằng cần lao vì hạnh phúc con người là nghĩa vụ tuyệt đối. Thế nhưng đừng quên rằng thời khắc hạnh phúc nào cũng biến tan vào đúng thời điểm ta đạt được nó; rằng dẫu được hưởng hạnh phúc đi chăng nữa, người ta vẫn phải chết; rằng cả loài chúng ta và cả hành tinh này nữa, đến một ngày nào đó, sẽ phải nối gót từng cá thể mà bước vào một trạng thái tồn tại hoàn toàn vô nghĩa - một vũ trụ đơn chất, không sự sống nhưng chuyển động đều ở nhiệt độ thấp. Cánh tả chỉ tự dối lòng nếu họ cho rằng, chỉ cần hăng say với mục đích trên là họ có thể dẹp yên suy nghĩ này. Cho đến nay những người tả khuynh vẫn làm như chuyện này chẳng hề hấn gì. Có thể họ từ lâu đã sợ “những nghĩ suy tru tréo dù chẳng có hình thù”; bởi những suy nghĩ đó sẽ tất yếu dẫn đến một chủ nghĩa bi quan gây tê liệt, được tóm gọn trong câu “Nhiều người nói: Ai sẽ cho chúng ta thấy phước?” Còn tâm lý học hiện đại thì dạy chúng ta không nên chọn một dồn nén tâm lý khổng lồ (như của cánh tả) làm cơ sở cho một đời người, chứ chưa nói một nền văn minh. Đây, đây là chỗ mà Morris sẽ có ích cho họ. Ở Morris, họ sẽ tìm ra một tín lý chính trị tương đồng với họ (trên nguyên tắc). Họ có thể vừa giữ tín lý đó, vừa một mực từ chối vẽ “vệt đen trên tấm khiên của con người”. Morris sẽ chỉ cho họ đúng thứ họ đang cố lấp liếm, nhưng ông sẽ không bắt họ phải rút ra câu kết luận khiến họ hãi hùng (và có hãi hùng thì cũng là đúng thôi). Ông thậm chí sẽ cho họ thấy, rằng cái khao khát đối với sự bất tử này - khao khát thật là sống động và chuyển dịch không ngừng cùng với với phép biện chứng về chính nó - sẽ mang đến một động lực mạnh mẽ hơn cho những nỗ lực của họ. Nó sẽ mang tới kiên cường hiên ngang trong thất bại, và sung sướng thêm nhiều cho chiến thắng.

Là bởi Morris đã dám “đối diện thực tế”. Đây là nghịch lý ở ông. Ông như rời xa đời thật để dựng xây một thế giới rút từ ước vọng của chính mình. Thế nhưng khi ông hoàn thành, kết quả ông tạo ra là một bức tranh tuyệt đối trung thành về trải nghiệm con người. Chẳng đầu óc đã thành nhân nào lại muốn chỉ bi quan hay chỉ lạc quan - một cái là triết lý của nhà trẻ, cái còn lại là triết lý nghe được ở phòng khám. Trí tuệ trưởng thành muốn, trong cùng một viễn cảnh, cả cái ngọt ngào điên dại lẫn cái u sầu tan nát của trải nghiệm làm người; nó muốn thấy cái này chuyển thành cái kia; nó muốn kết hợp ngọt và đắng đó với một tín lý thực tiễn truyền cho ta sức sống. Nó muốn thu nhận “thông tin trải nghiệm” mà tất cả viễn du của chúng ta - dù là trong thế giới này hay nằm ngoài nó - ôm trọn lấy. Có nhiều nhà văn còn lớn hơn Morris. Từ Morris, các bạn có thể bước vào muôn lẽ sâu xa, muôn lẽ tinh tế và đủ thang bậc khác nhau của sự cao cả. Các bạn có thể từ ông mà tiến xa hơn, lên cao hơn; nhưng không ai có thể đi vòng ra sau lưng ông hết.

 

[1] ít nhất tôi cũng không giống bao kẻ khác

Thêm vào giỏ hàng thành công