favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
Pan
Next

Chương V

 

Tôi có nên viết tiếp không nhỉ? Không, không. Viết tí cho vui thôi, và vì việc kể chuyện hai năm trước mùa xuân đến thế nào, lúc đó mọi thứ trông ra sao giúp tôi giết được thời gian. Đất và biển bắt đầu hơi có mùi; mùi ngòn ngọt, mục nát của lá cây chết trong rừng, và lũ chim ác là mỏ cắp cành con bay về xây tổ. Thêm đôi ngày nữa, rồi nước suối bắt đầu dâng lên và sủi bọt; đây đó thấy một con bướm, và đám ngư dân đang trở về nhà. Hai con thuyền của người buôn bán trĩu nặng cá về bến, thả neo trên đất đang khô; cuộc sống bất chợt sôi động trên hòn đảo lớn nhất, nơi cá sẽ được phơi khô trên các tảng đá. Tôi có thể thấy tất cả những điều đó từ cửa sổ nhà tôi.

Nhưng không có ai mang tiếng ồn ào vào túp lều của tôi; tôi chỉ có một mình, và vẫn chỉ có một mình. Thỉnh thoảng lại có người đi ngang qua. Tôi thấy Eva, cô gái của người thợ rèn; cô có mấy nốt tàn nhang trên mũi.

“Em đi đâu đấy?” tôi hỏi.

“Đi lấy củi,” cô lặng lẽ trả lời. Bàn tay cô nắm sợi dây thừng kéo củi, đầu quấn khăn trắng. Tôi đứng nhìn cô, nhưng cô không quay lại.

Sau đó tôi không thấy ai nữa trong nhiều ngày.

Mùa xuân vẫy gọi, khu rừng lắng tai nghe; thật vui khi được xem bọn chim hét đậu trên ngọn cây vừa kêu vừa chòng chọc nhìn mặt trời; đôi khi mới hai giờ sáng tôi đã thức giấc, chỉ để chia sẻ niềm vui với chim muông lúc rạng đông.

Hình như mùa xuân cũng đến với tôi, vì đôi khi dòng máu trong tôi đi rầm rập như những bước chân. Tôi ngồi trong lều, nghĩ đến việc xem xét cần và dây và dụng cụ câu cá, mà không động đậy dù chỉ một ngón tay để làm bất cứ công việc gì, vì suốt khoảng thời gian ấy lúc nào sự bồn chồn vui sướng, bí ẩn cũng ra vào trái tim tôi. Rồi bất thình lình Æsop nhảy bật dậy, đứng im bất động, sủa lên một tiếng ngắn. Có người đến ư! Tôi nhanh chóng kéo mũ khỏi đầu, và nghe giọng Edwarda ở ngoài cửa. Một cách tử tế và không khách sáo, cô và ông Bác Sĩ đến thăm tôi như đã hứa.

“Có,” tôi nghe cô nói, “anh ấy có nhà.” Cô bước tới trước, chìa bàn tay cho tôi theo cái cách con gái giản dị của cô. “Hôm qua chúng tôi đến, nhưng anh không có nhà,” cô nói.

Cô ngồi lên tấm mền trên cái giường gỗ của tôi và nhìn quanh túp lều; ông Bác Sĩ ngồi xuống bên cạnh tôi trên băng ghế dài. Chúng tôi chuyện trò, thoải mái tán gẫu; tôi kể chuyện cho họ nghe, nào trong rừng có những con vật gì, nào mùa này cấm không được bắn con gì. Lúc đó đang mùa cấm không được săn bắn gà gô trắng.

Lần này ông Bác Sĩ cũng không nhiều lời, nhưng khi trông thấy cái sừng đựng thuốc súng có khắc hình thần Pan của tôi, ông ta khởi sự giải thích thần thoại về thần Pan.

“Nhưng,” Edwarda bất thình lình nói, “anh lấy gì sống trong mùa người ta cấm săn bắn tất cả các loại thú săn?”

“Cá,” tôi nói. “Chủ yếu là cá. Nhưng lúc nào cũng có cái gì đó để ăn.”

“Nhưng anh có thể đến ăn ở chỗ chúng tôi,” cô nói. “Năm ngoái có một người Anh đã đến đây – ông ta cũng ở trong túp lều này – và thường đến ăn ở nhà chúng tôi.”

Edwarda nhìn tôi và tôi nhìn lại cô. Khoảnh khắc ấy tôi cảm thấy có cái gì đó chạm vào trái tim tôi như lời chào đón khẽ khàng thoảng qua. Đó hẳn đã là mùa xuân, và ngày tươi sáng; từ đó tôi cứ nghĩ mãi về chuyện này. Tôi còn khâm phục hai hàng lông mày cong của cô nữa.

Cô nói điều gì đó về nơi tôi ở; về cách tôi sắp xếp đồ đạc trong lều. Tôi đã treo da và cánh của vài loài chim muông lên các bức tường; túp lều cứ như cái hang thú xù xì. Nhưng cô thích nó. “Phải, một cái hang thú,” cô nói.

Tôi không có gì mời hai vị khách của tôi mà họ sẽ thấy thích; tôi nghĩ đến chuyện này, và sẽ nướng một con chim cho họ, chỉ để cho vui – để họ ăn nó theo kiểu thợ săn, bằng các ngón tay. Có thể họ sẽ thấy vui khi ăn như thế.

Và tôi làm thịt con chim.

Edwarda kể về người Anh nọ. Một ông già, một lão lập dị, nói chuyện lớn một mình. Ông ta là tín đồ Công Giáo La Mã, đi đâu cũng mang theo quyển sách cầu nguyện nhỏ, chữ màu đỏ và đen ở bên mình.

“Ông ta là người Ai Len à?” ông Bác Sĩ hỏi.

“Người Ai Len ư ...?”

“Phải – vì ông ta là tín đồ Công Giáo La Mã.”

Edwarda đỏ mặt, lắp bắp gì đó rồi nhìn đi nơi khác.

“À, vâng, có lẽ ông ta là người Ai Len.”

Sau đó cô không sinh động nữa. Tôi thấy thương cô, nên cố gắng chỉnh đốn lại mọi điều. Tôi nói:

“Không, dĩ nhiên cô nói đúng: ông ta là người Anh. Người Ai Len không đi du lịch quanh quẩn ở Na Uy.”

Chúng tôi đồng ý hôm nào sẽ chèo thuyền ra xem chỗ phơi cá …

Sau khi tiễn hai vị khách của mình một đoạn, tôi lại cuốc bộ về nhà và ngồi xuống sửa soạn dụng cụ câu cá. Cái vợt của tôi được treo trên cây đinh gần cửa, có mấy mắt lưới đã bị gỉ ăn; tôi mài móc câu, buộc vào dây câu dài, rồi kiểm tra những tấm lưới khác. Sao hôm nay làm gì cũng khó khăn thế này! Các ý nghĩ không liên quan gì đến việc tôi đang làm cứ đến rồi đi; tôi bỗng có ý nghĩ lúc nãy mình đã không phải khi cứ để cho Edwarda ngồi trên giường, chứ không mời cô ngồi lên băng ghế dài. Bất thình lình tôi thấy khuôn mặt và cái cổ rám nắng của cô ở trước mặt mình; cô buộc tạp dề hơi thấp một chút ở đằng trước, để eo dài hơn theo đúng mốt; ngón tay cái có đường nét con gái của cô dịu dàng tác động đến tôi, các nếp nhăn nhỏ trên khớp đốt ngón thật đáng yêu. Miệng cô rộng với đôi môi mọng.

Tôi đứng dậy mở cửa nhìn ra ngoài. Tôi không nghe gì cả, mà thực ra cũng chả có gì để nghe. Tôi đóng cửa lại; Æsop đến từ chỗ nghỉ ngơi của nó và nhận thấy tôi đang bồn chồn về chuyện gì đó. Rồi tôi bỗng nhớ rằng mình có thể chạy đuổi theo Edwarda xin cô ít chỉ lụa về vá lưới. Làm thế sẽ không hề là viện cớ – tôi có thể lấy xuống cho cô xem mấy mắt lưới bị gỉ ăn. Tôi ra khỏi cửa rồi mới nhớ ra mình còn dư chỉ lụa trong hộp đựng ruồi mồi câu. Thế là tôi chán nản chậm chạp quay trở vào – thế nào mà mình vẫn còn chỉ lụa mới uổng chứ.

Một hơi thở của điều gì đó lạ lùng đón tôi khi tôi trở vào lều; cứ như thể tôi không còn chỉ có một mình ở trong đó nữa vậy.

Thêm vào giỏ hàng thành công