Chương XX
Ngày đầu tiên trong rừng.
Tôi hạnh phúc và kiệt sức; mọi sinh linh đều tiến lại gần để nhìn tôi; có lũ côn trùng trên cây và bọn bọ dầu bò ngoài đường. Chào mừng! Tôi thầm nhủ. Cảm giác về rừng chạy khắp các giác quan tôi; tôi khát khao muốn yêu tất cả, và vô cùng hạnh phúc; tôi tan ra trong sự tạ ơn. Rừng thân yêu ơi, mái ấm của ta, bằng an của Chúa ở cùng ngươi từ trái tim ta … Tôi dừng lại rẽ vào mọi lối, khóc lóc mà gọi tên các thứ. Chim và cây và đá và cỏ và kiến, tôi gọi tên tất cả, nhìn quanh rồi lần lượt gọi. Tôi nhìn lên dãy đồi và nghĩ: Bây giờ, bây giờ mình sẽ đến, tựa hồ đáp lại tiếng gọi của bọn chúng. Xa bên trên, con chim ưng lùn đang về tổ - tôi biết tổ của nó ở đâu. Nhưng âm thanh của bọn chim ưng đó trên dãy đồi gửi các ý nghĩ của tôi đi xa.
Khoảng trưa tôi chèo thuyền ra hòn đảo nhỏ bên ngoài cảng. Có những bông hoa màu hoa cà cuống cao đến đầu gối tôi; tôi lội qua các loài cây lạ lùng, mâm xôi và cỏ thô; không có động vật, và có lẽ chưa từng có người nào đặt chân đến đây. Biển sủi bọt nhẹ nhàng va vào đá và bao bọc tôi trong tấm mạng rì rào; xa trên các vách đá trứng [Vách đá có những khối u hình quả trứng, một kỳ quan thiên nhiên – ND], tất cả các loài chim trên bờ biển đang bay lượn và la hét. Nhưng biển bao bọc tôi về mọi phía như trong một cái ôm. Được ban ơn phước là cuộc sống và trái đất và bầu trời, được ban ơn phước là các kẻ thù của tôi; trong giờ khắc này tôi sẽ từ bi với cả kẻ tôi thù nhất, và buộc dây giày cho hắn …
“Dô … ta …” Những âm thanh vẳng đến từ một trong những con tàu của Herr Mack. Trái tim tôi ngập nắng trước bài hát nổi tiếng này. Tôi chèo thuyền vào bến, đi bộ qua lều và nhà ngư dân. Ngày đã tàn. Tôi dùng bữa, chia sẻ nó với Æsop, rồi lại lên đường trở vào rừng. Gió nhẹ lặng lẽ thổi vào mặt tôi. Và tôi chúc phúc cho gió vì vuốt ve mặt tôi; tôi nói cho gió biết tôi đã chúc phúc cho gió; máu tôi hát ca trong mạch vì biết ơn. Æsop nằm đặt một bàn chân trước lên đầu gối tôi.
Tôi kiệt sức; tôi chìm vào giấc ngủ.
À ơ! À ơ! Chuông reo! Mấy hải lý ngoài biển mọc lên một ngọn núi. Tôi nói hai lời cầu nguyện, một cho con chó của tôi và một cho tôi, rồi chúng tôi đi vào núi. Cánh cổng đóng lại đằng sau chúng tôi; tôi giật mình trước tiếng đánh cạch của nó, thức giấc.
Lửa đỏ trời, mặt trời ở đó giậm chân trước mắt tôi; màn đêm, chân trời, vang vọng cùng ánh sáng. Æsop và tôi di chuyển vào chỗ râm mát. Xung quanh chúng tôi im lặng như tờ. “Không, bây giờ chúng ta sẽ không ngủ,” tôi nói với con chó, “ngày mai chúng ta ra ngoài đi săn; mặt trời đỏ đang chiếu xuống chúng ta, chúng ta sẽ không đi vào ngọn núi đó.” ... Và các ý nghĩ lạ lùng sống dậy trong tôi, máu bốc lên đầu.
Phấn khích, song vẫn còn yếu, tôi cảm thấy ai đó hôn mình, hôn lên môi. Tôi nhìn lại: không thể trông thấy gì. “Iselin!” Một âm thanh trong cỏ - đó có thể là tiếng lá rụng xuống đất, hay cũng có thể là tiếng bước chân. Rừng rùng mình – tôi bụng bảo dạ chắc Iselin đang thở. Ở đây trong khu rừng này nàng đang di chuyển, Iselin; ở đây nàng lắng nghe lời cầu nguyện của những người đi săn giày-ống-vàng áo-choàng-xanh-lá. Nàng sống trên nông trại của tôi, cách hai dặm; bốn thế hệ trước nàng ngồi bên ô cửa sổ phòng nàng, nghe tiếng tù và vang vọng trong rừng. Có tuần lộc và sói và gấu, với nhiều thợ săn, tất cả bọn chúng đều thấy nàng lớn lên từ một cô bé, mỗi một và tất cả bọn chúng đều đã chờ đợi nàng. Đứa này thấy đôi mắt, đứa kia nghe giọng nói của nàng. Dundas đến khi nàng mười hai cái xuân xanh. Ông ta người Scotland, buôn bán cá và có nhiều tàu thuyền. Ông ta có một người con trai. Khi mười sáu tuổi, lần đầu tiên nàng đã thấy Dundas con. Chàng là mối tình đầu của nàng ...
Và tôi cứ tưởng tượng thấy những điều lạ lùng như thế, đầu trĩu nặng khi ngồi đó; tôi khép mắt lại mò mẫm tìm nụ hôn của Iselin. Iselin, nàng có ở đây không, hỡi người yêu của cuộc đời? Diderik có ở đó bên nàng không? ... Nhưng đầu tôi còn nặng hơn, tôi trôi dạt đi trên các làn sóng của giấc ngủ.
À ơ! À ơ! Một giọng nói, tựa hồ chính Bảy Vì Sao đang hát trong máu tôi; giọng Iselin:
“Ngủ đi, ngủ đi! Em sẽ kể cho anh nghe chuyện tình yêu của em trong khi anh ngủ. Lúc đó em mười sáu tuổi và đang mùa xuân gió ấm; Dundas xuất hiện như con đại bàng lao vụt đến. Một buổi sáng em gặp chàng trước khi cuộc đi săn bắt đầu; chàng hai mươi lăm tuổi, và đến từ những vùng đất xa xôi; chúng em đi dạo bên nhau trong vườn, em bắt đầu yêu chàng khi cánh tay chàng chạm vào người em. Hai đốm đỏ hiện lên trên trán chàng, và em có thể đã hôn hai đốm đỏ đó.
“Trong buổi tối sau cuộc đi săn em đi tìm chàng ở trong vườn và sợ sẽ tìm được chàng. Em thầm khẽ gọi tên chàng mà sợ chàng nghe thấy. Rồi chàng đi ra từ bụi cây và thì thầm: ‘Một giờ sau nửa đêm nhé!’ và đi mất.
“‘Một giờ sau nửa đêm ư,’ em nói thầm – ‘nói thế là chàng có ý gì? Mình không thể hiểu. Chàng hẳn phải có ý muốn nói chàng sắp trở về những vùng đất xa xôi; một giờ sau nửa đêm chàng sẽ đi – nhưng điều đó có nghĩa gì với mình chứ?’
“Một giờ sau nửa đêm chàng trở lại.
“‘Anh có thể ngồi đó bên cạnh em được không?’ chàng nói.
“‘Vâng,’ em bảo chàng. ‘Vâng.’
“Chúng em ngồi đó trên sofa; em nhích ra xa. Em nhìn xuống.
“‘Em lạnh rồi,’ chàng nói, nắm lấy bàn tay em. Lát sau chàng nói: ‘Em mới lạnh làm sao!’ và vòng cánh tay ôm em.
“Cánh tay chàng sưởi ấm cho em. Chúng em ngồi thế một lát. Đoạn gà trống gáy.
“‘Em có nghe không,’ chàng nói, ‘một con gà trống gáy? Gần bình minh rồi.’
“‘Anh thật chắc chắn đó là gà trống gáy chứ?’ em lắp bắp.
“Rồi ban ngày đến – trời sáng. Có gì đó làm toàn thân em run rẩy. Đồng hồ vừa điểm mấy giờ vậy?
“Hầu gái của em vào.
“‘Hoa của cô chưa được tưới nước,’ cô ấy nói.
“Em đã quên những bông hoa của em.
“Một cỗ xe chạy đến cổng.
“‘Con mèo của cô vẫn chưa có sữa,’ hầu gái nói.
“Nhưng em đã không nghĩ gì đến những bông hoa hay con mèo của em; em hỏi:
“‘Dundas đang ở ngoài đó phải không? Mời anh ấy vào đây gặp tôi ngay nào; tôi đang chờ anh ấy; có chuyện ...’
“Chàng gõ cửa; em mở cửa.
“‘Iselin!’ chàng kêu lên và hôn đôi môi em cả một phút dài.
“‘Em đã không cho gọi anh,’ em thì thầm với chàng.
“‘Không ư?’ chàng hỏi.
“Đoạn em trả lời:
“‘Vâng, em đã – em đã cho gọi anh. Em muốn được gặp lại anh nhiều khôn tả. Hãy ở lại đây với em một lát.’
“Và em che giấu đôi mắt em vì yêu chàng. Chàng đã không buông em; em chồm tới trước nép mình sát vào chàng.
“‘Chắc chắn là có gì đó lại đang gáy,’ chàng nói, lắng nghe.
“Nhưng sau khi đã nghe điều chàng nói, em ngắt lời chàng nhanh hết sức và trả lời:
“‘Không, làm sao anh có thể tưởng tượng thấy thế? Có gì đang gáy đâu.’
“Chàng hôn em.
“Rồi đó lại là buổi tối, Dundas đã đi. Gì đó vàng óng làm em rùng mình. Em đứng trước cỏ, nhìn bản thân bằng hai con mắt sáng rực tình yêu; em thấy xúc động vì chính ánh mắt mình, có điều gì đó lúc nào cũng rung động quanh trái tim em. Chúa ơi! Trước đó em chưa bao giờ thấy bản thân bằng đôi mắt ấy, và em hôn lên chính đôi môi mình, bằng tất cả tình yêu và khao khát, ở trong cỏ ...
“Và bây giờ em đã kể cho anh nghe. Lần khác em sẽ kể cho anh nghe về Svend Herlufsen. Em cũng yêu chàng; chàng sống cách đây một lý, trên hòn đảo anh có thể thấy ngoài đó, và em tự chèo thuyền ra với chàng vào các buổi tối mùa hè tĩnh lặng, vì em yêu chàng. Và em sẽ kể cho anh nghe về Stamer. Chàng là linh mục, và em yêu chàng. Em yêu tất cả ...”
Qua giấc ngủ mông lung tôi nghe tiếng gà trống gáy dưới Sirilund.
“Iselin, nghe kìa! Gà trống cũng đang gáy cho chúng ta!” tôi hoan hỉ kêu lên, đưa hai cánh tay ra. Tôi dậy. Æsop đang di chuyển. “Đi rồi!” tôi nói trong nỗi đau buồn cháy bỏng và nhìn quanh. Không có ai – không có ai ở đó. Trời đã sáng; gà trống vẫn đang gáy dưới Sirilund.
Eva đứng cạnh lều. Bàn tay cô cầm sợi dây thừng; cô đang đi lấy củi. Có buổi sáng của cuộc sống trong dáng vẻ của cô gái trẻ khi cô đứng đó, tất cả vàng óng dưới ánh mặt trời.
“Anh không được nghĩ ...” cô lắp bắp thành lời.
“Anh không được nghĩ gì, Eva?”
“Em – em đi đường này không phải để được gặp anh; em chỉ đang đi qua ...”
Và cô đỏ bừng mặt.
