favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
Xuân 2026
Next

Leopold von Sacher-Masoch: Một ngày và một đêm trên thảo nguyên

24/03/2026 21:26

"Lúc nào Sacher-Masoch cũng miêu tả thảo nguyên vô cùng đẹp" - Gilles Deleuze.

 

Ngày

Tôi lên đường tới thảo nguyên, với hy vọng bắn được ở đó vài con gà sếu. Dạng đi săn này không chỉ mang lại một sự quyến rũ lớn. Gà sếu không thuộc vào số các loài chim mà đám thợ săn chẳng mấy đoái hoài; chắc chắn đó là loài chim to nhất trong số lũ chim của chúng tôi. Có thân hình dài bốn bộ, nếu xòe cánh rộng hết cỡ nó đạt đến kích cỡ bảy bộ; nó nặng từ hai mươi tới ba mươi livre; dáng điệu kiêu kỳ cùng bộ râu trắng dài biến nó thành một con vật hết sức đáng để ý.

Không dễ bắt được nó. Nhằm chặn đường thoát thân của nó, người ta buộc phải viện đến đủ mọi loại mưu mẹo. Gà sếu, điều này thì đúng, bay nhiều ở các cánh đồng của nông dân và tỏ ra đặc biệt thích ăn bắp cải và cà rốt, nhưng không có những tạo vật nào nhút nhát hơn. Khi một thợ săn hay bất kỳ nhân vật khả nghi nào tiến lại gần, chúng liền bay vọt lên, tận tới độ cao hơn năm trăm mét. Chúng dường ý thức được về sự yếu ớt của mình; đối với chúng, việc để cho mình hụt chân không phải là một trò chơi. Điều này đòi hỏi từ phía chúng một đà bật rất lớn. Về phần cách bay của chúng, thì nó nặng nề và khó khăn.

Có nhiều cách bắt chúng. Gà sếu biết rõ người nông dân, và chẳng mấy nghi ngại anh ta. Trong khi anh ta cày bừa, gieo hạt hay gặt hái, nó lắc lư người đi, chẳng hề đánh mất chút nào từ sự nghiêm trang thường lệ của mình, trước mặt anh ta, sau lưng anh ta, hoặc bên cạnh anh ta. Do đó, thợ săn thường khoác lên mình trang phục của nông dân và đi thơ thẩn, miệng ngậm tẩu, cho đến khi con thú ở trong tầm bắn của mình. Rất khó lừa được nó về khoản vũ khí. Nó phân biệt được rất rõ cò súng của một khẩu ca ra bin với lưỡi hái hay liềm.

Cách còn hay hơn là nằm trên một cái xe kéo loại hay dùng ở nông thôn, giấu súng vào đống cỏ khô, rơm hay ngô chất trên đó.

Điều nhất thiết phải để ý là cỗ xe không được do ngựa kéo. Nó phải thắng vào bò và đi chậm chạp hết sức, trong khi người dân làng điều khiển nó đi ở bên cạnh, tay cầm roi.

Đây là thủ thuật mà tôi dùng. Tôi dậy từ trước rạng đông. Lúc, ăn vận như nông dân và đeo khẩu súng trường, tôi đi qua ngưỡng cửa nhà mình, thì bạn đồng hành của tôi, người nông dân Jean Walko, đợi sẵn tôi.

Anh ta đã chất vào một cỗ xe nhỏ dựng bằng thang đầy cỏ khô, vì với cỏ khô người ta có thể thoải mái hơn cả.

Hai con bò to màu trắng, sừng cong lại thành hình cây đàn lya, đã được thắng vào đó. Đầy khoan khoái, tôi nằm vào đống cỏ. Xe lăn bánh lên đường.

Tôi mặc sức ngắm nhìn các cảnh tượng vây quanh mình.

Sau khi băng ngang làng, chúng tôi dấn vào bên dưới bóng râm trong suốt của một cánh rừng dương, rồi chúng tôi đi giữa lúa mì cao mạ vàng, đầu trĩu nặng. Sau đó cỗ xe khấp khểnh lăn bánh trên một cây cầu cũ với các nhịp run rẩy, và chui sâu vào một tấm thảm cỏ dày và mịn. Trước mặt chúng tôi, giờ đây, thảo nguyên trải rộng.

Trước mặt chúng tôi, trong một giây phút hết sức ngắn ngủi. Chỉ hai phút sau, chúng tôi đã đi hẳn vào đó. Khi mặt trời lên cao nơi chân trời, thảo nguyên đã vây bọc chúng tôi từ mọi phía.

Thoạt tiên trên đường đi chúng tôi chỉ gặp những dãy dài các đồng cỏ khô dày, một người nông dân đang mài lưỡi hái, hoặc một cô nông dân trẻ tuổi nào đó, đầu quấn một cái khăn đỏ, đang bận rộn hái các loại cây nhỏ, và chìm nghỉm vào giữa đám cỏ cao, trông thật giống một cây anh túc khổng lồ.

Chốc chốc, chừng sương mù lười biếng được nâng lên, người ta nom thấy ở chân trời lấp lánh cây thập giá Hy Lạp của một nhà thờ, hoặc dựng lên trong nỗi cô đơn bóng dáng một cái giếng hay một chuồng cừu. Những ngọn đồi nhỏ với bên trên là các bãi chăn thả bóng mượt, được tập hợp lại thành các nhóm giống một đống gồm nhiều nấm mộ, và được dân chúng coi như là các lăng mộ hoặc công trình do người Tartar hay Cô dắc dựng sau một cuộc chém giết khủng khiếp nào đó, lốm đốm mờ ảo trên bầu trời phủ đầy sương. Những khóm cây mảnh điểm xuyết trên các khoảng cỏ rộng. Lũ chim chiền chiện chui ra từ sương lấp lánh, mà những viên ngọc trai chất lỏng biến đồng cỏ thành một tấm gương mênh mông.

Dần dà, các ngọn đồi thu nhỏ lại; cây cối trở nên hiếm hơn. Rốt cuộc chúng biến mất. Không tiếng chim hót nào khuấy động sự cô đơn. Sương mù bay lơ lửng trên đất ẩm. Chúng tôi đã đến trung tâm thảo nguyên. Buổi sáng ánh lên một lóe chớp quyến rũ, ngập tràn tuổi trẻ cùng nhựa sống.

Quanh chúng tôi, tôi chỉ nhìn thấy một tấm thảm làm bằng cỏ dài với màu ngọc lục bảo, lấm tấm những cây nhỏ phình rộng và các loài hoa màu chói, tạo thành các hình thoi màu vàng, đỏ, trắng hoặc xanh, phần lớn vàng, và sự sặc sỡ ấy dâng tặng các tông nóng tới nỗi hẳn có thể nói đấy là một cầu vồng được ném xuống mặt cỏ. Một mùi hương thật nặng dâng lên từ tất tật những đài hoa ấy và bập bềnh lơ lửng trên các cánh mềm oặt của gió, mùi hương độc hại, hắc và gây bực bội giống những thứ hương phương Đông mà các nàng cung phi múa may trong bầu không khí ngạt thở của những hậu cung làm dậy lên.

Lũ gà sếu, màu gỉ, đầy kiêu hãnh lượn qua lượn lại trên cỏ, tha hồ giương rộng những cặp cánh đen lấm chấm các giọt nước mắt trắng của chúng. Lũ cò thiu thiu ngủ, đứng trên một chân, giống các fakir ăn năn, gục xuống ở sa mạc. Bọn kền kền bay vòng vòng trong không trung, đại bàng thì chao lượn tít trên tầng không. Hàng nghìn con côn trùng rì rầm, hàng trăm con châu chấu nhảy lên trước bước chân chúng tôi, rơi xuống cách đó một chút, để rồi lại bắt đầu những cú bật nhảy thất thường của mình, và xoay tròn, những tia lấp lánh to lớn màu lục, trong khoảng rộng xanh um.

Chỉ cần người ta dỏng tai lên là thảo nguyên trông không có vẻ gì cô đơn nữa. Tại đó người ta nghe thấy một tiếng rì rào vĩnh cửu, những tiếng ríu rít, những tiếng cười khẩy, những tiếng sột soạt, những tiếng rít, những tiếng thở dài, những âm thanh lạ thường như tiếng khóc oe oe của trẻ con, các nốt khàn và sầu muộn. Mặt trời đã trở nên nóng bỏng. Chính các ve vuốt của mặt trời kia là thứ làm sống động khuôn mặt những người Tiểu Nga của chúng tôi, làm họ có nước da nóng kia, hết sức hài hòa với các đường nét nghiêm khắc nhấn rõ và uể oải của họ.

Nơi chân trời, chỉ còn nom thấy được các cánh đồng, phía trên đó bầu trời chăng ra, lốm đốm những đám mây nhỏ. Chẳng ở đâu người ta để ý thấy dòng nước ánh bạc của một con suối.

Thảo nguyên xanh thẫm lại giống biển. Giống biển, nó mất đi ở chốn xa xôi, tắm mình trong một ánh sáng run rẩy. Và không chỉ đất mới có vẻ được mở rộng ra trước các ánh mắt của chúng tôi; trong mắt chúng tôi cả bầu trời cũng mang những tỉ lệ vô tận.

Con người cảm thấy mình cũng nhẹ hệt như con chim đang băng ngang không trung đẫm thiên thanh.

Thảo nguyên buông mình ra trước anh ta, trống rỗng như vòm trời. Chẳng gì nhắc cho anh ta về tồn tại của đồng loại anh ta. Anh ta không tìm được ở đó các thành phố, các tòa tháp, các thôn xóm, các ngôi nhà; ở đó thậm chí người ta còn không thấy những túp nhà đổ nát vách đan gỗ liễu mái phủ rơm; tại đó người ta không gặp các con người, không một dấu chân nào, không vết xe nào.

Nơi đây, tự nhiên có một cái gì đó man rợ giống một khu rừng hoang, với khác biệt ở chỗ, rừng hoang là chốn trú ngụ của bóng tối, của bí ẩn, của các sinh thể vốn dĩ là kẻ thù của chúng ta, trong khi tại thảo nguyên, tạo vật cảm thấy mình ngập ngụa trong những tia ánh sáng và sự sống. Giống thảo nguyên, rừng hoang bình lặng và không giới hạn; tại đó người ta được tận hưởng một nỗi cô đơn hoàn hảo; chỉ có điều, sự bình thản kia trình hiện kết thúc của một tồn tại, cái chết, hư vô. Nỗi cô đơn của thảo nguyên thì lại đánh thức ý về chuyện thiên đường từng là gì trước khi con người xuất hiện. Ngằm nhìn nó, người ta tưởng đâu mình đang chiêm ngưỡng buổi sáng đầy tươi cười của sáng thế.

Con mắt không gặp phải các giới hạn. Nó nhìn được xa hết mức mà nó có thể bao trùm.

Tôi giết được hai con gà sếu cùng một con kền kền. Rồi tôi ngừng cuộc săn. Đã đến trưa, buổi trưa của thảo nguyên, đè nặng bên dưới sự bình lặng cùng sức nóng bỏng giãy của nó. Không khí có vẻ tuôn chảy như vàng lỏng. Ánh mắt bị lóa tìm trong vô vọng một chỗ tối để nghỉ. Cỏ khô sáng loáng lên như những đợt sóng lớn. Cành cỏ nào cũng dường là một ngọn lửa nhỏ. Trong không khí bị đốt cháy giao nhau những tiếng nổ lét đét, những rì rào khô khẳng của các tia lấp lánh. Rốt cuộc, cánh tay đòn của một cái giếng vươn lên trên bầu trời sáng sủa, rồi một cột khói. Cái mái xơ xác của một ngôi nhà rơm ra từ dưới đất chui ra. Cũng có thể nghe thấy tiếng cười khẩy thanh mảnh của một dòng suối.

- Cái nhà kia là của ai thế? tôi hỏi người nông dân của mình.

- Của một bà góa, anh ta đáp, vừa nói vừa mỉm cười vẻ ma mãnh.

Những cái bánh xe của chúng tôi vừa kêu rên vừa tiện đứt đám cỏ cao. Một đống lửa đỏ đang cháy, ở gần cánh cửa mở. Mấy con bò của chúng tôi tự dừng lại. Một phụ nữ trẻ tuổi từ trong nhà bước ra. Cô ta để cánh tay trần và đi chân đất. Mái tóc đen dày của cô ta vặn vẹo lộn xộn đằng sau gáy. Cô ta vận một cái áo sơ mi thêu đỏ rực và một cái váy rất ngắn, màu xanh. Cô ta chào chúng tôi và cứ thế dùng cặp mắt đen tuyệt đẹp của mình nhìn chúng tôi chằm chằm. Khuôn mặt cô ta, được tạo hình hết sức tinh tế, cũng nâu như đất mà cô ta đang giẫm chân lên.

Chắc chắn nữ hoàng Ai Cập, con rắn đẹp của sông Nile đó, cũng đã xuất hiện trước Mark Anthony như thế, vào lúc ông ta tới với ý định cướp vương miện của nàng và, nhằm trừng trị ông ta về việc ấy, nàng đã biến ông ta thành tên nô lệ hèn mọn hơn cả của mình.

- Kìa! cô có thể cho chúng tôi cái gì đó để ăn không, Eva? người nông dân của tôi hỏi.

- Để tôi xem, cô ta đáp.

Chúng tôi đi vào nhà để nghỉ ngơi một chút. Người phụ nữ trẻ tuổi bắt tay nấu nướng. Sau khi ăn, chúng tôi nằm lên một băng ghế gỗ kê dọc theo bức tường. Giấc ngủ ập đến với chúng tôi. Tuy nhiên, rất mau chóng, tiếng một con ngựa phi nước đại đánh thức chúng tôi dậy.

Một chàng trai đẹp đẽ hoạt bát, dạn dĩ, với một khuôn mặt đủ sức truyền cho chúng tôi sự tin tưởng trọn vẹn nhất, bước vào. Đấy là một mục đồng. Cặp mắt to màu xanh của anh ta ngạc nhiên dừng lại ở chỗ chúng tôi.

- A, anh đấy à, Akensy, người nông dân của tôi kêu lên.

- Đúng, tôi đây. Các anh vừa đi săn à? Anh ta cởi áo, và ném cái áo lông cừu buộc quanh bụng xuống một băng ghế cạnh bếp lò.

- Chúng tôi đã đi săn, người nông dân của tôi nhắc lại. Nhưng còn anh, ai đưa anh tới chỗ này vậy?

- Tôi không đi một mình, Akensy đáp, vẻ khiêm nhường; sắp có một cơn giông khủng khiếp đấy. Chúng tôi đang cho lũ ngựa ăn cỏ gần đây. Tất tật chúng tôi đã đến đây để tìm chỗ trú.

Các mục đồng khác bước vào. Eva, vừa đi ra ngoài, quay trở lại. Cô ta bận bịu với việc của mình, không để ý gì tới Akensy. Hai thanh niên không nhìn nhau lấy một cái. Thế nhưng người ta cảm thấy rõ giữa họ có một sợi dây buộc chặt.

- Đấy có phải tình nhân của cô ta không? tôi hạ giọng hỏi người đồng hành.

- Ai cơ?

- Chúa ơi, Akensy!

- Có thể lắm, anh ta thở dài đáp.

Bên ngoài, những đám mây dồn đống lên. Trời rất tối. Một sự bình thản khó chịu ngự trị, một nỗi im lặng đáng hoảng sợ. Không khí nặng nề đè lên ngực ta như một hòn đá nóng. Đột nhiên một lóe chớp rạch toang mây, sấm gầm, và mưa như dòng thác đổ xuống thảo nguyên, không xót thương quật nát cỏ. Cánh đồng biến thành một cái hồ. Cỏ dường trào ra từ các lọn bọt. Có nhìn đi đâu thì người ta cũng chỉ trông thấy một làn nước náo động rất mạnh, từ đó ló ra cái nhà mái rạ nhỏ, con thuyền Noah đúng nghĩa, bị những luồng sóng của trận hồng thủy nâng cao lên.

Các tiếng sấm mau chóng tiếp nối nhau. Đôi khi chúng kêu to tới nỗi mặt đất dường nứt toác ra, bị rung chuyển đến tận trong nền móng.

Rồi một cơn cuồng phong nổi lên, cũng không thể thuần hóa, cũng điên cuồng như cơn giông đang rời xa. Nó làm tản mát những đám mây tối; nó hong khô những vũng nước rộng phủ đầy đất. Các yếu tố lấy lại sự bình yên của chúng với cùng độ chóng vánh như khi chúng khởi sự sổ lồng.

Mưa đã ngừng. Thời tiết sáng sủa lên. Thảo nguyên màu lục ánh ỏi, trẻ lại và tươi mát. Một cầu vồng giương vòng cung sáng chói của nó trên trời.

Các mục đồng đi khỏi. Họ lùa lũ ngựa của mình từ tàu ngựa ra, chúng phi nước đại mang họ đi. Eva đã đi ra cùng họ. Cô ta trêu chọc họ, mắt lấp lánh, cười lanh lảnh. Đột nhiên, như thể rơi vào một phăng te di quỷ quái, cô ta tóm lấy cái bờm đen như gỗ mun của một con ngựa, nhảy lên lưng nó mà không cần cả yên lẫn dây cương.

- Ê này! lũ nhóc con, cô ta hét lên, người nào bắt được tôi và cầm tù được tôi sẽ được quyền hôn tôi!

Và cô ta khiển con ngựa của mình lao vào thảo nguyên. Các mục đồng đuổi theo cô ta, hét lên những tiếng hoang dã. Akensy, mặt nhợt nhạt đi, cặp mắt thẫn thờ, sớm vượt lên trước các bạn anh ta. Chỉ vô vọng, việc Eva giật cho con ngựa chạy ngược lại; chỉ vô vọng, việc cô ta làm nó xoay thành các vòng tròn đầy gấp gáp và tìm cách chạy về phía cái nhà mái rạ: Akensy đuổi kịp khi cô ta mới chỉ đi xa được khoảng năm mươi bước. Anh ta ôm chặt lấy người cô ta; anh ta đặt cô ta ngồi cạnh mình và, trong lúc con ngựa đã chịu thua cất vó trở lại, đầy say mê anh ta đặt miệng mình lên miệng nữ tù nhân xinh đẹp.

Người nông dân của tôi phá lên cười.

- Đâu phải ngẫu nhiên khi cô ấy là con gái của một nữ phù thủy, của một bà thầy bói, anh ta bảo tôi. Xem thử cô ta đã bỏ bùa anh ta thế nào kìa.

Tối buông dần khi chúng tôi quay trở về. Phương Đông sáng lấp lánh, chìm nghỉm trong các làn hơi nước với những tông kỳ quặc. Một tiếng rì rầm dài đầy ngập trong không trung. Mặt trời biến mất mà không phóng bất kỳ cái bóng nào dẫu nhỏ đến đâu trên thảo nguyên say ngủ. Ánh sáng vẫn đang trải rộng ở nhiều khoảng trên cỏ đột nhiên tắt ngấm. Và bóng tối ụp xuống vùng nông thôn như một tấm mạng lớn.

(còn nữa)

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công