2. Thế giới của Kipling - Bài nói chuyện ở Hiệp Hội Anh Văn
Tất cả đều cho thấy rằng kỷ cương là một con dao hai lưỡi; nhưng điều này không khiến Kipling bớt nhiệt huyết với kỷ luật. Ông như muốn nói, rằng thế gian là thế, đã luôn và sẽ luôn là thế. Ngay thời tiền sử đã có những kẻ khôn
Won a simple Viceroy’s praise
Through the toil of other men.[1]
Và không ai khiển trách nặng nề hơn Kipling những kẻ lợi dụng và phá phách con người nhịn nhục “trên thực địa”:
Khi truyện đùa đã kể ra
và đưa vào trong sách Gióp;
khi mà nghĩa địa Quetta
gửi các hồn về chót vót,
nguyện tôi không bao giờ đưa
Jack Barrett vào chỗ chết.
Nhưng nghĩa vụ vẫn là nghĩa vụ. Bất kể trên chóp bu có thối rữa thế nào thì việc vẫn phải làm; biên giới phải được bảo vệ, dịch phải bị dập, cầu phải được xây, đầm lầy phải được thoát nước, có nạn đói thì phải cứu tế. Bất luận nó hợp lý thế nào thì hoạt động phản kháng sự bất công và những kế hoạch cải cách cũng không đưa được tàu thuỷ vào bến, không đưa được xe lửa vào ga, không gieo được thửa ruộng lúa mì, không trấn áp được một vụ bạo loạn. “Phút nghiệt ngã” xảy ra với chúng ta một nghìn bốn trăm bốn mươi lần mỗi ngày. Đây là yếu tố thật nhất và đẹp nhất ở Kipling; đây là một phiên bản khác, phiên bản Kipling, của thứ phúc âm lao động mà Carlyle đã rao truyền. Có những điểm tương đồng giữa nó và việc Piers Plowman cứ khăng khăng cày nửa mẫu ruộng của mình; thế nhưng cũng có nhiều khác biệt đáng nói.
Kipling càng cố thuyết phục chúng ta rằng việc đòi hỏi công lý hay hạnh phúc không được phép ảnh hưởng đến công việc, thì chúng ta lại càng nóng lòng được bảo đảm rằng công việc ấy xứng đáng với mọi hy sinh mà nó đòi hỏi từ loài người. “Cuộc chơi,” Kipling nói, “phải lớn hơn người chơi.” Nhưng có cuộc chơi quả thật như thế, có cuộc chơi lại không. “Và con tàu phải lớn hơn thuỷ thủ đoàn” - nhưng tôi muốn biết con tàu đang đi đâu và tại sao nó đi về phương ấy. Hải trình của nó có thật sự có ích, hay ít nhất là vô hại không? Cái chúng ta muốn là một triết lý về Mục Đích. Đây là thứ mà Langland đã trình bày được. Việc cày bừa nửa mẫu ruộng kia được đặt vào một bối cảnh có quy mô vũ trụ và bối cảnh đó cho phép Langland giải thích việc nào trong toàn thể vũ trụ này là thờ phượng thật, việc nào chỉ là thờ thần tượng trong khổ ải. Đến đây thì Kipling không còn nói chắc chắn được nữa. Nhiều việc mà các nhân vật công chức của ông làm là những việc rõ ràng cần thiết; tuy nhiên đây không phải là khía cạnh ông khai thác. Vẫn cùng một niềm say mê ấy, ông viết về những công việc mà mục đích tối hậu kém rõ ràng hơn rất nhiều. Lắm khi cách ông chọn phe còn có vẻ ngẫu nhiên, thậm chí cẩu thả. Khi William the Conqueror gặp một ông giáo có trách nhiệm dạy các học trò bản xứ về những vẻ đẹp trong Excursion của Wordsworth, nàng nói với ông giáo (một lời nói hơi không cần thiết): “Tôi thích những con người được việc.” Dạy văn học Anh cho người bản xứ không hề là biểu hiện của “được việc”; chúng ta đáng ra phải khinh bỉ ông giáo trong truyện. Ta cũng để ý là chỉ vài trang trước đó thôi, nhân vật biên tập báo đã không bị Kipling bêu riếu theo kiểu này. Nhưng ta không khó tưởng tượng ra các tình huống đảo ngược. Kipling hoàn toàn có thể viết một truyện ngắn vẫn đậm mùi Kipling, kể về hai công chứng ở Phòng Giáo dục, những người làm việc mười tám tiếng mỗi ngày để sát hạch học trò, trên đầu họ là chiếc quạt punkah đu đưa và cảnh nền thường gặp của công việc ngành giáo. Nếu Kipling chịu viết từ điểm nhìn đó, sự vô ích của một giáo trình buộc các nhà giáo phải dạy và ra đề cho học trò Ấn Độ về Wordsworth sẽ không làm thuyên giảm bản tính nam nhi trong họ. Câu chuyện sẽ nói về những khó nhọc trong chức nghiệp của họ - những khó nhọc mà họ cam chịu một cách trớ trêu mà cứng cỏi; nó sẽ là một ví dụ nữa về sự ngu xuẩn vô trách nhiệm của người ở trên, thứ đã phung phí và huỷ hoại những người phải đứng trên thực địa và thực hiện công việc. Tôi có một linh cảm không hay: Kipling kính trọng nhà báo và khinh thường ông giáo, nhưng đằng sau những cảm tình này không hề có một triết lý về mục đích được ông nghiền ngẫm kỹ càng. Lý do cho thái độ này chỉ là vì ông làm cho một tờ báo chứ không đi dạy ở trường. Đến đây, tôi nghĩ chúng ta đã tìm ra được đầu mối dẫn đến lời giải thích cho cảm giác ngột ngạt choán lấy mình khi đọc Kipling quá lâu. Có phải thế giới Kipling quá quái đản, quái đản theo nghĩa bị biến dạng? Sẽ ra sao nếu triết lý về lao động và kỷ luật này - ở ngoại vi thì thật rõ ràng, thật tâm và cứng rắn - lại giấu ở nhân của nó một sự mông lung gớm ghiếc, một suy nghĩ cẩu thả hay một tâm đen hoài nghi?
Đôi lúc nó cũng chỉ giấu cái mà người Anh, một cách công bằng hay bất công, hay gọi là “chất Mỹ”. Below the Mill Dam là một ví dụ. Tác giả muốn chúng ta phấn khởi vì con chuột bản xứ lông đen sắp bị thay thế bởi một con chuột ngoại lông nâu; vì cối xay gió sẽ được đấu vào dynamo và toàn bộ nông thôn sẽ được điện khí hoá. Một người biết nghĩ đáng ra sẽ đặt nhiều câu hỏi về phúc lợi của cuộc chuyển đổi này; thế nhưng với Kipling những câu hỏi ấy chẳng có nghĩa lý gì. Với ông, những câu hỏi ấy sẽ chỉ làm cớ cho sự lười nhác. Nước nói: “Chúng ta đã biết tới sáu từ hoa mỹ dành cho chơi bời”; nước cũng nói với bánh xe rằng “một khi đã làm việc thì phải thật sự làm việc.” Còn con chuột lông đen thì phải bỏ. Đây là tín lý của chủ nghĩa Hành Động - của “Tiến Bộ”, bận rộn và phát triển; mù loà, trần trụi, không biết tự phê . Tương tự, ở The Explorer, dù độc giả ngưỡng mộ sự can trường của nhân vật ở những khổ đầu, về cuối anh ta khiến chúng ta khựng lại. Chén Thánh[2] của anh ta đơn giản là công nghiệp hoá vùng đất mà anh đã tìm ra. Các thác nước “mỗi giờ đang lãng phí năm vạn head”, rừng thì đã “sẵn sàng cho rìu xuống”, còn nhân vật sẽ giải quyết những vẫn đề này. Mục đích, cũng như ở câu chuyện Below the Mill Dam, có thể là mục đích tốt lành; tôi không có quyền phán xét điều này. Nhưng hình như Kipling không thấy rằng mục đích ấy có thể bị chất vấn. Bread upon the Waters tả lại tất cả khó nhọc với sự say mê thường thấy ở Kipling; nhưng mục đích rồi cũng chỉ là tiền và trả thù (dù đây là sự trả thù mà ta thể tất được). Ở The Devil and the Deep Sea, việc cần làm (vốn là thứ được Kipling tả lại với sự kính cẩn thường có) và cuộc chơi (vẫn lớn hơn người chơi) lại đơn thuần chỉ là chiến thắng cho một băng tội phạm.
Để giải thích hiện tượng này, ai đó có thể cho rằng Kipling không phải một nhà đạo đức mà chỉ là một nhà văn khách quan. Nhưng điều này không đúng. Ông rõ ràng là một nhà đạo đức; ở bất cứ truyện nào, ông cũng dẫn dụ độc giả, thậm chí buộc anh ta, phải ngưỡng mộ hay chê trách cái gì đó. Nhiều bài thơ thực chất là những bài giảng được diễn thành thơ. Chính vì thế mà sự ngẫu nhiên, sự mong manh trong Mục Đích của ông - mục đích luôn được Kipling dành cho tinh thần đạo đức kiểu võ sĩ đạo - lại khiến chúng ta không thoải mái. Giờ chúng ta sẽ bước thêm một bước nữa. Đến như Kỷ Luật cũng không phải là hằng số đâu. Chính những người bị xem là sư tử con phải chuốt vào khuôn biết đâu lại là những vị anh hùng mà ta phải kính ngưỡng?
Stalky và các bạn là những kẻ mắc bệnh vi phạm kỷ luật kinh niên. Giá mà ký ức thời trẻ của Kipling khác đi, hẳn là không khó để ông xoay ngược câu chuyện. Ở Their Lawful Occasions, Moorshed vì đủ giàu có và có thể rời hải quân năm sau nên đã dám chấp nhận cái giá của việc làm một mình một kiểu. Kipling thông cảm với nhân vật và chống lại con tàu vốn được ông đặt cho cái tên đầy ẩn ý, H.M.S. Pedantic[3]. Vậy nhưng Kipling chỉ cần thay đổi góc ánh sáng một tí là ông có thể biến Moorshed - cũng chính vì sự độc lập của anh ta - thành một con người rất đáng ghét và đáng ghét theo kiểu đặc thù Kipling. Ở Without Benefit of Clergy, sự thiếu hiệu quả trong tư cách công chức của Holden đã được bỏ qua; nhưng giá như Kipling đã viết trong một tâm thế khác, thì căn nguyên của sự thiếu hiệu quả ấy - nuôi một cô nhân tình người bản xứ - sẽ được tác giả tả lại như một tình tiết tăng nặng khiến người ta khinh bỉ. Thế nhưng trong câu chuyện ông viết thì lý do ấy lại gần như là tình tiết giảm tội. Ở The Germ Destroyer, ta bắt gặp Kipling cười nhạo một người vì anh ta “đặc biệt đam mê công việc!” Ở Bisara of Pooree, toàn bộ thế giới Anh-Ấn, với những thành tựu mà ở nơi khác thì sẽ giúp ích và có giá trị cho người bản xứ, lại bị tác giả gọi là “lớp cặn đóng váng, bóng loáng ở trên cùng mà người đời gọi là văn minh” khi ông so sánh nó với những người bản xứ. Ở Dream of Duncan Parrenness, hồn ma hứa cho nhân vật đang làm trong ngạch công chức Anh-Ấn sự thành công; đổi lại, nó muốn người công chức ấy cho nó niềm tin ở loài người, hy vọng ở đàn bà và lương tâm của đứa trẻ. Nhân vật đã cho đi hết những thứ đó, nhưng chỉ nhận về “một mẩu bánh mì khô”. Đâu rồi Kipling mà chúng ta biết? Đâu rồi nhà tiên tri của lao động, nhà hoạt động chủ nghĩa, tác giả của bài thơ If? Were it not better done as others use…?[4]
Các bạn có thể cho rằng nhiều trong số ví dụ trên được lấy từ các truyện Kipling viết về trước. Kipling có thể từng hoài nghi hồi còn trẻ; khi trưởng thành hơn, ông từ bỏ những quan điểm hoài nghi cũ. Biết đâu - như tôi đã từng hơi tin - ông là một “nhà lãnh đạo lạc lối”, một nhà văn đối lập mà chính quyền bằng cách nào đó đã chiêu hồi được. Tôi cho là ông đã thay đổi quan điểm, nhưng đó không phải cội rễ của vấn đề. Tôi nghĩ đa phần tác phẩm của ông (dù có vài ngoại lệ, và đó là những ngoại lệ quý giá), ở mọi thời kỳ, đều bị chiếm lĩnh bởi một cảm xúc chủ đạo. Cái ông yêu hơn mọi thứ trên thế gian này là sự gần gũi với một vòng tròn khép kín - kể cả khi vòng tròn đó chỉ là một vòng tròn san sẻ cùng một nỗi khổ, như ở In the Same Boat, hay cùng một tội ác, như ở The Devil and the Deep Sea. Rốt cuộc, tôi không cho rằng ông yêu tình huynh đệ trong nghề vì thứ lao động mà các huynh đệ san sẻ; tôi nghĩ ông yêu lao động mà các huynh đệ san sẻ là bởi ông yêu tình huynh đệ trong nghề. Lạc ra ngoài cảm xúc đó, tức thì các tâm thế mâu thuẫn trong Kipling trỗi dậy. Tôi cần định nghĩa cảm xúc này một cách kỹ càng hơn, tôi cần cho thấy thể nào nó lại đưa đến các hệ quả khác nhau đến thế.
Khi ta gom lại ba, bốn người bạn có chung chí hướng và chung niềm tin vào nhau, một tình cảm hội nhóm sẽ xuất hiện và mang lại niềm vui cho hội viên. Tuy nhiên sự vui thú đó được kéo dài bằng những kiểu tương tác khác nhau. Chúng ta có thể cùng nhau chống lại thế giới bên ngoài. Thế giới đó gồm những kẻ ngu muội đang đứng ngoài kia và viết báo về chúng ta; chúng viết bài nào là bài ấy lộ ra sự dốt nát kinh tởm của chúng về công việc thực sự phải làm, và chúng đề xuất các dự án chỉ hay ho trên mặt giấy, nhưng - như chúng ta biết - sẽ không thực hiện được ngoài thực tế. Chừng nào giữa những người trong nhóm là tương tác kiểu này, thì nghề nghiệp họ làm vẫn còn là một nghề cao cả, thành tựu của nó là những thành tựu rất đáng nói. Giá như những kẻ đứng ngoài lắm mồm lắm miệng kia để ta yên làm việc mình. Cách tương tác đó, nếu các nhân vật của vòng tròn làm tốt việc mình, sẽ làm nên một kiểu truyện Kipling. Nhưng cũng có thể dành những buổi tối cùng nhau chống lại các tiền bối của mình - những người chóp bu, những kẻ đã leo lên cách nào không biết (trong khi những người bên dưới tuy giỏi hơn mà phải thối thây trong các chức vụ giảng dạy nơi tỉnh lẻ, trong các tàu nhỏ, trong các giáo phận chết đói!), những kẻ đã quên công việc đích thực là thế nào, những kẻ ưa can thiệp và phá hoại mọi nỗ lực của chúng ta, những kẻ không biết chúng ta quý giá hơn những người còn lại như thế nào. Trong khi tương tác này đang xảy ra, nghề chúng ta đang làm có thể là một nghề tai tiếng và bạc bẽo. Chúng ta thậm chí cho rằng đã đến lúc công chúng biết điều gì đang thật sự diễn ra trong ngành. Một vụ bê bối khiến mọi người xôn xao có lẽ sẽ đem kết quả tốt. Từ tương tác này, sẽ có một loại truyện Kipling nữa. Nhưng một tối khác, thậm chí cũng tối ấy, nhưng muộn hơn tí nữa, chúng ta sẽ sát cánh nhau luận tội đám hậu bối. Nghề của chúng ta, như có phép thuật vậy, một lần nữa lại xuất hiện, nhưng lần này là dưới một luồng sáng có lợi hơn - ít nhất là như nghề này đã từng, hồi xưa ấy. Nhưng đám sói con dưới trướng chúng ta sẽ làm ăn thế nào thì chưa biết được. Chúng cần được chuốt cho vào khuôn. Chúng phải học xắn quần xắn áo lên. Chúng chưa biết nghề này đòi hỏi điều gì đâu. Có trời kia làm chứng: ngày nay mọi thứ dễ dàng cho chúng quá! Chúng chưa biết bị đưa vào cối giã là như thế nào. Chúng mà dưới trướng ông này ông kia ngày xưa thì … Thế là một loại truyện Kipling nữa lại được triển khai. Nhưng đôi khi chúng ta lại muốn nói về các hậu bối theo cách ngược lại. Chúng ta đã trong nghề đủ lâu để không còn ảo ảnh nào về nó. Chúng ta biết đến một nửa quy định chính thức chỉ là giấy lộn. Không ai cảm ơn nếu ta làm nhiều hơn cần làm. Còn các hậu bối kia thì đầy sốt sắng, chúng câu nệ về kỷ luật, chúng bị tiêu nuốt vì đam mê cho công việc. Chẳng chóng thì chầy chúng sẽ qua cơn mê thôi!
Cái giống giữa các kiểu tương tác này còn quan trọng gấp bội cái khác biệt. Cứ mặc cho ngẫu nhiên định đoạt câu chuyện sẽ được bàn thảo tối nay - câu chuyện ấy thuộc vào thể loại tương tác nào trong mấy thể loại trên cũng được - vì rằng niềm thích thú chúng mang lại rồi cũng chỉ là một. Đó là lạc thú mà đa phần tác phẩm của Kipling biểu đạt và truyền đạt. Tôi muốn gọi tên nó là lạc thú của hội tam điểm; thế nhưng cách nói này dễ gây hiểu nhầm, vì bản thân Kipling trên thực tế đã có chân trong hội, theo nghĩa hẹp và chính thức của cụm từ “hội viên hội tam điểm”. Nhưng ở nghĩa rộng hơn, có thể nói Kipling bẩm sinh là một hội viên hội tam điểm. Hãy nhớ: một trong nhiều truyện ông đã thích hồi ấu niên là truyện về “những con sư tử cùng đứng trong hội tam điểm”, “cùng kết minh chống lại một tên khỉ đầu chó gian ác”. Lạc thú của việc kết minh chống một tên khỉ gian ác, thậm chí lạc thú của kết minh thuần tuý, là yếu tố trọng tâm của thế giới Kipling. Được thuộc về, được ở bên trong, được đứng về phía những người biết nhiều hơn, được đứng bên nhau trong khi những kẻ còn lại là những kẻ đứng ngoài: đây là điều duy nhất quan trọng. Trong câu chuyện, ai vào vai kẻ đứng ngoài (như con khỉ đầu chó gian ác chẳng hạn) gần như chỉ là chuyện ngẫu nhiên. Trước Kipling, chưa ai ngợi ca sức mạnh của sự sát cánh này: chưa ai kể lại những tấn hài kịch và bi kịch bí nhiệm, sự thấu hiếu lẫn nhau, nụ cười, cái nhún vai, cái gật hay lắc đầu làm dấu hiệu cho chuyên môn cao giữa những người có cùng chuyên môn. Chưa ai nói hết được về khoái lạc tuyệt vời khi được chấp nhận bởi vòng tròn ma mị đó, cũng như chưa ai nói hết về niềm tủi nhục không xoa dịu được khi bị khinh rẻ bởi nó: sánh với khoái lạc và tủi nhục đó thì tiếng thơm hay tiếng xấu giữa đời chỉ tựa một hơi thở cất lên lúc nào không ai biết. Nếu “ta biết toàn quân biết”, thì việc báo chí nhẹm đi giùm chuyện xấu cũng có nghĩa lý gì? Chính phủ chấp nhận những lời bào chữa được đưa ra để làm chi, khi mà “đồng loại của ta” vẫn thấy ta có tội?
Đây chính là bối cảnh cho tất cả các truyện Simla. Các truyện này không hay - đàn bà trong truyện Kipling nói một giọng baritone quá - và mới đọc thì thấy chúng không phải là tác phẩm của ngòi bút trưởng thành. Nhưng hãy đọc lại xem. “Nếu không hiểu những chuyện xảy ra ở Trên,” Kipling nhận xét, sau khi đã kể lại một trong những thành tích tình ái không tưởng nhất của bà Hauksbee, “anh sẽ không hiểu chuyện này khớp với chuyện kia thế nào, anh sẽ thấy điều xảy ra là không thể.” Nói cách khác, ở giai đoạn này trong sự nghiệp của Kipling, xã hội Simla (mà Kipling gian nan mới bước vào được) đã tự nó là một hội kín, một vòng tròn kín, và truyện kể về nó là truyện cho những ai “ở trong vòng những người biết”. Quả thật, những bí mật của xã hội đó là những bí mật xấu xí, hiểu biết mà tác giả tiết lộ là thứ hiểu biết của kẻ bị thất vọng; nhưng đó là do tác giả còn trẻ. Các tay viết trẻ - nhất là các tay viết trẻ đang đắm đuối vì bùa mê của Vòng Tròn Kín - thích phóng đại sự yếm thế và sự tinh vi của thế giới rộng lớn, bởi nhờ làm vậy mà họ thấy mình đỡ non. Ta thấy ngay Kipling sung sướng như thế nào khi viết: “Simla là một chốn kỳ lạ … nhưng ai chưa ở đó đủ mười mùa thì chưa đủ tư cách nhận xét!” Đây là tinh thần của gần như toàn bộ tác phẩm Kipling, mặc dù sau này tác giả đã áp dụng nó vào các vòng tròn kín thú vị hơn Simla. Quả thật, những chuyến phiêu lãng với “tính hội kín” vào ngày còn trẻ tuổi có gì đó thật ngon giòn. “Ở Ấn Độ, nơi ai cũng biết ai”, rồi thì “Tôi đã sống ở Ấn Độ đủ lâu để biết rằng tốt nhất là đừng biết gì.”
Kỳ tích của Kipling là thế này. Ông là người đầu tiên làm sáng tỏ cái ma thuật của Vòng Tròn Kín với vô vàn cách vận hành của nó. Các tác giả đi trước mới trình bày nó dưới hình thái của sự hợm hĩnh, và hợm hĩnh là một hình thái rất ngách của Vòng Tròn Kín này. Tiếng mời gọi của Vòng Tròn Kín - những người mà ta quen biết, hội nhóm ta vốn thuộc về, các câu chuyện xoay quanh “công việc” - có thể khiến ta từ bỏ một xã hội tầng cao để về một xã hội tầng thấp. Chúng ta không chỉ muốn thuộc về một junto[5]; chúng ta muốn thuộc về junto “mà ta cảm thấy thuộc về”. Kipling cũng chẳng có gì sai khi ông gán cho tinh thần hội kín này sức mạnh khổng lồ trong việc làm điều thiện. Danh dự của nghề nghiệp (và danh dự ấy, đối với người làm nghề, lớn lao không kém trinh tiết đối với một trinh nữ - theo lời McPhee), cái aidôs[6] mà chúng ta chỉ cảm nhận khi đứng trước các đồng nghiệp, cái tình huynh đệ vững vàng của những kẻ “đã qua tất cả” cùng nhau, là những thứ không thể thiếu trong việc vận hành thế giới này. Hội thợ thuyền này, sự kết minh này, là cái mà mỗi ngày đang giúp những kẻ tầm thường vươn đến những nấc thang chăm chỉ hay can trường mà họ không thể nào leo tới nếu chỉ nhờ vào những lý tưởng đạo đức cá nhân hơn. Không có nó thì không có điều tốt lành nào vận hành được lâu.
Chỉ có điều - và điều này Kipling hình như không nhìn ra - là không có nó thì cũng chẳng gian ác nào vận hành được. Nỗi hoài cảm khiến một người cựu binh trở về với quân ngũ (“Tôi ngửi thấy mùi doanh trại, tôi nghe tiếng kèn gọi quân”) lại cũng dẫn lối cho tên tội phạm về với cộng sự cũ, về với “ràn” cũ. Ánh nhìn hay lời khiển trách kín đáo từ một người huynh đệ quả thật là cái giúp một người huynh đệ đang yếu hơn vươn lên hoặc duy trì một tiêu chuẩn nào đó trong một ngành nghề cao đẹp nào đó. Nhưng nó cũng là cách để dẫn dắt một thành viên mới và vẫn còn vô tội đi vào hành vi thối nát xấu xa của một ngành nghề xấu. “Kiểu gì mà chả xong,” người ta đã chẳng nói với nhau câu ấy mãi rồi đấy thôi; tức là không cần “hình thức” hay hoạt náo làm gì, chỉ cần một cái gật đầu, một cái nháy mắt giữa một chầu whiskey pha soda, là họ đã dắt nhau qua sông Rubicon. Tinh thần của Vòng Tròn Kín là một tinh thần trung tính về mặt đạo đức - nó là đứa đầy tới vâng lời của lòng can đảm và tinh thần công vụ, nhưng nó cũng là đầy tớ của sự tàn nhẫn, bóc lột, đàn áp và dối trá.
Hình như Kipling không ý thức điều này, hoặc ông thờ ơ. Ông là tôi đòi cho Vòng Tròn Kín; ông biểu đạt cảm xúc, nhưng không đứng ngoài để phê phán nó. Ông chơi cho phe mình; nhưng về việc chọn phe thế nào, về những hạn chế của sự chia phe sau khi ai nấy đã chọn phe mình, thì ông lại không nói được gì nhiều nhặn. Ông Eliot đã đúng khi gọi Kipling là người ngoại giáo. Khép cho ông tội gì, chứ không bao giờ có thể khép cho ông tội bất kính. Ông là một người bất khả tri thành kính theo kiểu ngoại giáo, và ông giữ thái độ này với bất cứ câu hỏi tối hậu nào. “Khi người ta đã đến trước cửa xoay của Đêm,” ông viết trong lời tựa của Life’s Handicap, “thì lạ thay, mọi tín lý trong cuộc đời đều giống nhau và đều không màu.” Ông có một lòng bao dung cũng đặc thù của ngoại giáo luôn; một sự bao dung rộng lớn (đây là điều hiếm gặp) đến nỗi nó phủ lên cả Ki-tô giáo, vốn là tôn giáo đã cho ông vay mượn cách xây dựng từ ngữ để đạt hiệu ứng hùng biện vào những phút ông lên cơn Swinburne.[7] Nhưng sự bao dung ấy lại cũng yếu mỏn và hồ nghi; năng lượng của tác giả đã trút hết vào việc thờ phượng những con yêu, những bán thần ở tiền cảnh - những Nghề, những Phe và những Vòng Tròn Kín, mặc dù giá trị của chúng thì ông gần như không tra xét. Những đứa đầy tớ này đã được ông tôn lên làm chủ; đám nửa thần nửa quỷ của ông đã hất cẳng thần linh đúng nghĩa.
Nhưng cũng có bằng chứng cho thấy một Kipling khác. Có những thời khắc mềm mại đến rùng mình - chính bản thân Kipling đã bị tổn thương - khi ông viết về trẻ con hoặc cho trẻ con. Và có cả các truyện “lạ”, “dị” nữa - At the End of the Passage, The Mark of the Beast, They, Wireless. Đây có thể là các tác phẩm hay nhất của Kipling, nhưng chúng không đặc trưng cho ông. Mở ngẫu nhiên một tác phẩm của ông, nhiều khả năng chúng ta thấy ông đang làm tôi cho một Vòng Tròn Kín nào đó. Nông thôn Anh và lối sống của nó được ông yêu một phần là bởi các triệu phú Hoa Kỳ không thể hiểu nó; họ không đứng trong vòng những kẻ biết. Các truyện hài của ông chủ yếu là về những cú chơi khăm. Một kẻ đứng ngoài và mờ mịt về những điều đang diễn ra bên trong: đó là cách pha trò ưa thích của ông. Đến như rừng rậm của Kipling cũng không thoát được câu chuyện này. Các đầu máy xe lửa của ông rồi cũng chỉ là những Mulvaney hay anh những lính mới mang lốt nồi hơi. Ngựa non dùng trong polo của ông thực chất là những chú ngựa non mới vào trường nội trú. Các thánh, các thiên thần của ông lại là các thánh, các thần của một thiên đàng mang tên ngành công chức. Chính sự hiện diện khắp nơi của cái Vòng Tròn này, chính sự am hiểu nội tình khiến người ta phát mệt này, là cái về lâu về dài khiến cho tác phẩm của ông ngột ngạt, khiến người ta không chịu nổi. Trong khi đó bối cảnh đằng sau, trớ trêu làm sao, lại gần như là sự Trống Trơn, một sự mơ hồ xám ngoét.
Nhưng Kipling là một nhà văn rất lớn. Sự say mê với nghề, sự năng động của Vòng Tròn Kín: đây là thứ chiếm một phần rộng lớn trong đời sống con người. Ở Kipling - dù ở các tiểu thuyết kiểu truyền thống thì không - nó cho thấy nó còn mạnh hơn tình cảm gia đình, lòng trung thành với tổ quốc, mạnh hơn tôn giáo, thậm chí mạnh hơn các tật xấu. Điều này đã giúp Kipling thành công với hàng nghìn độc giả tìm đến ông sau khi họ đã bỏ lại văn học hư cấu cũ cho đàn bà và con nít đọc. Và sự thành công ấy là xứng đáng. Ông đi vào lòng họ nhờ đi được vào công việc của họ và cho họ thấy cuộc sống như họ đã trải nghiệm nó. Đây là một thành tích bậc cao; cũng giống như phát hiện ra một nguyên tố hay một hành tinh mới vậy. Cách viết này, theo cách của riêng nó và nếu chỉ xét riêng nó, là “trở về với tự nhiên”. Cách chữa cho những chỗ thiên lệch và nguy hiểm trong nhân sinh quan Kipling là tốt nghiệp Kipling và thêm cho nó các biện pháp sửa trị cần thiết - chứ không phải là phủ nhận ông. Đã có Kipling rồi thì không ai còn cớ để mặc nhiên cho rằng những điều quan trọng nhất trong đời người chỉ xảy đến kể từ khi công việc hôm nay kết thúc cho đến khi công việc ngày mai bắt đầu. Đừng ai tỏ ra mình đứng trên Kipling làm gì. Có thể ông đã lầm tưởng “một kiểu thần khác” là thần linh đích thực; nhưng các thần khác ấy là có thật và quyền năng.
[2] Holy Grail. Các hiệp sĩ trong truyện kiếm hiệp Arthur đã truy tìm chén này. Về sau nó được dùng làm biểu tượng cho cái đích của các cuộc tìm kiếm.
[3] Pedantic: câu nệ.
[4] Trích từ Lycidas của Milton; “Sống như bao người có phải hơn không?”
[5] phe cánh
[6] liêm sỉ
[7] Nếu chỉ dựa vào nội dung của chúng mà xét thì nhiều bài thơ không khác gì văn học Ki-tô giáo.
