favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

1. Thế giới của Kipling - Bài nói chuyện ở Hiệp Hội Anh Văn

Người ta thậm yêu và người ta thậm ghét Kipling. Gần như không có ai chỉ thích ông một tí. Những người ái mộ thì sẽ bảo vệ ông đến cùng; họ phản đối những lời chê trách ông như thể Kipling là nhân tình hay đất nước của họ chứ không phải nhà văn nữa. Phía còn lại thì chống lại ông như thể họ có thù hằn cá nhân với tác giả. Không khó nhìn ra lý do tại sao có hai thái độ này; và lý do ấy sẽ mỗi lúc một thêm rõ ràng trong quá trình chúng ta tìm hiểu. Tôi xin tạm nói đã, rằng tôi không thuộc về bên nào.

Cả đời, tôi đã đọc Kipling rồi lại thôi; thôi được một thời gian, tôi đọc lại. Chưa lần nào quay lại với Kipling mà lòng tôi không mang một niềm ái mộ mới mẻ dành cho ông. Nếu một vị độc giả có gu nào lại không xem Kipling là một nghệ sĩ lớn thì đó là điều tôi chưa bao giờ hiểu nổi. Mặt khác, tôi chưa bao giờ nằm lòng Kipling. Kipling không phải là nhân vật không thể thiếu cho tôi; dẫu cho ấn bản cuối cùng của Kipling biến mất, đời sống vẫn cứ diễn ra bình thường. Tôi còn dám mạnh mồm hơn nữa kia. Sự gắn bó của tôi với Kipling không những nửa vời, nó lại còn thiếu ổn định. Thường thường cứ sau vài ngày đọc Kipling, tôi thấy khựng lại. Mới phút này tôi còn đầy sung sướng vì sự đa dạng và vững vàng của tưởng tượng Kipling; nhưng ngay phút sau, tôi ngán, ngán tận cổ toàn bộ thế giới của ông. Đương nhiên với bất cứ tác giả nào chúng ta cũng đạt đến độ bão hoà thôi; sẽ đến lúc ngay cả Boswell hay Virgil cũng không vào nữa. Vậy nhưng ta tạm biệt họ như bè bạn; ta biết rằng một ngày khác, ta sẽ lại muốn có họ; trong quãng thời gian giãn nhau, ta nghĩ về họ mà thấy vui vẻ. Nhưng điều tôi nói về Kipling thì khác. Cái tôi muốn nói là cảm giác mất hứng thú thật sự, một cảm giác bị đẩy ra. Trong phút giây ấy, thế giới Kipling không phải là nhàm chán nữa (Kipling không bao giờ nhàm chán) mà là không thể chịu nổi - nó hoá thành một thế giới quái đản thật nặng nề, chói mắt và ngột ngạt. Khác biệt này có thể đem ví với khác biệt sau: một bên là thôi, tạm thời không ăn thêm bánh mì bơ nữa, với bên kia là vừa chực mửa, vừa tự hỏi sao mới đây thôi mình lại thích được vodka cơ chứ.

Tôi không mặc nhiên cho rằng sự thay đổi đột ngột trong cảm nhận này là hợp lý. Nhưng chắc chắn có nguyên nhân đằng sau nó, và tôi mong là nhờ khám phá những nguyên nhân này mà chúng ta sáng tỏ hơn về Kipling. Tôi cho là có hai nguyên nhân: nguyên nhân thứ nhất xuất phát từ cái mà tôi gọi là hình thức, nguyên nhân thứ hai xuất phát từ cái gọi là chất liệu, của tác phẩm Kipling. Đúng là nếu ta đi quá xa, hoặc đi theo một số hướng nhất định, thì sự phân biệt hình thức - nội dung này sẽ nhoà đi. Vậy nhưng sự phân biệt đó tạm thời thích hợp với mục đích trước mắt của tôi.

Như tôi thấy, nguyên nhân thứ nhất khiến tôi bị đẩy ra khỏi Kipling không phải là thiếu sót mà là sự thừa thãi trong kỹ năng của ông. Chính ông đã kể ông chuốt từng câu chuyện để đưa chúng đến hình thù sau cùng như thế nào. Ông nhúng cây cọ vào mực Ấn rồi lựa “giờ thuận lợi” để đọc lại bản thảo, chăm chú xem lại “từng đoạn văn, từng câu văn, từng từ”, “đâu cần dập là dập ngay”. Một thời gian sau, ông đọc lại truyện mình viết và thường nhận thấy nó cần được “rút gọn lần thứ hai”. Rồi mới đến lần đọc thứ ba; ông sẽ quyết định chỗ nào cần bỏ hoặc không cần bỏ nữa.[1] Đây là một ví dụ tuyệt vời cho thứ kỷ luật mà Horace sẽ khen ngợi. Nhưng tôi nghĩ là luyện tập, đến một mức nào đó, sẽ là quá mức ngay cả cho một vận động viên. Thịt nào thừa thì cần tập cho ngót đi; nhưng một huấn luyện viên tàn nhẫn sẽ có nhận định quá nghiêm khắc về cái gì là thừa. Tôi nghĩ Kipling đã dùng mực Ấn của ông hơi nhiều. Đôi khi câu chuyện bị lèn nhỏ lại đến mức phiên bản hoàn chỉnh của nó lại không kể được câu chuyện gì; tôi vẫn chưa rõ những diễn biến trong Mrs Bathurst là những diễn biến nào. Nhưng ngay cả khi điều này không xảy ra thì cái mà tài nghệ Kipling đạt được vẫn là quá nhiều. Bất cứ câu nào không hoàn hảo và xuất sắc đều bị Kipling lược đi, và kết quả của việc làm đó là người đọc bị mệt. Tác giả không cho ta nghỉ ngơi: ông oanh tạc bằng các diễn đạt khéo cho đến khi độc giả điếc đặc thì thôi. Không có không gian, không có nhàn rỗi. Trong chế độ ăn, người ta cần cả chất thô lẫn dưỡng chất; nhưng truyện Kipling không có chất thô - chỉ có vitamin, vitamin không ngừng nghỉ từ đầu chí cuối.

Kipling có thể đưa ra lời đáp trả thoả đáng cho phê bình này của tôi. Ông sẽ nói rằng ông viết truyện ngắn và các bài thơ ngắn; mỗi truyện, mỗi bài thơ ấy là một tiêu bản về Kipling trong một tạp chí nào đó. Tác phẩm của ông phải được hấp thu từng lượng nhỏ. Cũng như người nốc rượu mạnh như thể đó là bia sẽ không có quyền than phiền về tai hoạ đến sau, thì người ngồi xuống đọc một mạch hết cả truyện của Kipling cũng không có quyền than van về hậu quả của việc làm đó. Câu trả lời này, như tôi đã nói, cũng gần thoả đáng. Gần thôi - bởi ngay cả trong một truyện thì sự xuất sắc của các phần lại có thể gây hại cho hiệu ứng của tổng thể. Tôi muốn nói đến My Sunday at Home. Tình huống trong truyện thật xuất sắc; hễ nhớ đến The Wrong Box, chúng ta cũng sẽ nhớ đến My Sunday at Home mà cười hệch hệch. Nhưng, trong quá trình đọc cuốn của Kipling hoá ra tôi đã cười ít hơn tôi nghĩ mình sẽ cười; hoá ra khi nghĩ về câu chuyện của ông, tôi lại luôn nhớ tới cảm giác buồn ngủ ngày hè ở một ga tàu miền nông thôn Wiltshire. Bức tranh phong cảnh này được đưa vào chỉ để làm nổi bật không khí cô liêu của bối cảnh, vậy nhưng chính nó đã xoá nhoà đi diễn biến hài hước của câu chuyện.

Lỗi mà tôi chỉ ra ở Kipling là lỗi mà chỉ một nghệ sĩ lớn mới mắc phải. Với phần đông chúng ta, “bỏ bất cứ chữ nào có thể bỏ” vẫn là quy luật an toàn; chúng ta không phải lo là khi quá trình ấy kết thúc, kết quả thu được sẽ quá sống động, quá ý nghĩa. Thuần tuý nghệ thuật mà nói, đây là lỗi duy nhất tôi tìm được trong các tác phẩm trưởng thành của Kipling. Tôi nói chúng là các tác phẩm trưởng thành là vì như bao người khác, Kipling cũng trải qua một số thử nghiệm không thành công trước khi ông tìm được mạch đúng cho mình. Phải đến khi xét nội dung của ông thì tôi mới gặp những bất mãn nghiêm trọng.

Thế hệ độc giả đầu tiên của Kipling xem ông là cây kèn phát ngôn cho chủ nghĩa ái quốc và chủ nghĩa đế quốc. Tôi thấy quan niệm như thế về tác phẩm của Kipling là không đủ. Chesterton đã làm ơn cho ngành phê bình khi ông phản đối quan niệm này ở Heretics. Trong một chương nổi tiếng của cuốn ấy, ông thấy Kipling có hai tính cách căn cốt. Thứ nhất, Kipling đã tìm ra, hoặc tìm lại được, chất thơ của những thứ bình thường; ông đã nhìn ra, theo lời của Chesterton, “ý nghĩa và triết lý của hơi nước và của tiếng lóng”. Thứ hai, Kipling là một thi sĩ yêu kỷ luật - không phải đặc biệt là, và cũng không chỉ là kỷ luật quân đội, mà kỷ luật ở mọi hình thức. “Ông viết về lính,” Chesterton nói, “không hay bằng ông viết về thợ hoả xa, về thợ xây cầu, thậm chí về các nhà báo.” Ai đó có thể phản đối nhận định cụ thể này, nhưng tôi chắc chắn Chesterton đã ngửi ra đúng mùi.

Nói theo cách ngắn gọn nhất: Kipling, trên hết, là thi sĩ của lao động. Phải nói là thơ lẫn văn hư cấu trước thời ông đã tránh chủ đề này. Văn học trước đó chỉ viết về con người trong “thời gian cho riêng mình” - về các cuộc tình, tội ác, thể thao, ốm đau và những xoay chuyển của số phận. Ông Osborne là một thương gia, nhưng Hội chợ phù hoa không quan tâm đến đời sống thương gia của ông. Darcy là ông điền chủ tốt, Wentworth là một sĩ quan giỏi, nhưng hoạt động của họ trong các chức vụ ấy là những hoạt động “sau cánh gà”. Ngoại trừ các nhân vật lính tráng, đa số nhân vật của Scott không có nghề nghiệp; trong trường hợp họ là lính thì trọng tâm lại là những trận đánh và những chuyến phiêu lưu của họ, chứ không phải lối mòn sinh hoạt của nghề nghiệp. Nghề nghiệp xuất hiện ở Dickens chỉ trong chừng mực mà nghề nghiệp đó đồng thời là tội ác hoặc gây hài cho truyện. Ngoại trừ vài trường hợp[2], văn học hư cấu của thế kỷ mười tám và mười chín đã âm thầm loại bỏ hoặc đưa về hậu trường yếu tố vốn chiếm phần lớn thời gian của người ta khi không ngủ. Hệ quả không chỉ là một số khía cạnh kỹ thuật của đời sống ít được nói đến; mà nhiều cảm quan và cảm xúc - ở nhiều người, đó là cảm quan và cảm xúc mạnh nhất - cũng không được nói đến luôn. Vì rằng, như Pepys đã có lần ngạc nhiên nhận ra, nói chuyện công việc cũng có gì đó thú lắm. Kipling là người đầu tiên chiếm lại lãnh thổ này cho văn chương.

Những truyện đầu tiên của ông về xã hội Anh-Ấn vẫn còn tuân thủ quy ước sẵn có. Các truyện ấy nói về các cuộc tình, những vụ tự ý cưới nhau, các âm mưu và tranh chấp trong gia đình. Các tác phẩm này có liên hệ với tác phẩm về sau và điển hình hơn của Kipling bởi một sợi dây mà tôi sẽ bàn đến sau; thế nhưng trên bề mặt thì cái trước khác hẳn với cái sau. Departmental Ditties tiêu biểu hơn cho mối quan tâm đích thực của Kipling. Điều đáng nói về Potiphar Gubbins không chỉ là ông ta bị cắm sừng; mà những chiếc sừng đã mang lại cho ông sự thăng tiến trong ngạch công chức, trong khi những cây cầu ông ta xây thì rất dở. Cái đau trong The Story of Uriah không chỉ nằm ở sự suy đồi của bà vợ, mà ở cả việc chồng bà ta, tiện thay cho gã nhân tình của vợ, đã bị cử đi để rồi chết ở Quetta, để “nhậm cái chức rất hại thân ấy và một mình làm công việc của hai người”. Exeter Battleby Tring, người có chút hiểu biết thật về đường sắt, lại bị kẻ khác lấy đồng rupee đấm mõm, ngõ hầu “những vị thần kẽm tí hon (nguyện các ngài mãi thạnh vượng!)” có thể giữ cho “Vòng Tròn” của các ngài khỏi bị hề hấn gì. Boanerges Blitzen tự huỷ hoại sự nghiệp công chức của mình vì anh ta đã lột trần “các bê bối công sở” trên mặt báo. Tập truyện nhỏ ấy cho thấy một xã hội thối nát - thối nát không phải vì nhàn rỗi, mà thối nát trong công vụ. Ở các tác phẩm về sau, sở thích khắc hoạ con người trong công việc của họ trở đã trở thành đặc điểm rõ rệt của Kipling. Những niềm tin và nỗi sợ của Findlayson về cây cầu anh xây, thái độ của McPhee với động cơ máy móc lẫn giới chủ, những thành tựu của William the Conqueror ở quận có nạn đói, người giữ hải đăng làm việc trong vị trí của mình vào một đêm sương mù, Gisborne và sếp của mình trong rừng, McAndrew đứng gác - đây là các chi tiết trở lại trong trí nhớ khi chúng ta nhớ về Kipling; trước ông, văn học chưa hề có các tình tiết như vậy. Các bài thơ của Kipling cũng ngân cùng một điệu. Dufferin (chịu ảnh hưởng lớn từ Giám mục Blougram) giao arcana imperit[3] cho Lansdowne; những người do thám chuyên nghiệp lên đường, “mỗi người tự mình trình diện, bè bạn không ai thấy, cũng không ai liên hệ được”; thuỷ thủ đoàn của tàu Bolivar, “đã hoá dại vì công việc và vì mệt mỏi”, “nhìn đèn trên con tàu chợ chết tiệt nào đó sáng như đèn một khách sạn lớn”; H. Mukerji gửi về thủ cấp của Boh, kèm theo lá thư viết bằng thứ ngôn ngữ đặc giọng hành chính; anh công nhân goá vợ đứng giữa những cánh quạt và dây băng kêu ầm ầm trong một nhà máy sản xuất đạn. Tiếng đế giày lê trên mặt đường, máy Harrild và máy Hoe cứ thế nuốt “núi giấy dài cả dặm”, hay tiếng cọt kẹt của bánh xe nước - nhịp điệu của lao động vang khắp thơ và văn Kipling, không tác giả nào sánh bằng. Đến như Mowgli rồi cũng phải nhận một vị trí trong ngành công chức. Đến như The Brushwood Boy cũng đi lạc khỏi chủ đề trung tâm để cho thấy nhân vật chính, trong quá trình làm việc, đã lao khổ và bắt kẻ khác phải lao khổ thế nào. Ngay cả khi Kipling đưa ta vào một quá khứ xa xôi, ông cũng không thèm tưởng tượng xem làm một người cổ đại hay một người ngoại giáo là như thế nào. Ông chỉ tưởng tượng một người làm một công việc của thời cổ đại sẽ thấy thế nào - một tên nô lệ chèo thuyền, một sĩ quan trong quân đội La Mã. Ánh sáng rọi qua lỗ thòng mái chèo - chi tiết mà ai phục vụ trên thuyền chiến cũng nhớ nhưng không ai khác biết: đây mới là tài nguyên mà Kipling khai thác.

Nhưng chúng ta không nên quy cho Kipling tội nhấn chìm yếu tố nhân bản bằng khối chi tiết khổng lồ về nội dung và kỹ thuật. Quy như vậy sẽ là lầm. Chi tiết được đưa vào là để làm sáng tỏ nhân bản; chỉ có điều, nhân bản này là thứ chưa có nhà văn nào trước đó nói đủ nhiều. Cái Kipling truyền đạt - dù hay hay dở thì đây là một sức mạnh rất lớn - là mối quan hệ vô song mà những người cùng làm một việc có với công việc ấy và có với nhau; mối buộc ràng không thoát ra được mà trải nghiệm chung và trên hết là gian khổ chung đem lại. Đây là một tình keo sơn có đến hết đời:

Có thuỷ thủ nào, được quyền chọn lựa

lại không cất nhà bên cạnh biển khơi

Trinh tiết lòng ta, một lần trao gửi:

đã trao về đâu, quyến luyến cả đời.

         

Chính vì thế mà ở Steam Tactics, Hinchcliffe, người mà khi được nghỉ phép đã “tạ ơn Đấng tạo ra mình vì không phải thấy, không phải ngửi, không phải chạm vào động cơ hơi nước cho tới ngày mười chín tháng tới”, đã chịu bắt tay ngay vào việc nghiên cứu xe động cơ hơi nước.

Và cũng chính vì thế mà Kipling nhà báo đã viết:

But the Jew shall forget Jerusalem

Ere we forget the Press[4]

Ở khổ tiếp theo, Kipling giải thích vì sao. Người đã “qua giờ cần lao vất vả” và “châm tẩu thuốc trong bình minh thanh tịnh” - người đã trải nghiệm quy trình sản xuất một tờ báo trong đêm - là người “đã đặt vào đó cả lòng mình”. Đó là toàn bộ điều Kipling muốn nói. Chúng ta, những kẻ làm cùng một nghề (nhà báo, lính tráng, nô lệ chèo thuyền, công chức Ấn Độ, gì cũng thế) biết rất nhiều điều mà người ngoài sẽ không bao giờ, không bao giờ hiểu được. Như đôi trẻ yêu nhau trong The Light that Failed, chúng ta “cùng thuộc về”. Trong đời sống, đây là mối liên kết mạnh hơn bất cứ mối liên kết nào:

Người của tôi, họ là người của tôi

họ làm điều tốt, luôn những điều tồi

nhưng dối của họ là dối của tôi,

và dối của tôi, họ đã quen rồi.

Chúng tôi đi mua, đi bán với nhau

không cần thông ngôn, phiên dịch gì đâu:

cần chi thứ ấy, đã quen nhau rồi.

Mới giống đời thật làm sao sự khăng khít giữa ba nhà báo được cơ duyên nhóm lại trong câu chuyện ở A Matter of Fact.

Tinh thần của bất cứ nghề nghiệp nào cũng được Kipling thể hiện qua hình ảnh một người chủ sắt đá. Vậy nên tôi cho rằng Chesterton đã nắm bắt một phần sự thật không nhỏ về Kipling khi ông xác định kỷ luật là chủ đề trọng tâm của tác giả này. Không có gì được Kipling mô tả với nhiều say mê cho bằng quá trình một sư tử con bị tinh thần của nghề nghiệp rèn cho vào khuôn. Đây chính là chủ đề của tiểu thuyết dài Captains Courageous. Nó cũng là chủ đề của The Centaurs, của Pharaoh and the Sergeant, của The ‘Eathen. Nó là ý nghĩa phóng dụ được thể hiện ở The Ship that Found Herself. Nó là chủ đề ẩn mình trong các truyện về quân đội, các truyện về đi biển. Thậm chí có thể cho rằng tác giả quá hay lạc ra khỏi mạch tự sự chính để đảm bảo với người đọc rằng cái vô giá của Mulvaney là anh ta hay “chuốt cho đám lính mới vào khuôn”. Ngay cả khi Kipling tìm đến rừng sâu và bầy sói để dựng truyện thì cũng không có gì vượt ra ngoài chữ Luật. Với Kipling, chưa được đưa vào kỷ luật - “cho nếm trải”, chuốt vào khuôn - thì con người ta vẫn chỉ là nguyên liệu thô. “Trời hỡi,” Hitchcock cảm thán với Findlayson trong The Bridge-Builders, “hồi mới vào, em mới là con sói non từ Cooper’s Hill thôi.” Findlayson đến lượt mình cũng ngâm ngợi: “Hồi ấy thật mới là con non; giờ chú đã thành chân phụ tá.” Triết lý này được tóm gọn lại ở đoạn cuối truyện A Walking Delegate. Con ngựa vàng (kẻ xích động) hỏi con ngựa kéo nhiều thâm niên: “Thế bác không tôn trọng cái phẩm giá của loài ngựa chúng ta ư?” Câu trả lời là thế này: “Này con, con khởi đầu là ngựa. Ở đây ai cũng hiểu ngựa là thế nào, ngựa không phải là một đứa con cao đẹp, linh hồn thanh sạch mà Tự Nhiên sinh hạ. Ngựa, thuần ngựa, như con ấy, là loài đầy rẫy mưu mẹo, hèn hạ, ương bướng và những trò láu cá. Đấy là ngựa đấy; và phẩm giá của ngựa chỉ thế thôi, chỉ to bằng đúng cái tâm hồn hèn mọn của nó trước khi ngựa được rèn, trước khi người ta quất cho nó nên thân.” Thế chữ “ngựa” bằng chứ “người”: chúng ta liền có học thuyết của Kipling về con người.

Đây là một trong những điều quan trọng nhất mà Kipling đem nói với chúng ta. Đây là điều mà ông nói rất nghiêm túc, và là một trong những điều khiến ông bị ghét. Nó sánh ngang với một học thuyết về tội nguyên tổ, khí chất ở nó đi ngược với khí chất của nhiều tư tưởng hiện đại. Phản cảm hơn nữa có lẽ là tưởng tượng của Kipling về quá trình “rèn” và “quất” này. Ở His Private Honour, quá trình ấy chỉ là bắt nạt kéo dài và sỉ nhục không thôi; nó là kiểu bắt nạt (như trong The ‘Eathen) khiến một người đàn ông thành nhân phải ra một chỗ hu hu khóc, sau lưng là tiếng cười nhạo của đám thợ ma cũ. Nhân vật không được đòi cho mình bất cứ quyền cá nhân nào; vì theo Kipling, không có gì gây suy yếu cho tập thể bằng hành vi đó. Đòi công bằng là nặng tội ngang với làm phù chú. Tai hoạ được nói đến ở bài thơ That Day đã bắt đầu từ lúc “mỗi tay trống đòi quyền này quyền nọ”. Ortheris đáp trả đầy khinh bỉ: “Quyền của tôi! Quyền của tôi! Đi lính không phải để kêu ca về quyền được làm thế này, quyền được làm thế khác như kẻ không biết tự lo thân. Quyền của tôi! Tôi là kẻ thành nhân rồi chứ bộ.”

Sẽ chẳng có ích gì nếu chúng ta phủ định sạch trơn phần thông điệp này của Kipling như thể nó không đáng cho người ta nỗ lực theo đuổi. Ở nó có một chân lý mà ta phải đối diện trước khi ta đi tìm một chân lý lớn hơn mà nó chưa động đến. Nhiều người ghét Kipling đã bỏ qua bước đầu này. Họ cảm thấy chính họ là thứ người chưa chuốt, chưa rèn mà Kipling chê trách; họ thấy hình dung của ông về họ khó chịu quá, và hình dung của ông về cách chữa trị cho họ lại càng khó chịu hơn. Để thoát ra, họ phủ nhận ông với cáo buộc rằng Kipling tàn bạo kiểu phát xít, kiểu “trường nội trú”. Nhưng đây không phải cách giải quyết đâu. Chúng ta có thể hoặc không thể vượt lên trên đúc kết tàn nhẫn này của Kipling; nhưng đã muốn vượt lên thì trước hết phải đạt đến tầm của nó đã. Bảo vệ và nuôi ăn nuôi mặc cho cả thế giới này là công việc không thể diễn ra trong hai tư giờ nếu không có một quân đoàn đông đảo gồm những người cứng cỏi, thạo việc và không nhiều cảm thông, nếu không có những quy trình kỷ luật hà khắc mà nhờ đó quân đoàn này mới hình thành được. Đây là một sự thật tàn nhẫn. Sự thật tàn nhẫn là nếu không có nhiều người thực hành luân thường của Kipling, thì sẽ không có đủ an ninh hay nhàn rỗi cho bất cứ ai khác thực hành một luân thường nào tinh tế hơn. Như Chesterton đã thừa nhận: “Trong phút vô tư thánh thần, ta có thể thả mình trên chiếc võng; nhưng ta biết ơn vì người dệt chiếc võng đó đã không dệt nó trong phút anh ta vô tư như thánh thần.” Trong The Proconsuls, về những người cai trị bằng bàn tay cứng rắn, Kipling đã nói:

Trên chiếc bục họ dựng cho Tự Do

- nơi người đi lại khoan thai và nhàn tản -

họ chịu tiếng ác, chịu điều nghi kỵ

từ những đầu lưỡi họ đà giải phóng cho.

Đây là bản cáo trạng xác thực đấy. Chúng ta sẽ không ngồi đây mà bàn về Kipling được, trừ phi các phẩm chất Kipling - bạn muốn gọi là tật xấu Kipling cũng được - đã được thực hành trên thế giới này đủ lâu và đủ rộng rãi. Nếu người ta chỉ đứng đó nói về quyền của mình mà vẫn chưa leo lên cột buồm, chui xuống cống, gầy một lò than hay tham gia quân đội, thì chúng ta chết hết. Nói chuyện về quyền cũng không dạy cho người ta biết làm những việc này. Phải đồng ý với Kipling thôi: một người ám ảnh về quyền của mình không chỉ là con người gây tai vạ, mà còn là người rất khó yêu. Thật thế, một trong những điều dở nhất của việc đối đãi ai đó bất công là khiến cho anh ta bị ám ảnh về quyền lợi bản thân.

Nhưng nếu thật là như vậy, ta lại càng thấy con người phải được đối đãi cho công bằng. Nếu chúng ta đều cần được “chuốt cho vào khuôn” và nếu, trong quá trình đó, chúng ta không được khư khư quyền mình, thì lại càng cần ai đó bảo vệ những quyền ấy hộ chúng ta. Kipling nói gì về chủ đề này? Bởi rõ ràng là cùng những phương pháp mà ông đề ra để chuốt con sư tử con vào khuôn, để “rèn nó thành người” nhằm phục vụ cộng đồng, cũng đồng thời là những phương pháp hữu hiệu mà các ông chủ - nếu họ là kẻ xấu - sẽ sử dụng để vừa bịt mồm con sư tử con ấy, vừa bóc lột và bắt nó nô dịch để kiếm tư lợi. Đúng là đám ngựa con (ở Centaurs) phải học vâng lời Chiron để trờ thành những chú ngựa chiến ích dụng; thế nhưng nhỡ Chiron muốn chúng vâng lời chỉ để đưa chúng về lối nhà mổ thì sao? Những người chủ lại không bao giờ biết xấu xa ư? Đọc một vài truyện, ta hầu như kết luận rằng Kipling không hay biết, hoặc không nếm xỉa, đến khả năng này. Ở His Private Honour, lính cũ dạy dỗ lính mới bằng cách bắt nạt không ngừng nghỉ. Kipling hình như không ý thức được rằng bắt nạt là hành động mà loài người thích thú. Trong truyện, Kipling cho thấy những người lính cũ hoàn toàn miễn nhiễm với cám dỗ này: họ doạ, giễu và đánh đập lính mới vì những động cơ cao cả nhất. Liệu đây có phải nét ngây thơ của tác giả? Ông kém hiểu biết đến thế ư? Hay ông không thèm quan tâm luôn?

Không phải Kipling không hiểu biết. Khi khởi đầu với Kipling, chúng ta xem ông là người hát tụng ca cho toàn bộ hệ thống của đế chế. Nhưng khi xét kỹ, chúng ta phát hiện ra rằng ông luôn dành sự ái mộ cho những người ở các chức vụ thấp. Đây là những người “ở ngoài thực địa”, họ là những kẻ thực sự gánh vác; còn những người ở trên thì ngu xuẩn và dốt nát. Ở trung tâm của toàn bộ thế giới Kipling là xã hội Simla kinh tởm, nó là một vòng tròn nơi tỉnh lẻ, chơi đùa một cách cẩu thả với sự nghiệp và thậm chí tính mạng của con người ta. Hệ thống mục ruỗng ở phần đầu; bất cứ thăng tiến nào cũng có teterrima causa[5] hết. Findlayson chứng kiến công việc bàn giấy mấy tháng trời đổ bể trong phút chốc khi Chính phủ Ấn Độ, vào phút cuối, quyết định tăng chiều rộng của cây cầu thêm 2 foot chỉ vì họ nghĩ “cầu xây bằng giấy.” Sau cái chết đau xót của Orde (một trong những cảnh bi tráng hay nhất của Kipling), thành tựu cả đời của nhân vật ấy bị tan tành vì ông phó vương không biết gì đã cắt một Babu thế vào chỗ trống. Ở Tod’s Amendment, tai hoạ được ngăn chặn bởi một đứa bé, đứa bé ấy biết thứ mà tất cả nhà cai trị đất Ấn Độ (các “ông thần bằng kẽm”) không biết. So sánh The ‘Eathen với The Sergeant’s Wedding, ta thu được kết quả thú vị. Ở một truyện thì các trung sĩ là những nhà độc tài biết thương người - chỉ khi đối diện với sự mềm yếu và ích kỷ của lính mới thì các trung sĩ ấy mới nhận ra họ là những tên bạo chùa tàn ác. Ở truyện thứ hai, ta thấy một trung sĩ lợi dụng chức vụ để lừa đám lính lấy tiền. Rõ ràng là tên trung sĩ ấy cũng đầy đủ động cơ như các trung sĩ tốt để ghét những tên binh nhì hay lải nhải về “đúng với chả sai”.

 

[1] Autobiography, Chương 8. (NC)

[2] Có lẽ Middlemarch là xuất sắc nhất trong số ngoại lệ này. (NC)

[3] bí mật quyền lực

[4] Dân Do Thái đã quên Gia Liêm

mà chúng ta chưa quên máy ấn

(Máy ấn tức máy in.)

[5] nguyên do kinh khủng đứng sau

Thêm vào giỏ hàng thành công