3. Ảnh hưởng văn chương của bản dịch Vua James - Bài giảng Ethel M. Wood, Đại học London, 1950
Trong văn phong trưởng thành của Ruskin - trong chính đoạn văn trên - chúng ta nhận ra yếu tố từ Johnson, còn yếu tố Kinh Thánh thì không. Ở những chỗ khác, dù tôi không phủ nhận sự hiện diện của Kinh Thánh (nhất là ở các hình ảnh), song nó vẫn chỉ là một trong nhiều vật liệu được sử dụng. Tôi thấy “vật liệu” là từ thích hợp nhất. Kinh Thánh chỉ là một giữa nhiều màu trong hộp vẽ của tác giả và được ông sử dụng theo cách ông cho là tốt. Ông có nhiều màu khác nữa. Và với tôi, cái làm nên hiệu ứng tổng thể ở Ruskin - thật khác hẳn bản Vua James - là cấu trúc câu dài trong văn xuôi của ông. Ngay ở đoạn văn tôi trích - nếu đem sánh những khúc cao biện hơn ở Modern Painters hay The Stones of Venice thì đoạn này vẫn là một thứ văn thân thiện và mang tính thư từ - các bạn chắc đã để ý đoạn chuyển ý nor was it possible. Đây là thứ Ruskin đã học từ Latin cổ điển; đến câu dài kiểu Ruskin thì cũng là câu Latin cổ điển luôn. Công thức của văn phong Ruskin là gì? Một cấu trúc câu được truyền từ Cicero xuống văn xuôi của Hooker, Milton và Taylor, sau đó được điểm tô những sắc màu lãng mạn - thứ sắc màu sẽ được dùng để tô luôn lên cả Homer lẫn Kinh Thánh. Nếu ta lấy đi phần đóng góp của Kinh Thánh, văn Ruskin sẽ kém đi; thế nhưng nó không thể què đi, và chắc chắn không thể tan biến. Kinh Thánh có ảnh hưởng thật, nhưng ảnh hưởng hạn chế. Trái ngược hẳn với nó là ảnh hưởng của sử thi Ý lên Spenser. Nếu ta lấy khỏi Faerie Queene tất cả những gì Spenser học hỏi từ Ariosto và Boiardo, thì hoặc là không còn lại gì, hoặc cái còn lại là một bài thơ vô cùng khác. Và điều này hoàn toàn hoà hợp với quan điểm cho rằng Spenser cũng đã thêm phần gì đó của riêng ông, thậm chí đã biến hoá các văn bản gốc. Nhà giả kim có thể biến bạc thành vàng, nhưng trước hết anh ta phải có bạc trong tay.
Thoạt đầu, Bunyan có vẻ gần Kinh Thánh hơn Ruskin nhiều. Nhưng sở dĩ có ấn tượng này là vì cả Kinh Thánh lẫn Bunyan với chúng ta đều cổ lỗ và đều có cú pháp đơn giản. Nhưng trong chừng mực ấy thì bất cứ tác giả nào đồng thời với Bunyan cũng sẽ gợi nhắc chúng ta đến Kinh Thánh, không cần biết tác giả ấy đã đọc Kinh Thánh hay chưa. Chúng ta phải bỏ qua nét tương đồng trùng hợp này và nhìn sâu hơn. Tôi lấy ví dụ ngẫu nhiên sau.
So Mistrust and Timorous ran down the hill, and Christian went on his way. But thinking again of what he heard from the men, he felt in his bosom for his Roll, that he might read therein and be comforted; but he felt, and found it not. Then was Christian in great distress, and knew not what to do, for he wanted that which used to relieve him, and that which should have been his pass into the Celestial City. Hence therefore he began to be much perplexed and knew not what to do. At last he bethought that he had slept in the Arbour.[1]
Vấn đề không phải là ở bản Vua James xuất hiện bao nhiêu phần của Bunyan, mà là ở Bunyan sẽ xuất hiện bao nhiêu phần của bản Vua James nếu Bunyan chưa đọc bản ấy. Đương nhiên nhiều chỗ rất không giống Kinh Thánh: những cụm từ như “Then was Christian in great distress”, “he wanted that which used to relieve him”, “Hence therefore he began to be much perplexed”. Nhưng vẫn còn đó “he went on his way”, “he felt and found it not”, và “so” với công dụng bắt đầu một bước mới trong câu chuyện. Đây là cách hành văn kiểu bản Vua James, mặc dù cách dùng “so” này phổ biến ở Malory hơn là ở bản dịch ấy. Tôi không chắc Bunyan đã lấy những diễn đạt này từ cuốn Kinh Thánh ông đọc. Nếu rà khắp tác phẩm của ông, ta sẽ thấy những câu hay nhất và riêng nhất của ông lại là những câu không hề mang âm hưởng Kinh Thánh:
But the man, not at all discouraged, fell to cutting and hacking most fiercely.[2]
So I looked up in my Dream and saw the clouds rack at an unusual rate, upon which I heard a great sound of a Trumpet . . .[3]
Why, he objected against Religion itself; he said it was a pitiful, low, sneaking business for a man to mind Religion.[4]
Some also have wished that the next way to their Father’s house were here, that they might be troubled no more with either Hills or Mountains to go over: but the way is the way, and there’s an end.[5]
At last he came in, and I will say that for my Lord, he carried it wonderful lovingly to him. There were but a few good bits at the Table but some of it was laid upon his Trencher.[6]
Với tôi, những đoạn trên thể hiện cốt cách Bunyan. Lời văn không chảy qua Bunyan từ bản Vua James, mà từ bếp lửa, từ nhà xưởng, từ con phố nhỏ. Ông dân dã như Malory hay Defoe vậy. Các hình ảnh Kinh Thánh đã được tô thêm một vẻ ấm cúng nhờ bối cảnh ông tạo ra: “Nàng kể, nàng được sai đi đến với chồng mình. Rồi nàng dậy và kể chúng tôi nghe cảnh nàng đã thấy trong mơ. Nàng mơ mình ở một nơi xa lạ, giữa những thần linh bất tử đầu đội mão, tay gẩy đàn hạc.” Mão và đàn hạc hẳn đã đến từ sách Khải Huyền. Thế nhưng toàn bộ phần còn lại trong câu văn trên thì đến từ Bedfordshire; trong bối cảnh làng quê, hai hình ảnh từ Kinh Thánh đã được chuyển hoá. Tương tự, Núi Đẹp chính là núi đồi Bedforshire nhưng được khuếch đại, xanh mởn từ chân đến đỉnh. Không có Kinh Thánh, hẳn Bunyan đã không viết Pilgrim’s Progress vì đầu óc ông hẳn đã suy nghĩ khác. Thế nhưng cách hành văn của ông sẽ vẫn như thế dẫu trên đời này chưa từng có bản Vua James.
Nếu tôi đang nghĩ đúng; nếu, trong tư cách một luồng ảnh hưởng văn chương, bản Vua James không quan trọng như chúng ta hay tưởng, chắc có người sẽ yêu cầu tôi giải thích vì sao lại thế. Tôi nghĩ có hai nguyên do.
Trước tiên, chúng ta không được mặc nhiên cho rằng, từ khi ra đời đến nay, bản Vua James vẫn luôn mang cho độc giả nhiều niềm vui đọc như nó đã mang đến cho độc giả của thế kỷ mười chín. Nhờ Giáo sư Sutherland, giờ chúng ta đã biết đến một nhân vật dở tệ tên Edward Harwood, người mà vào năm 1768 đã xuất bản Tân Ước dịch thoát: Nỗ lực dịch các lời thánh theo đúng phong cách táo bạo, theo đúng tinh thần và sự trang nhã mà gần đây người ta đã dịch các tác phẩm cổ điển Hy Lạp ra tiếng Anh. Harwood nói ông ta muốn “sự trang nhã của tiếng Anh hiện đại” thế chỗ cho “ngôn ngữ nhạt nhẽo và mọi rợ của bản dịch cũ, vốn sử dụng một thứ tiếng dung tục”. Nhìn từ chuẩn mực chúng ta ngày nay, Harwood thật là con lừa ngờ nghệch. Nhưng chắc gì Harwood là nhân vật duy nhất thuộc kiểu này? Biết đâu ông ta chẳng phát biểu to rõ một thái độ phổ biến nhưng người ta chỉ vì biết nể nang hơn nên đã che giấu đi? “Nhạt và mọi rợ”, thiếu trang nhã … Nhưng chúng ta đã chẳng từng nghe những lời không quá khác lời Harwood hay sao? Ai đó đã chẳng nói về “cách thô thiển nhất”, simplicitas sermonis, humillium genus loquendi? Ngày nay chắc không ai phê phán bản Vua James hay nguyên tác Kinh Thánh bằng những lời này nữa. Ngày nay, những người không ưa Kinh Thánh sẽ xem hành văn của nó là diêm dúa, thổi phồng; người thích thì lại khen vì sức mạnh gây bàng hoàng choáng ngợp của nó. Từ khi nào và làm thế nào mà có chuyển biến này vậy?
Tôi nghĩ câu trả lời nằm ở đây. Cách tiếp cận hiện đại với Kinh Thánh (hoặc cách tiếp cận mà gần đây vẫn còn là hiện đại) là cách tiếp cận chịu ảnh hưởng sâu sắc của phòng trào Lãng Mạn. Lãng Mạn tôi nói đây không phải là các thi sĩ Vùng Hồ; tôi muốn nói đến sở thích dành cho cái nguyên thuỷ và cái đa cảm - một sở thích cứ mỗi ngày mỗi lớn trong suốt thế kỷ mười tám. Những người đã làm sống dậy các bài ballad, gọi lên thần thoại Edda, các saga, Nibelungenlied, sử thi Kalevala, và cả những người đã làm giả Otranto và Ossian; những người mơ thấy các thi sĩ hát rong, các thầy phù thuỷ: đám họ hẳn là những người đã lắng nghe Kinh Thánh bằng một đôi tai khác. Sự đơn sơ thuở bán khai của một thế giới nơi vua đồng thời là chàng chăn cừu; lối phát ngôn đột ngột và huyền bí của các nhà tiên tri; cảm xúc mãnh liệt trong lồng ngực các tráng sĩ; lều trại, đàn gia súc, đồng vắng và núi đồi làm cảnh nền; nét mộc mạc trong các thí dụ và ẩn dụ của Chúa Jesus: chính là vào thời kỳ Lãng Mạn mà những thứ này mới lần đầu biến thành tư liệu văn học. “Những vật thấp hèn” mà Thomas More từng phải bảo vệ đã thôi không còn thấp hèn. Điều tương tự cũng đã xảy đến với Homer. Scaliger thấy Homer thấp hèn. Chapman nể Homer, nhưng nể thi sĩ này vì túi khôn giấu kín của ông ta. Nhưng đến lời tựa của Pope, chúng ta gặp một thái độ khác. “Tôi không cầu kỳ như các nhà phê bình hiện đại kia, những người kinh ngạc vì chức vụ thấp hèn, vì những công việc chỉ đáng cho kẻ hầu hạ mà các vị anh hùng ở Homer đã làm. Ta thấy sung sướng khi nhìn ngắm nét đơn sơ đó khi ta đối lập nó với cảnh xa hoa ở những thời đến sau. Ta sung sướng mường tượng những vị quân vương không cần vệ binh, các vương hầu chăm lo đàn mục súc, các công chúa múc nước bên suối.” Ông nói thêm - điều này nên lưu ý - rằng ông đã đưa vào bản dịch “một số cụm từ và cách diễn đạt đã trở thành trang trọng trong ngôn ngữ của chúng ta nhờ được Cựu Ước sử dụng”.
Vì vậy tôi cho rằng, từ thời Lãng Mạn trở về trước, bản Vua James chưa phải là khuôn thước lôi cuốn như chúng ta hay tưởng tượng. Điều này có thể là một tác nhân hạn chế ảnh hưởng của bản dịch ấy. Còn tác nhân thứ hai, theo tôi, chính là tính chất quen thuộc của bản dịch.
Điều này nghe có vẻ nghịch lý, nhưng tôi đang nói nghiêm túc. Suốt ba thế kỷ, Kinh Thánh được phổ biến rộng rãi tới mức người ta gần như không thể mượn một từ, một cụm từ - ngoại trừ những từ và cụm từ có chung với mọi sách tiếng Anh khác - mà không bị người khác phát hiện ra là đang mượn. Nếu ta vang lại lời Kinh Thánh, ai cũng biết ta đang vang lại lời từ Kinh Thánh. Về phần người đọc, thứ liên tưởng hiện ra trong đầu óc anh ta là những liên tưởng linh thiêng. Tất cả độc giả đã từng được nghe đọc Kinh Thánh như một nghi thức hoặc gần như một nghi thức - ở trường, ở nhà, ở nhà thờ. Điều này không có nghĩa là sự kính cẩn sẽ ngăn người ta lẩy Kinh Thánh. Hệ quả nó dẫn đến, là những phép lẩy Kinh Thánh sẽ được áp dụng hoặc là với sự kính cẩn có ý thức, hoặc là với sự bất kính có ý thức; hoặc chúng được dùng một cách cung kính, hoặc được dùng một cách bông lơn. Có thể dùng theo cách sùng kính, có thể dùng một cách dung tục; nhưng không thể dùng bình thường được. Phần lớn những gì thuộc về Kinh Thánh là những thứ được mọi người nhận biết là thuộc về Kinh Thánh, và mọi thứ mà mọi người nhận biết đều sacer, đều linh thiêng. Nội dung Kinh Thánh có vì lý do này mà được tôn kính hay bị xem thường thì cũng chẳng có gì khác biệt. Hãy chú ý những gì Boswell viết ngày Thứ Bảy, ngày 3 tháng 4, 1773:
Ông không bằng lòng với việc đưa các cụm từ của Kinh Thánh vào các cuộc hội thoại có chủ đề thế tục. Tôi thì thấy đây là điều khó. Một diễn đạt của Kinh Thánh có thể được vận dụng như một cụm từ đã trở thành rất kinh điển, nhằm tạo ra một ấn tượng mạnh tức thời.
“Như một cụm từ đã trở thành rất kinh điển” - đây là điểm tôi muốn nói. Và còn tạo ấn tượng mạnh nữa. Bất cứ luồng ảnh hưởng văn học sâu sắc nào cũng thâm nhập một cách không ồn ào; nhưng nếu vậy thì còn có điều kiện nào kém thuận lợi hơn những điều kiện trên cho quá trình thâm nhập ấy? Một luồng ảnh hưởng, nếu nó không lẩn tránh được ý thức của chúng ta, sẽ không thể là một luồng ảnh hưởng đi sâu.
Có người sẽ hỏi thế này: ngày nay, khi chỉ một thiểu số người Anh còn xem Kinh Thánh là một cuốn sách thánh, liệu trong tương lai Kinh Thánh có thể tăng sức ảnh hưởng của chính mình lên không? Giá như Kinh Thánh còn được đọc rộng rãi, ta có thể dự đoán một sự gia tăng ảnh hưởng. Nhưng điều này khó xảy ra. Chính thời của chúng ta đã sáng tạo cụm từ “Kinh Thánh như một tác phẩm văn học”. Cụm từ này hàm ý: những người đã phủ nhận các tuyên ngôn thần học của Kinh Thánh lại vẫn tiếp tục yêu thích nó như một kho tàng văn xuôi Anh. Có thể người ta yêu thích nó theo cách ấy thật. Có thể vẫn có những người, dù không bị cha mẹ tin kính bắt phải làm quen với Kinh Thánh từ bé, nhưng vẫn bị thu hút bởi những nét đẹp văn chương của nó và cả đời đọc đi đọc lại. Tôi chưa từng gặp người nào như thế; nhưng đó có thể là vì tôi còn quê mùa. Tôi xin phép được làm con bò đực xứ Ái Nhĩ[7]: tôi không thể không cho rằng đọc Kinh Thánh như văn học là vẫn chưa đọc Kinh Thánh.
Bởi nếu có những người như vậy thì đây sẽ là một hiện tượng lạ lắm. Nếu nhận xét của tôi là đúng - nếu Kinh Thánh, bên cạnh tính chất thánh của nó, là cuốn sách dễ hợp với gu Lãng Mạn nhất - thì đáng nhẽ thời chúng ta phải là thời lãng quên, thậm chí không ưa nó. Phong trào chống Lãng Mạn đang mạnh đến nỗi những ai đứng ngoài nó chỉ thiếu điều tự hỏi phong trào ấy đang có bệnh hoạn gì bên trong nó chăng. Sự căm ghét nhắm vào chủ nghĩa lãng mạn đã đạt đến giai đoạn mà nó không còn thấy các khác biệt về loại giữa những thứ nó căm ghét. Hôm rồi tôi có đọc một tiểu luận; ở đó, tác giả chê Ballad of the White Horse của Chesterton vì “Morris xử lý những thứ này giỏi hơn Chesterton; nhưng không ai muốn bảo vệ Morris cả”. Dẫu có chỉ trích thì tôi vẫn thông cảm được với thứ gu thẩm mỹ muốn sổ toẹt Morris đi. Cái khiến tôi ngỡ ngàng là ngụ ý cho rằng Chesterton và Morris đã viết cùng một loại thơ. Nói thế thì khác nào nói “Holbein làm những việc này giỏi hơn Titian”. Tôi chỉ kết luận được là sự ghê tởm mà tác giả bài viết kia dành cho thi ca Lãng Mạn đã đạt đến một mức thô bạo; ở mức độ đó, anh ta không còn phân biệt được hiệu ứng màu nước trầm tĩnh, sự mộc mạc bắc phương, tiếng róc rách tuy đơn điệu nhưng vẫn là giai điệu của Morris, với những màu vàng, màu điều và những hồi trống man của Chesterton. Nỗi ám ảnh thường xếp chung phòng những sự vật vốn rất xa lạ với nhau. Có lẽ với những ai không chịu đựng nổi sự hiện diện của loài mèo thì con Tom to xác, đầu vuông và con mèo mặt quỷ từ Xiêm La mặt như dính nhọ nồi cũng đều là một. Nhưng trong một thời đại chống Lãng Mạn như thời nay, tất cả tính chất từng có lúc đưa Kinh Thánh lên thành một tác phẩm văn học, nay sẽ chống lại nó. Đa-vít khóc Áp-sa-lôm, Môi-se bên bụi gai cháy, Ê-li ở núi Cạt-mên, cảnh tối tăm tràn khắp xứ, kẻ điên ở nghĩa địa: những đoạn này có gì để nói với một kẻ không tin, trừ phi anh ta là người Lãng Mạn? Chúng có gì để nói với một kẻ chống Lãng Mạn, trừ phi anh ta lại là kẻ tin?
Từ những điều tôi nói, có thể suy ra điều sau. Cách tiếp cận Kinh Thánh mà nhiều người trong chúng ta xem là cách tiếp cận tự nhiên của con người, trên thực tế lại là sản phẩm của một thời kỳ nhất định trong lịch sử thẩm mỹ loài người. Chỉ nhìn lại một chút thôi lịch sử hồi đầu của Kinh Thánh là tôi tin các bạn sẽ thấy điều tôi nói đáng tin hơn. Thẩm mỹ thời Trung Đại thì cho rằng nghĩa đen chỉ là phần vỏ thô cứng của tàng ong, che giấu chất ngọt vàng óng bên trong, tức phóng dụ; thẩm mỹ các nhà Phục Cổ thì cho rằng sự đơn sơ của Kinh Thánh có thể nhờ thuật hùng biện mà được cải thiện: cả hai gu thẩm mỹ này, vào thời của chúng, hẳn là những thái độ tự nhiên và vĩnh cửu. Trong bối cảnh đó, cái nhìn của chúng ta dành cho thẩm mỹ thế kỷ mười tám và mười chín sẽ vừa phải hơn. Đương nhiên, ta cũng có thể kết luận là thẩm mỹ chống Lãng Mạn của thế kỷ hai mươi cũng sẽ chóng qua thôi. Thật thế: bất chấp than củi bên dưới có là gì, thì cũng làm sao nuôi được lửa giận kia lâu nữa. Thái độ đến sau nó là gì thì chúng ta không thể đoán được.
Chúng ta sẽ không thể không hỏi: vậy thế khi thời chống Lãng Mạn này đã qua đi, người đời sẽ có thái độ tạo thuận lợi cho việc đọc Kinh Thánh như một tác phẩm văn chương chăng? Không còn quyền phép thiêng liêng (với đa số độc giả), không còn nghĩa phóng dụ, nghĩa đen thì không được chào đón theo kiểu lãng mạn nữa, liệu Kinh Thánh có bất chấp những điều này và quay lại với chúng ta trong một trào lưu mới, chiếm lĩnh vị trí nổi bật trong văn chương và được mọi người đón đọc? Đương nhiên không ai biết chắc; nhưng đây là phỏng đoán của tôi. Tôi nghĩ Kinh Thánh khó quay trở lại với tư cách một cuốn sách trừ phi nó quay lại với tư cách một cuốn sách thánh. Longinus thích Kinh Thánh dù ông không phải là tín đồ Ki-tô. Thế nhưng ông là người Lãng Mạn nhất trong chừng mực mà một người Hy Lạp có thể lãng mạn; quan điểm của ông về thế giới và con người cũng là quan điểm có tính tôn giáo, theo cách riêng của nó.[8] Ta không nên cho rằng vẫn hoặc sẽ còn nhiều người như Longinus: suy đoán như vậy là quá vội vàng. Theo tôi, nếu những khẳng định về tôn giáo của Kinh Thánh không được chấp nhận trở lại, thì những giá trị văn chương của nó sẽ chỉ nhận được tôn vinh trên chóp lưỡi đầu môi, và tôn vinh ấy cũng mỗi ngày một ít. Là bởi cuốn sách này là cuốn sách thánh, thánh từ đầu đến cuối. Đa số các thành phần của nó được viết và được tổng hợp vì một mục đích thuần tuý tôn giáo. Nó chứa cả văn học hay lẫn văn học dở. Nhưng ngay cả văn học hay của Kinh Thánh cũng được sáng tác sao cho chúng ta không thể làm ngơ với tính cách thiêng liêng của nó. Đọc Homer mà không tin vào thánh thần Hy Lạp cũng không phải điều khó; vậy nhưng mục đích chính - thậm chí toàn bộ mục đích - của Iliad không phải là để răn cho người ta vâng lời Zeus, Athena hay Poseidon. So với Homer, các bi kịch gia Hy Lạp sùng kính thần linh hơn, nhưng ở họ đi nữa, ta cũng chỉ gặp các suy nghiệm tôn giáo hoặc ít nhất là ý tưởng tôn giáo của cá nhân thi sĩ. Không có giáo lý gì cả. Đó là lý do tại sao ta có thể hoà vào tác phẩm của họ. Aeschylus, kể cả Virgil, đều không mở đầu bằng ẩn ý “Các thần nói rằng…” Còn Kinh Thánh bắt đầu mọi thứ - hoặc với ẩn ý, hoặc nói rõ ràng - với công thức “Đức Chúa Trời phán…” Có thể nói nó không chỉ là cuốn sách thánh, mà còn thánh một cách liên tục và không khoan nhượng đến nỗi thay vì khuyến khích, nó loại trừ hoặc đẩy bật ra cách tiếp cận thuần tuý mỹ học. Các bạn có thể đọc Kinh Thánh như văn học, nhưng muốn đọc như vậy phải nỗ lực nhiều đấy. Đọc như vậy cũng giống như xẻ gỗ ngược thớ, giống như dùng một công cụ để làm việc nó không sinh ra để làm. Kinh Thánh không ngừng đòi hỏi ta phải đọc nó theo các điều khoản nó đưa ra; nó không mang đến lạc thú văn chương lâu dài trừ phi người ta đến với nó để tìm một điều gì ngoài lạc thú văn chương nữa. Tôi đoán là trong tương lai, nó sẽ được đọc bởi các tín đồ Ki-tô mà thôi, cũng như nó vẫn luôn được đọc vậy.
Nếu nhiều nhà phê bình, nhất là những nhà phê bình cao tuổi, có ý kiến khác tôi về Kinh Thánh, thì tôi cho rằng họ đang chịu ảnh hưởng từ những động cơ tuy thiện chí nhưng lại phi văn chương. Một cuốn sách thánh bị chối bỏ cũng giống như vị vua bị truất ngôi. Đứng trước cả hai, một tâm hồn thiện lành sẽ thấy trong mình trỗi dậy một niềm áy náy cao thượng. Người ấy sẵn sàng nhượng bộ tất cả, trừ điều cốt yếu nhất. Sau khi đã biểu đồng tình với sự phế truất ấy, ta muốn chứng minh ta không hề có ác ý cá nhân nào. Vì không thể giúp quý nhân kia trung hưng, cho nên ta vội vàng nói tốt cho ông ta với tư cách một con người - ta nôn nóng ngợi khen những giai thoại hay sưu tập bươm bướm của ông ta. Khi một nhà phê bình - ở độ tuổi đủ cao để vẫn còn nhớ Kinh Thánh đã từng có quyền năng thế nào - đi tiên tri cho cuốn sách ấy một tương lai xán lạn với tư cách tác phẩm văn học, thì tôi không thể không ngờ rằng anh ta đang được điều khiển bởi những động cơ cũng giống thế. Nhưng thái độ lịch thiệp ấy chẳng bảo tồn được Kinh Thánh đâu. Cả Kinh Thánh lẫn những người tin nó đều sẽ không đón nhận sự lịch thiệp ấy, và thế hệ đang lên cũng sẽ không nhìn đến nó nữa. Tôi chỉ nhìn thấy hai khả năng cho Kinh Thánh, bất luận là bản Vua James hay bản nào đi nữa: hoặc là nó quay lại với tư cách một cuốn sách thánh, hoặc là theo chân các tác phẩm cổ điển - nếu không rơi vào quên lãng thì sẽ sống một đời sống hồn ma, làm hiện vật trong bảo tàng hoặc làm đối tượng nghiên cứu của chuyên gia. Đương nhiên, ngoại lệ sẽ là thiểu số tin theo; họ sẽ đọc Kinh Thánh để chịu chỉ dạy và nhận lãnh lạc thú văn chương như một sản phẩm phụ mà thôi.
[1] Thế là Ngờ Vực và Nhút Nhát theo sườn đồi bỏ chạy, còn Cơ-rê-tiên thì đi tiếp. Chàng nghĩ lại những gì đã nghe từ mấy người đó, liền mò tay xuống bụng tìm cuốn trục, ngõ hầu đọc những lời trong đó để được an ủi. Nhưng chàng lần mà chẳng thấy. Cơ-rê-tiên liền hoảng hốt lắm, chẳng biết phải làm gì, bởi chàng thiếu cuốn sách đã thường an ủi chàng, cuốn sách sẽ cho chàng qua cửa mà vào Thành Trời. Chàng rối lòng mà chẳng biết phải làm gì. Cuối cùng chàng nhớ ra chàng đã ngủ dưới tán cây.
[2] Nhưng người kia, chẳng thối chí, cứ mạnh tay đốn chặt.
[3] Trong mơ, tôi nhướng mắt và thấy mây chồng lên nhau nhiều hơn thường thấy. Liền có tiếng kèn trổi lên…
[4] Ông ta nghịch lại với sự tin kính. Ông ta nói, để lòng mình vào sự tin kính là thảm hại, thấp hèn, ranh mãnh.
[5] Có nhiều người ước sao đường về nhà Cha mình là ngay đây; họ ước sao mình không phải khó nhọc leo đồi leo núi nữa. Thế nhưng đường là đường, và đích đến ở cuối đường ấy.
[6] Rồi người tiến vào. Tôi thấy người đầy kính yêu tiến phía chủ tôi. Đồ ăn trên bàn có ít, nhưng người ta vẫn dọn lên đĩa cho người.
[7] Ý nói một khẳng định lố bịch, mâu thuẫn. Tác giả đùa như vậy vì chính ông là người Ireland.
[8] v. cap. XXXIV. (NC)
