favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

2. Ảnh hưởng văn chương của bản dịch Vua James - Bài giảng Ethel M. Wood, Đại học London, 1950

Dẫu thế, ở Tyndale vẫn có yếu tố mới mẻ; chưa biết hay hay dở, nhưng ông đã cho thấy sự đơn giản hoá trong cách tiếp cận. “Kinh Thánh,” ông viết, “lấy cách thô thiển nhất mà nói với chúng ta. Hãy giữ để khỏi bị óc cầu kỳ của chính mình đánh lừa.”[1] Chúng ta thấy câu “cách thô thiển nhất” đồng vọng với humillium genus của Augustine, với simplicitas sermonis của Hugo of St. Victor[2]. Chất nhà quê hay mộc mạc khó nhìn ra với người hiện đại chúng ta lại là một tính chất vẫn còn rất rõ ràng với Tyndale. Cái mới ở ông là việc ông chối bỏ các nghĩa phóng dụ. Sự chối bỏ này là điểm chung giữa ông với đa số nhà thần học Cải Cách; thậm chí, ở một số phần nhất định trong Kinh Thánh, ông còn chung quan điểm này với người Công Giáo được học hành trong truyền thống Phục Cổ như Colet. Tôi không cần xác định đây là bước tiến hay bước lùi về mặt thần học. Cái đáng quan tâm không phải là việc Tyndale phủ định các nghĩa phóng dụ, mà là thái độ tích cực của ông với nghĩa đen. Ông yêu lời Kinh Thánh vì tính chất “thô mộc” của nó. “Chúa là thánh linh,” ông viết, “và lời Ngài đều là lời thần linh. Nghĩa đen của lời Ngài chính là nghĩa thuộc linh.”[3] Câu này đặc trưng cho nhãn quan của Tyndale. Với ông, cũng như nghĩa đen của lời Chúa là nghĩa thuộc linh, thì mọi thứ của đời sống đều không ra ngoài sự thờ phượng Chúa: giặt giày, rửa bát đĩa - những công việc tự nhiên và thấp hèn nhất - đều là “việc lành”.[4] Một cuộc đời tin kính, theo nghĩa máy móc của từ ấy, không cho kẻ sống cuộc đời tin kính ấy “một chỗ cao hơn chỗ của ả gái điếm trong nhà chứa (nếu ả biết ăn năn)”.[5] Trong số các trường hợp tôi đã xét, có vẻ đây là thái độ gần gũi hơn cả với cách đọc cảm thụ văn học. Mặt khác, ông Gavin Bone, người mà ở Oxford chúng tôi vẫn còn đang thương tiếc, đã dứt khoát nhận xét rằng Tyndale “ghét văn chương”. Sở dĩ có nhận xét này là vì Tyndale chê trách romance trung đại[6]; thái độ này vừa Phục Cổ, vừa Thanh Giáo. Tuy nhiên tôi không cho rằng Tyndale ghét gì văn chương. Khi Tyndale nói về tác phẩm dịch của chính mình, những điều ông nói cho chúng ta thấy ông có ý thức về văn phong - chẳng hạn như khi ông nhận xét rằng tiếng Hebrew và tiếng Hy Lạp dễ dịch sang tiếng Anh, trong khi “với tiếng Latin ta phải có phương pháp, phải vất vả lắm mới dịch đạt và cho bản dịch cái duyên và cái du dương vốn có”.[7] Bằng chứng lấy từ trước tác của chính Tyndale còn nói lên nhiều hơn nữa.

Giá tôi có thì giờ để nói lạc sang các tác phẩm này. Tyndale, với tư cách tác giả viết tiếng Anh, đã bị sấp bóng không những vì danh tiếng lớn hơn của More mà còn vì tư cách dịch giả của chính mình. Đây là một sự lu mờ không đáng có. Với tôi, ông là một trong những cây văn xuôi hay nhất thời mình. Ông thua More ở cái ta thường gọi là “khoảng không cho trí tuệ”, và đương nhiên là thua ở óc khôi hài. Nhưng ở các mặt khác, Tyndale lại hơn More; hơn ở tính súc tích, sự rõ ràng, nhất là sức mạnh của nhịp câu. Đôi khi ông đạt tới một sức mạnh xuyên phá nằm ngoài tầm với của More: “as a man feeleth God in himself, so is he to his neighbour”[8], “I am thou thyself, and thou art I myself, and can be no nearer of kin”[9] “be glad, and laugh from the low bottom of his heart”[10], “that he might see love, and love again”[11], “Who taught the eagles to spy out their prey? Even so the children of God spy out their Father”[12]. Điều này không liên quan, nhưng cho phép tôi được nhận xét: quan điểm luân lý xã hội của Tyndale với của More là giống hệt nhau. Cả hai đều trung đại như nhau, đều đi ngược lại với cái được nhiều người gọi là quan điểm Kinh Tế Mới như nhau. Hai con người dũng cảm và thánh thiện này có ít điểm chung; thế nhưng chỉ cần họ nhận ra hai bên đều có những điểm chung ấy thì lịch sử nước ta hẳn đã khác đi.

Đương nhiên chúng ta không nên cho rằng, khi dịch Kinh Thánh, những yêu cầu về mỹ học được Tyndale đặt lên cao nhất. Công việc trước mắt ông là công việc nghiêm túc, can hệ đến linh hồn con người. Điều này đúng với tất cả dịch giả Kinh Thánh. Có lẽ Coverdale là người mà các lựa chọn trong dịch thuật được quyết định bởi thẩm mỹ nhiều nhất. Các phẩm chất cũng như điểm yếu của bản thân ông đã dẫn đến cách dịch này. Trong số các dịch giả, ông là người ít học nhất. Trong đám Erasmus, Tyndale, Munster hay các giáo sĩ dòng Tên ở Rheims, ông như con thuyền chèo giữa các tàu chiến, nhưng chính điều này đã cho ông một tự do nhất định. Vì không so sánh và đánh giá được các bản dịch khác nhau, cho nên nửa cố ý nửa vô tình ông đã để thẩm mỹ dẫn dắt. May thay thẩm mỹ của ông là thẩm mỹ đáng khen.

Lịch sử bản Vua James đã được kể lại nhiều đến nỗi tôi không cố kể lại nữa; những nét đẹp của nó đã được nhiều khen ngợi đến mức tôi sẽ không khen thêm. Tôi sẽ bàn luôn về ảnh hưởng của nó với tư cách một cuốn sách tiếng Anh. Tôi sẽ cố xác định ảnh hưởng của nó, bởi tôi cho rằng người ta đã hiểu lầm về nó và phóng đại nó một chút.

Bước đầu, chúng ta sẽ phân biệt các ý khác nhau khi ai đó nói rằng một cuốn sách đã ảnh hưởng đến tác giả của một cuốn sách khác.

1. Một cuốn sách, theo thuật ngữ nghiên cứu mà chúng ta đã quen thuộc có thể được coi là một “nguồn”. Lydgate nói đến những cuộc tình giữa Mars và Venus. Nguồn cận nhất với ông có thể là De Genealogia của Boccaccio; nguồn xa xưa nhất là Homer. Trong tiếng Anh, ta có thể nói Lydgate đã chịu ảnh hưởng từ Homer. Tuy nhiên, trong văn học sử, cách diễn đạt này không hữu ích cho lắm; không mấy người dùng cách nói này. Ai muốn coi “nguồn” là một với “ảnh hưởng” thì cứ việc; thế nhưng anh ta phải nhớ rằng “nguồn” của anh ta là một thứ ảnh hưởng đặc biệt. Đa số chúng ta xem nguồn là một thứ khác biệt với ảnh hưởng. Nguồn cho ta tư liệu để viết; ảnh hưởng thì khiến ta viết theo một cách nào đó. Homer là nguồn của Lydgate, thế nhưng phải đến Sohrab and Rustum của Arnold thì Homer mới đích thực là ảnh hưởng. Shah Nameh của Firdausi là nguồn của Arnold, nhưng không có ảnh hưởng gì lên bài thơ của Arnold hết. Malory vừa là nguồn, vừa là ảnh hưởng lên Morte d’Arthur của Tennyson; ở Idylls thì Malory chỉ còn là nguồn chứ gần như không còn là ảnh hưởng nữa.

Dựa trên các thuật từ này, chúng ta phân biệt Kinh Thánh với tư cách nguồn và Kinh Thánh với tư cách ảnh hưởng văn chương. Kinh Thánh là một nguồn rất quan trọng, và điều đó hiển nhiên. Trong suốt bao thế kỷ, nhân vật, tình huống và đạo lý của Kinh Thánh đã trở nên quen thuộc với tất cả người Anh. Người ta dùng những thứ ấy để lẩy và minh hoạ điều đang nói. Nhưng đương nhiên, khi Kinh Thánh được dùng với tư cách một nguồn, chúng ta lại thường không có bằng chứng cho thấy cuốn Kinh Thánh được dùng là bản dịch Vua James. Kinh Thánh là nguồn cho Absalom and Achitophel của Dryden; thế nhưng cách đánh vần “Achitophel” lại không hề được ông rút từ bản Vua James. Ta có thể rộng rãi cho là đa số tác giả, và tất cả tác giả ít học, sau thế kỷ mười sáu đều lấy kiến thức Kinh Thánh từ bản Vua James. Nhưng điều này, dẫu có đúng đi nữa, cũng không có gì quan trọng. Nhân vật và câu chuyện vẫn thế, bất luận được lấy từ văn bản nào. Như tôi thấy, một mảng lớn tư liệu lấy từ Kinh Thánh trong văn học của chúng ta lại chẳng có chỗ đứng nào trong câu chuyện về “Ảnh hưởng của Bản Vua James, xét như một cuốn sách tiếng Anh”.

2. Có thể nói ta chịu ảnh hưởng từ một cuốn sách mỗi khi ta trích dẫn nó; thế nhưng chắc không một nhà văn học sử nào muốn dùng từ “ảnh hưởng” theo cách này. Tôi đưa ví dụ thế này. Hoàn toàn hợp lí nếu nói rằng thói quen trích dẫn quá nhiều của tôi là một ảnh hưởng từ Hazlitt; nhưng không thể kết luận rằng thói quen đó là ảnh hưởng từ các tác giả tôi trích. Tương tự, thói quen trích dẫn vô độ của Burton là thói quen thừa hưởng từ Montaigne, chứ không phải từ các tác giả Burton trích. Trích nhiều là một đặc điểm văn chương. Nếu ta lần đọc và trích nhiều từ một tác giả không ưa trích dẫn, thì bằng cách trích dẫn chúng ta đã tuyên bố rằng mình không hề chịu ảnh hưởng từ anh ta. Khác biệt ở đây cũng giống khác biệt giữa một bên là mượn quần áo ai đó mặc nhân dịp nào đó, với bên kia là bắt chước phong cách ăn mặc của anh ta. Dẫu văn học Anh có nhung nhúc trích dẫn Kinh Thánh thì tôi cũng không gọi đây là ảnh hưởng từ bản Vua James; cũng như tôi không xem những người trích dẫn Virgil là những người chịu ảnh hưởng của ông. Tôi không nói rằng dùng từ “ảnh hưởng” theo cách này là sai; tôi chỉ cho rằng cách của tôi thì ích lợi hơn với mục đích đặt ra.


3. Nãy giờ tôi mới nói về trích dẫn có báo hiệu - tức là trích dẫn được biệt riêng ra, được thông báo bằng các biện pháp trình bày văn bản. Nhưng bên cạnh trích dẫn này còn có kiểu trích dẫn “ăn sâu” - những câu, những cụm từ lấy từ cuốn Vua James, nhưng được mông má lại thành ngôn ngữ của riêng tác giả đến nỗi độc giả nào không biết sẽ không nhận ra câu vốn thuộc về Kinh Thánh. Văn học chúng ta rất nhiều chỗ như thế, nhất là vào thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi. Ở Trollope, Swinburne và Kipling thì lối viết này còn gây khó chịu là đằng khác; một giáo sư người Mỹ của thời chúng ta đây cũng rất nặng bệnh này. Dùng chữ “ảnh hưởng” để nói về quá trình này là cách dùng tự nhiên hơn nhiều. Vậy nhưng đây vẫn chưa phải ảnh hưởng theo nghĩa sâu xa nhất của từ ấy. Tôi vẫn chưa muốn gọi đây là ảnh hưởng. Tôi sẽ giải thích vì sao.

Chúng ta hãy đặt các ví dụ trên bên cạnh hai hiện tượng khác cũng tương đương với các ví dụ ấy. Đó là các trích dẫn từ Homer được giăng mắc khắp nơi trong văn của Plato, hoặc các trích dẫn từ Shakespeare xuất hiện nhan nhản trong văn xuôi Anh. Vào thời của Plato, những mẩu lấy từ Homer được tuồn ra tuồn vào rất khéo léo trong quá trình sáng tác. Đương nhiên, các mảnh vụn ấy nổi bật trong ngữ cảnh của chúng vì nhịp điệu và vì chúng thuộc về một phương ngữ khác. Sẽ không ai nói rằng phong cách của Plato đã phát sinh từ, hoặc được học từ, Homer. Thậm chí những đoạn lấy từ Homer sẽ không làm được chức năng của chúng trừ phi người ta thấy những đoạn ấy khác hẳn với phương ngữ Attic vây quanh chúng. Chúng được sử dụng để mang lại tính nghiêm trang, hoặc được dùng với ý bông lơn (cái bông lơn đơn giản là cái nghiêm trang lộn ngược mà thôi). Người ta phải thấy các trích dẫn này xa lạ thì chúng mới gây được phản ứng cần gây ra; còn nếu người ta không thấy thế thì trích dẫn hoá vô ích. Chúng không những không cho thấy phong cách của Plato chịu ảnh hưởng từ Homer, mà còn phơi bày khác biệt không thể phá dỡ giữa hai người. Các trích dẫn “ăn sâu” lấy từ Shakespeare lại cũng không thế ư? Đương nhiên, không phải cứ nói về một người “more sinned against than sinning”[13], hay về “a consummation devoutly to be wished”[14] như con vẹt là người nói biết mình đang trích dẫn Shakespeare. Có khi anh ta còn tưởng mình đang trích Kinh Thánh. Thậm chí anh ta còn tưởng mình đang dùng một câu châm ngôn nào. Nhưng anh ta biết rõ, và anh ta cũng mặc định người đọc biết rằng anh ta đang mượn câu này từ đâu đó. Điều anh ta làm phụ thuộc vào việc người khác nhận ra sự vay mượn này. Anh ta đang trang điểm cho hành văn của mình. Anh ta muốn câu ấy nổi bật trên trước tác của mình cũng như đường chỉ bằng vàng nổi bật trên chiếc áo choàng. Toàn bộ khoái lạc của anh ta phụ thuộc vào sự khác biệt của trích dẫn “ăn sâu” này; nói cách khác, đã trích dẫn Shakespeare như vậy tức là văn phong của anh ta không chịu ảnh hưởng từ Shakespeare.

Tôi cho rằng các trích dẫn “ăn sâu” vốn lấy từ bản Vua James và xuất hiện trong văn chương chúng ta, phần lớn đều thuộc về loại này. Luôn thế: các trích dẫn ấy hoặc có ý trang nghiêm, hoặc bông lơn. Chính vì có sự khác biệt phong cách giữa các trích dẫn này và những lời văn xung quanh chúng - nói cách khác, chính vì văn phong tiếng Anh của chúng ta không chịu ảnh hưởng từ bản Vua James - mà chúng đạt được hiệu ứng tác giả mong muốn.

4. Chúng ta đến với “ảnh hưởng” theo nghĩa đầy đủ và đúng của nó - tức là ảnh hưởng của bản Vua James lên từ vựng tiếng ta. Theo tôi, chỉ vì chúng ta nói “a consummation devoutly to be wished” thì bấy nhiêu cũng là chưa đủ để kết luận rằng hành văn của chúng ta chịu ảnh hưởng từ Shakespeare. Nhưng - gạt sang một bên lịch sử ngữ âm phức tạp - bất cứ khi nào dùng chữ weird là ta đã chịu ảnh hưởng từ ông. Chúng ta dùng từ ấy mà không có dụng ý trích dẫn nào: từ này đã được đồng hoá, đã ăn vào máu của ngôn ngữ ta sử dụng. Tương tự, chúng ta chịu ảnh hưởng từ Van Helmont (và có lẽ là Paracelsus) khi dùng từ gas. Đồng một thể ấy, chúng ta chịu ảnh hưởng từ bản Vua James và các bản dịch đi trước nó mỗi khi sử dụng các từ beautiful[15], long-suffering[16], peacemaker[17] hay scapegoat[18]. Chúng ta đã vay mượn từ Tyndale tất cả những từ này. Nhưng đến đây tôi vẫn phải xin các bạn lưu ý đến một phân biệt. Henry Bradley đã đưa ra nhận xét chính xác, rằng bản Vua James giữ cho nhiều từ khỏi bị cổ hoá hoặc bị trở thành ngôn ngữ biệt riêng cho thi ca. Damsel [trinh nữ], raiment [áo xống], travail [lao khổ] và quick (theo nghĩa “tỉnh thức”, “có sức sống”) là những từ thuộc loại này. Còn loving-kindness [lòng nhân từ] hay tender mercies [lòng thương xót] đã trở thành những từ chuyên biệt cho ngữ cảnh hoặc tôn giáo hoặc tỏ ý dè bỉu (là trường hợp nào đi nữa thì cũng chỉ chứng minh cho cùng một điều) đến nỗi tôi sẽ coi chúng là những trích dẫn “ăn sâu” ngắn.

5. Cuối cùng, chúng ta đến với ảnh hưởng văn chương theo nghĩa đầy đủ nhất của cụm từ ấy. Theo nghĩa này, chúng ta nói Paradise Lost chịu ảnh hưởng từ Homer và Virgil, hay báo chí thế kỷ mười chín chịu ảnh hưởng từ Macaulay, hay thơ hiện đại chịu ảnh hưởng từ ông Eliot. Các bạn chắc còn nhớ rằng tôi đã xác định rằng “ảnh hưởng”, theo nghĩa này, là cái khiến một người viết theo một cách nào đó. Nhưng ngay cả trong định nghĩa này vẫn có nhiều chỗ phân biệt. Có khi ảnh hưởng được thể hiện qua cấu trúc. Đây là ảnh hưởng dễ nhận biết nhất, mặc dù không phải duy nhất, từ Virgil sang Milton. Bố cục của toàn bộ Paradise Lost là bố cục học theo Virgil. Gần như chưa một sách nào trong cả Kinh Thánh gây ảnh hưởng lớn dường ấy lên bất kì tác giả tiếng Anh nào. Proverbial Philosophy của Tupper và Kinh Mormon có lẽ là hai trường hợp cho thấy ảnh hưởng kiểu này. Có người sẽ kể thêm luôn Prophetic Books của Blake. Và ảnh hưởng có thể lộ ra ở cách sử dụng ngôn ngữ, ở nhịp, ở hình ảnh được sử dụng, hoặc văn phong (theo nghĩa hẹp nhất của từ ấy).

Ảnh hưởng về mặt nhịp điệu của bản Vua James là ảnh hưởng mà tôi thấy là rất khó nhận diện. Thực chất, nhịp văn trong bản dịch ấy cực kỳ đa dạng; ở nhiều chỗ, nhịp câu chúng ta đọc thấy là nhịp câu mà đã viết bằng tiếng Anh thì sẽ không tránh khỏi. Chúng ta thường không nhận ra sự trùng khớp nhịp điệu trừ phi nó đi kèm với các trùng hợp khác. Giả sử tôi nói “At the regatta Madge avoided the river and the crowd”[19]; nếu tôi không dặn trước độc giả, liệu câu của tôi có gợi nhắc họ câu “In the beginning God created the heaven and the earth”[20] không? Mà dẫu có đi nữa, thì việc có chung nhịp điệu, nhưng lại không chung tư tưởng và khí chất, có phải là một cái chung quan trọng chút nào không? Theo tôi, cứ khi nào một tác giả tiếng Anh có vẻ như đang gợi cho ta nhịp điệu của Kinh Thánh, thì khi ấy anh ta cũng đang gợi đến nhiều thứ khác nữa. Ảnh hưởng của nhịp điệu, tách rời với ảnh hưởng về hình ảnh và hành văn, có lẽ chỉ là một ảnh hưởng tồn tại trong trừu tượng.

Ở hình ảnh, tôi cho rằng ảnh hưởng của bản Vua James rất lớn, mặc dù phải thú nhận rằng tôi chưa tìm ra biện pháp kiểm chứng. Nếu, trong các văn cảnh trang trọng, các tác giả tiếng Anh nghiêng về “lúa mì” và “rượu” thay vì thịt bò, bia và mỡ sữa; nếu họ nghiêng về chiến xa thay vì ngựa chiến; nếu họ chọn mưa thay vì nắng như một biểu hiện của ơn phước; nếu họ chọn chiên thay vì bò, chọn gươm thay vì mâu hay súng; nếu bánh chứ không phải thịt cừu hay khoai tây là từ đồng nghĩa trang trọng cho “đồ ăn”; nếu họ xem đá và trumpet [kèn đồng] là hình ảnh giàu chất thơ hơn gạch và bugle [kèn gọi quân]; nếu họ xem áo tím và vải gai mịn là những hình ảnh cao đẹp hơn lụa và nhung: nếu hội tụ những điều trên, thì tôi cho rằng Kinh Thánh đã ảnh hưởng lên họ, mặc dù tôi chưa có phép chứng minh nghiêm ngặt nào. Đó là chưa nói, về phương diện này, chúng ta khó phân biệt ảnh hưởng của Kinh Thánh với ảnh hưởng đến từ khu vực Địa Trung Hải và thế giới cổ đại - vốn là ảnh hưởng không chỉ đến với chúng ta qua Kinh Thánh mà còn qua các tác phẩm cổ điển. Nhưng tôi vẫn tin ảnh hưởng của Kinh Thánh là lớn lắm.

Còn trong văn phong của chúng ta, trong cấu trúc câu văn, tôi thấy ảnh hưởng Kinh Thánh thực chất lại ít hơn ta thường nghĩ. Ví dụ điển hình cho loại ảnh hưởng này là ảnh hưởng mà Dryden và những người cùng thời (Tillotson và những người đại loại thế) đã mang đến cho văn xuôi của chúng ta. Ta biết Dryden đã rà toàn bộ Essay on Dramatic Poesy và sửa bất cứ câu nào kết thúc bằng giới từ.  Đây, theo tôi, chính là một ví dụ hoàn hảo cho “ảnh hưởng”. Ta không thể làm như điều cấm kỵ kỳ quái này là một nét sẵn có trong bản chất ngôn ngữ của chúng ta; không thể giả vờ cho rằng thói quen ấy sớm muộn gì cũng hình thảnh, kể cả không có tác động của Dryden và đồng bọn cuồng Pháp của ông ta. Trái lại mới đúng: điều cấm kỵ này xa lạ với ngôn ngữ đến mức nó chưa bao giờ thâm nhập được vào văn nói của ngay cả những tên hủ-học hủ lậu nhất. Nó chẳng đóng góp được gì ngoài việc thêm nhiều lên những mớ từ đơn âm nhạt nhoà mà tiếng Anh đã sẵn nhiều. Nhưng mặt khác, nó lại bám rễ vào văn viết đến nỗi có cả biển người ngoài kia chỉ biết vô thức tuân thủ nó. Đây chính xác là thứ thôi thúc chúng ta viết theo một cách nào đó: đến người như tôi - một người căm thù nó như một mê tín nhập khẩu từ Pháp vào các lớp học của chúng ta - cũng đôi khi còn thấy nó cứ kéo giật khuỷu tay mình. Về phong cách mà nói, chưa chắc bản Vua James đã đạt được tầm ảnh hưởng sánh ngang nó. Thậm chí tôi còn thấy lạ vì ngay cả những từ ngữ quen thuộc nhất của nó cũng còn chưa thâm nhập được vào ngôn ngữ chúng ta. It came to pass, answered and said, lo - đã có tác giả tiếng Anh nào dùng những cụm từ này mà không ý thức anh ta đang trích dẫn không? Còn nếu xét các tác giả thường được cho là chịu ảnh hưởng từ hành văn của bản Vua James, chúng ta sẽ thấy ảnh hưởng ấy tuy có nhưng không hề nổi trội. Tôi sẽ xét Ruskin và Bunyan.

Ruskin vận dụng nhiều trích dẫn “ăn sâu”, nhiều hình ảnh lấy từ Kinh Thành; nhưng Homer và Spenser được ông vận dụng nhiều không kém, Dante cũng không phải là ít. Và tất cả đều được sử dụng với đầy đủ ý thức là chúng đang được sử dụng. Chúng ta cần lưu ý những điều ông bộc bạch trong Praeterita[21] về quá trình hình thành văn phong của mình:

“Had it not been for constant reading of the Bible, I might probably have taken Johnson for my model of English. To a useful extent I have always done so; in these first essays, partly because I could not help it, partly of set, and well set, purpose . . . The turns and returns of reiterated Rambler and iterated Idler fastened themselves in my ears and mind: nor was it possible for me, till long afterwards, to quit myself of Johnsonian symmetry, in sentences intended either with swordsman’s or paviour’s blow, to cleave an enemy’s crest or drive down the oaken pile of a principle.”[22]

 

[1] Parable of the Wicked Mammon, trong Doctrinal Treatises, H. Walter biên soạn (Cambridge, 1848), tr. 59. (NC)

[2] Burton; Pt. III, Sect. 4, Mem. ii, Subs. 6 (p. 729) “Blasphemous thoughts the scriptures foster, rude, harsh, immethodical.” (NC)

[3] Obedience of a Christian Man (Walter, op. cit., tr. 309). (NC)

[4] Parable of the Wicked Mammon (Walter, op. cit., tr. 100, 102). (NC)

[5] Pathway (Walter, op. cit., tr. 21). (NC)

[6] Obedience (Walter, op. cit., tr. 161) (NC)

[7] Ibid., tr. 148, 149. (NC)

[8] Wicked Mammon (Walter, op. cit., tr. 58). (NC) “Bởi một người thấy Đức Chúa Trời ở trong mình bao nhiêu, thì người ấy là Đức Chúa Trời cho kẻ lân cận mình bấy nhiêu”.

[9] Obedience, tr. 296. (NC) “Tôi chính là anh, mà anh cũng chính là tôi, không có máu mủ nào gần nhau hơn được nữa”.

[10] Pathway, tr. 9. (NC) “mừng rỡ, và phá lên tiếng cười tự đáy lòng”

[11] Obedience, tr. 136. “hầu cho người ấy thấy được tình yêu, và yêu trở lại”

[12] Answer to More, H. Walter biên soạn (Cambridge, 1850), tr. 490. (NC) “Ai đã dạy chim ưng nhìn ra mồi? Cũng như ưng nhìn ra mồi, thì con cái Đức Chúa Trời nhìn ra Cha mình”

[13] “bị làm ác nhiều hơn là làm ác”

[14] “một sự biến tan mà ta thiết tha mong mỏi”

[15] đẹp

[16] nhịn nhục

[17] kẻ hay làm hoà

[18] dê tế

[19] “Ở hội đua thuyền Madge tránh không đến gần sông và đám đông”

[20] “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất”

[21] XII. (NC)

[22] “Giá như ngày xưa không đọc Kinh Thánh thường xuyên, hẳn tôi đã lấy Johnson làm gương mẫu cho thứ tiếng Anh tôi sẽ viết. Thực ra tôi vẫn luôn noi gương ông, miễn sao sự noi gương ấy đem lại lợi ích. Ở các tiểu luận đầu tiên này, tôi sẽ làm điều đó; tôi làm một phần vì tôi không thể ngăn mình, một phần vì mục đích tôi đã định sẵn … Những lượt đọc đi rồi đọc lại hai tập RamblerIdler, những tiếng vang đi rồi vang lại của hai tập ấy, đã bắt chết vào tai và óc tôi. Mãi về sau, tôi vẫn chưa thoát khỏi cách viết đăng đối của Johnson, được thi triển ở những câu văn như nhát bổ của một kiếm khách hay một người thợ đá để nhờ đó chém dọc đầu kẻ thù hoặc đóng chặt vào đất một khúc sồi định lý.”

Thêm vào giỏ hàng thành công