1. Ảnh hưởng văn chương của bản dịch Vua James - Bài giảng Ethel M. Wood, Đại học London, 1950
Không bản dịch nào giữ hết được muôn màu muôn vẻ của nguyên tác. Mặt khác, ngoại trừ các tác phẩm thơ trữ tình, bản thân nguyên tác lại là thứ đóng góp nhiều nhất cho hiệu ứng văn chương của một bản dịch tốt. Điều này đặc biệt đúng ở hai loại tác phẩm: tự sự và giáo huấn. Trong trường hợp mà nguyên tác được viết bằng tiếng Hebrew, điều này lại đúng luôn với thơ trữ tình và đúng ở một mức độ phi thường, lý do là bởi các diễn đạt biền ngẫu của thể loại này là thứ diễn đạt dễ dịch. Vì thế, ta không thể xem xét tác động về mặt văn chương của bản dịch Vua James nếu ta xét nó độc lập với Kinh Thánh nói chung. Ngoại trừ những đoạn dịch dở, bản dịch này đã vay mượn nội dung, hình ảnh và các biện pháp tu từ của nguyên tác. Trải nghiệm mỹ học mà ta có khi đọc những câu chuyện lớn trong Cựu Ước, hay khi đọc truyện Phi-e-rơ bị tù rồi được giải thoát, hay truyện Phao-lô bị đắm tàu - trải nghiệm ấy phụ thuộc rất ít vào dịch giả. Vì lý do này, xin các bạn thể tất cho nếu tôi có khởi đầu phần trình bày về số ận văn chương của Kinh Thánh tiếng Anh bằng một vài nhận xét về số phận văn chương của Kinh Thánh trước khi cuốn sách ấy được dịch ra tiếng Anh. Có xét từ quan điểm văn chương đi nữa thì cái đặc thù và riêng biệt vẫn không là gì so với cái mà nguyên tác và các bản dịch có chung với nhau. Chúng ta dễ lầm tưởng rằng, vì một cuốn sách vẫn được ngợi khen bao nhiêu đời nay, cho nên bao đời nay nó được đọc cùng một kiểu và trân trọng vì cùng một lý do. Thế nhưng Homer của Virgil rất khác Homer của Chapman, Homer của Chapman lại khác của Pope, của Pope lại khác của Andrew Lang, và của Andrew Lang lại khác của ông Rieu.
Theo một nghĩa nào đó, không có cái gọi là “Kinh Thánh như một văn bản văn học”. Đây là một tuyển tập gồm các thành phần khác thời, khác loại, khác ngôn ngữ, khác giá trị thẩm mỹ đến mức người ta không thể đưa ra một phê bình đúng cho tất cả. Khi gom các văn bản dị chất nhường ấy vào một cuốn sách, Giáo Hội không hề quyết định dựa trên các nguyên tắc văn chương. Quả thật chúng được đặt vào chung một cuốn; nhưng nhà phê bình văn học nên coi sự kiện này là một sự kiện ngẫu nhiên thuộc về thần học và lịch sử chứ không liên quan gì đến chuyên môn của anh ta cả. Tuy nhiên, khi chúng ta xem xét không phải nguyên tác nữa mà là một bản dịch do một người soạn, hoặc ít nhất là bản dịch mang dấu ấn của một thời, thì lập tức bản dịch đó toát lên một vẻ thống nhất. Bản Bảy Mươi, bản Vulgate, bản Luther, hay bản Vua James, đều có thể được xem là một cuốn sách hoàn chỉnh. Trong con tim khối óc những ai đã dùng các bản dịch đó, ấn tượng - hay nói là ảo ảnh cũng được - về tính nhất quán của văn bản lại được củng cố nhờ tính nhất quán của bối cảnh phụng vụ nơi các bản dịch ấy được xướng lên. Học thuyết về sự soi dẫn của Chúa cũng đã góp phần tạo ra ảo tưởng này. Quả thật, nếu ai đó tin rằng một đấng đã soi dẫn, “hà hơi”, truyền hứng để lời Kinh Thánh được nói ra, thì với anh ta toàn bộ cuốn sách ấy sẽ là sáng tác của một tác giả duy nhất. Vậy nên Donne, ở bài giảng thứ bảy mươi chín, mới dành cho văn phong của Đấng Toàn Năng một lời khen khôi hài; ông nói “Đức Thánh Linh là một tác giả có lời văn rất hoạt, một tác giả sôi nổi và dồi dào văn lực, dù không hề diêm dúa”.
Cuốn Kinh Thánh - nhìn như một cuốn sách hoàn chỉnh, với tất cả hay lẫn dở sinh ra từ cách nhìn này - được mọi người đọc chủ yếu vì các mục đích khác chứ không phải vì lạc thú văn chương. Tuy nhiên, một số bằng chứng thu thập từ sử xưa cho thấy đã có người tìm thấy trong Kinh Thánh niềm vui thuần tuý văn chương.
Lời phê bình xưa nhất mà tôi biết lại đồng thời là lời phê bình có giọng điệu hiện đại nhất. Khi Longinus[1] khen ngợi tác giả của Sáng Thế Ký - người được ông gọi là “đấng ban luật pháp cho dân Do Thái” - vì hình dung có sức gây choáng ngợp, ông như cũng đang nói đến một trải nghiệm văn chương rất giống trải nghiệm của chúng ta. Sáng Thế Ký được ông xếp cạnh Homer; ở nhiều mặt, ông còn thích Sáng Thế Ký hơn. Khi xếp Kinh Thánh vào hàng kinh điển, Longinus đã dựa trên những cơ sở hoàn toàn thế tục. Nhưng ở các thời kế tiếp, ta khó tìm được những trường hợp phê bình tương đương với ông.
Ông de Bruyne uyên bác, trong Études d’esthétique médiévale (1946), đã thu thập được một khối thông tin về cách cảm thụ văn chương mà người Trung Đại dành cho Kinh Thánh. Họ không thiếu lời ca ngợi; nhưng khi đọc những phê bình ấy, chúng ta thấy như đang đứng trong một thế giới xa lạ. Ngay ngưỡng cửa thời kỳ đó, chúng ta gặp lời nhận xét của Augustine - rằng Kinh Thánh sử dụng humillium genus loquendi[2] [cách diễn đạt đơn sơ nhất]. Nếu lời nhận xét này, xét theo nghĩa hẹp hơn, là nhận xét về văn phong, nếu Augustine cho rằng các tác giả của Thi Thiên và các sách tiên tri đã sử dụng “thứ ngôn ngữ tầm thường nhất”, thì chúng ta gần như không thể hiểu nổi. Nhưng chỉ gần như không hiểu nổi thôi, chứ không hoàn toàn thế. Chúng ta biết rằng cỗ máy đồ sộ, ầm ầm mang tên hùng biện Latin đôi khi khiến người ta điếc tai với mọi văn học khác. Tuy nhiên, từ bối cảnh mà ông viết, tôi tin rằng Augustine đang ám chỉ một điều khác. Ông muốn nói đến nét tưởng chừng ngây ngô hay đơn sơ của nghĩa đen - vốn là nét đã đẩy ông ra cho đến khi ông chịu dạy dỗ và ngộ ra rằng ngây ngô hay đơn sơ đó chỉ là vỏ ngoài che giấu cái sacramentorum altitudo [bề sâu của lẽ kín nhiệm][3]. Sự phân biệt giữa một bên là nghĩa đen hoặc nghĩa lịch sử, với bên kia là các tầng nghĩa phóng dụ, không cần biết các bác sĩ thần học xếp loại chúng thế nào, là một yếu tố căn bản mà mọi cách diễn giải Kinh Thánh thời Trung Đại đều có chung. Đương nhiên - và đây là điều chúng ta phải nhấn mạnh - đương nhiên con người thời ấy không cho phép các lớp phóng dụ làm mai một giá trị của nghĩa đen. Hugo of St Victor bắt các học trò của mình phải ý thức được việc nắm rõ nghĩa đen của Kinh Thánh là cần thiết nhường nào. Ông viết: “Tôi tin rằng nếu không hiểu rõ phần Lịch Sử thì nghĩa Phóng Dụ mà người ta diễn giải sẽ không thể thật sâu sắc.”[4] Nhưng chính đoạn này cũng cho thấy diễn giải thời trung đại đã xem nhẹ nhường nào cái được chúng ta xem là giá trị văn chương của văn bản. Hugo biết các học trò của ông học nghĩa đen quá hấp tấp và cẩu thả. Noli contemnere minima haec, “Đừng thấy những việc này nhỏ mà khinh”, ông dặn họ[5]. Coi thường bảng chữ cái thì sẽ không thể biết đọc được. Dùng các truyện trong Kinh Thánh - truyện Giô-sép và các anh mình, truyện Đa-vít và Gô-li-át - như bảng chữ cái, như khởi đầu cần thiết cho những cách đọc cao hơn và hay hơn: đây có thể là cách thưởng thức tinh tế, nhưng cách ấy khác xa cách của chúng ta ngày nay. Vậy nên chúng ta không lạ khi Hugo nói Kinh Thánh cũng như tàng ong. Kinh Thánh bên ngoài khô khan per simplicitatem sermonis [vì ngôn ngữ mộc mạc][6] nhưng dulcedine plena [đầy chất ngọt][7] ở bên trong. Ta thấy simplicitas sermonis của Hugo như đồng vọng với humillimum genus loquendi của Augustine. Hoặc có thể ví Kinh Thánh với cây đàn lia. Nghĩa thuộc linh cũng như các dây đàn vậy, còn nghĩa lịch sử cũng như phần gỗ. Phần gỗ không kêu, nhưng nó giữ cho các dây khỏi đứt.
Tôi không hề có ý chê cười quan điểm cho phép nhiều tầng nghĩa trong việc đọc Kinh Thánh. Thời của chính chúng ta - ngấm rất sâu chủ nghĩa tượng trưng áp dụng cho giấc mơ và các tác phẩm phóng dụ hoặc bán phóng dụ của Kafka hay Rex Warner - sẽ không dám lên mặt coi thường quan điểm ấy đâu. Biết đâu trong tương lai, ngành phê bình thánh kinh lại chứng kiến sự trở lại của cách đọc phóng dụ. Nhưng cách đọc này có thể là cái bẫy (như nó đã là một cái bẫy hồi Trung Đại) khiến người ta hiểu các sách lịch sử (ở Cựu Ước) thành truyện anh hùng.
Thomas Aquinas làm sáng tỏ thêm chút nữa các nhận xét về “sự đơn sơ” hay “sự mộc mạc” đã đưa ra ở trên. Ông giải thích vì sao kinh thánh diễn đạt các chân lý thuộc linh không những qua hình ảnh các vật hữu thể, mà còn dùng hình ảnh của các sự vật thấp hèn thay vì các sự vật cao quý.[8] Ông nói rằng Kinh Thánh làm thế để giúp người ta khỏi lầm lẫn, để giảm nguy cơ lẫn lộn biểu tượng với thực tế. Đây là câu trả lời xứng tầm một nhà thần học uyên thâm. Tuy nhiên đoạn văn xuất hiện câu trả lời ấy lại cho thấy thái độ gần như là thù địch với việc áp dụng lối đọc duy mỹ cho sách thánh. Aquinas nói Kinh Thánh đáng nhẽ không nên dùng ẩn dụ. Cái phù hợp với thứ khoa học thấp kém nhất (infimae doctrinae) sẽ không phù hợp với vương hậu của các loài khoa học. Ẩn dụ là thứ phù hợp với thi ca, trong khi thi ca là thấp kém nhất trong các khoa học - est infima inter omnes doctrinas. Điều khiến ta quan tâm ở đây là Kinh Thánh lẫn thi ca đều dùng ẩn dụ, nhưng dùng vì những lý do khác nhau. Thi ca dùng ẩn dụ là để cho hay, còn với Kinh Thánh thì ẩn dụ propter necesitatem et utilitatem [là cần thiết và ích dụng]. Nhà phê bình thế kỷ mười chín sẽ nói Kinh Thánh là thứ thi ca xuất sắc nhất, còn Aquinas thì cho rằng các doctrinae [lĩnh vực, môn học] cao nhất và thấp nhất, nghịch lý thay, lại có một điểm chung. Đương nhiên hai bên đi đến nhận xét của mình bằng lý do khác nhau.
Ông de Bruyne tìm thấy ở một số tác giả trung đại khác, đáng nói trong số đó là Ulric người Strasbourg, nhiều đoạn có vẻ gần gũi hơn với quan điểm hiện đại, mặc dù sự gần gũi ấy có thể chỉ là hiểu nhầm. Nhưng nói chung, tôi nghĩ không có gì quá nếu nói rằng cách tiếp thu Kinh Thánh thời trung đại khác rất xa cách đọc thời nay.
Cách tiếp cận của Trung Đại mới chỉ là lạ lẫm; cách tiếp cận của Phục Hưng mới là đáng ghét. Đến với thời Phục Hưng là đến với thời của học đòi Cicero, của chủ nghĩa phục cổ, của thói đạo mạo cổ điển không sức sống đã gây lu mờ và biến dạng (và còn gây nhiều hệ luỵ khác) cho chính các tác phẩm cổ điển. Đó là thời mà Scaliger dám khép cho Homer tội tục tĩu, dám chê Andromache đã khóc Hector như một mụ đàn bà thiếu dạy dỗ - plebeiam mulierculam.[9] Khi thứ thẩm mỹ này lên ngôi thì cái huy hoàng trong đơn giản của Các Vua hay Các Quan Xét không thể nào được đánh giá đúng. Thế nên Vida mới tưởng sẽ dùng được thứ kim tuyến từ Christiad của ông để cải thiện câu chuyện về Cuộc Thương Khó của Đấng Christ. Tất nhiên, về mặt nào đó, Christiad ở mảng văn chương là cái tương đương với các tranh tôn giáo ở mảng hội hoạ của thời ấy. Thế nên mới có những đại sảnh đồ sộ kiểu Vitruvius làm nền cho “các hoạt cảnh thánh sâu sắc và trừu tượng”. Tôi không lý giải được vì sao thẩm mỹ này trên con chữ lại dở hơn là trên tranh vẽ; câu hỏi này xin dành cho người khác trả lời. Thay vào đó, tôi tập trung vào mục đích trước mắt: và tôi lần ra ảnh hưởng của phong trào này lên cả một con người vĩ đại như Thomas More. Trong luận văn cuối đời, On the Passion, ông còn mạo hiểm mớm lời vào miệng Chúa chúng ta. Việc này trước đó đã có người làm. Ở Imitation, thủ pháp này được thi triển đạt đến nỗi nó không những thoả mãn lòng sùng kính trong ta, mà còn vừa vặn với cảm nhận của ta về cách Chúa từng nói năng. Giữa vườn Gethsemane, Chúa nói “Nhưng nầy là giờ của các người và quyền lực của sự tối tăm”. More thì tin rằng ông có thể truyền thêm sức mạnh cho câu nói này bằng lối mở rộng như sau.
Thys is the shorte whyle that is graunted yee, and the libertie geuen unto darknesse, that nowe ye maye in the night, which till this howre ye coulde neuer be suffered to bryng to passe in the daye, like monstruous rauenyinge fowles, lyke skryche owles and hegges, lyke backes, howlettes, nighte crowes, and byrdes of the hellye lake, goe aboute with your billes, your tallentes, your teeth, and your shyrle shryching outerageouslye, but all in vayne thus in the darke to flee uppon me.
[Đây là chút thời giờ ngắn ngủi dành cho các ngươi, là lúc sự tối tăm được cho phép hoành hành, hầu cho các ngươi làm trong đêm những sự mà cho tới giờ này các ngươi chẳng được phép làm. Các ngươi khác nào chim rình mồi, như loài cú loài nhím kêu eng éc, như cú con, như quạ đêm, như các loài chim lảng vảng hồ địa ngục; trong đêm, các ngươi giơ móng vuốt, chìa mỏ, nhe răng, rít lên những tiếng rợn gáy, nhưng đều vô ích thôi, bởi gặp ta là các ngươi bỏ chạy.][10]
Phải nói ngay: phần tôi trích được rút từ bản dịch của cháu gái More. Nhưng nếu có ai đọc bản Latin và thích bản ấy hơn bản tiếng Anh thì tôi sẽ ngạc nhiên. Tôi không hề có ý nói More ở đây thể hiện một nét xấu về mặt thuộc linh. Vấn đề nằm ở thẩm mỹ của ông. Thực thế, chúng ta càng kính trọng ông với tư cách một con người, thì lại càng ngỡ ngàng trước ví dụ trên. Một người thấm nhuần tinh thần của lời Đấng Christ đến vậy, nhưng chỉ vì ảnh hưởng của hùng biện phục cổ mà lỗ tai đã không nhận ra cái huy hoàng ở phong cách của những lời ấy.
Đến các dịch giả Kháng Cách, chúng ta nhận ra vài dấu hiệu cho thấy thay đổi trong tiếp cận; tuy nhiên tôi hết sức thận trọng để không phóng đại sự thay đổi này. Lịch sử của Kinh Thánh tiếng Anh, tính từ Tyndale đến cuốn Vua James, vốn chỉ là một phần của một phong trào lớn hơn; và đã xét lịch sử ấy thì không thể tách rời nó lâu khỏi phong trào kia - một phong trào lan khắp châu Âu và không hề gói gọn trong Kháng Cách. Không ai chép lại được lịch sử đó mà không nhảy qua nhảy lại giữa cương giới của các quốc gia và giữa lằn ranh của các giáo phái. Anh ta sẽ phải luân chuyển từ kinh thánh Hebrew của Socino (1488) đến Giáo trình tiếng Hebrew của Reuchlin (1506), rồi đảo qua Alcala để tìm cuốn Polyglot (1514) của Hồng y Ximenes. Anh ta sẽ phải lần lên phương bắc tìm đọc Tân Ước của Erasmus cũng in năm 1514 ấy, rồi đến với Luther để đọc Tân Ước tiếng Đức in 1522, rồi học thêm tiếng Hebrew với giáo trình Munster (1525). Anh ta sẽ phải đón đọc Kinh Thánh bản Zurich in 1529, được ra đời sau khi Zwinglius và những người khác đã tham khảo bản của Luther. Sau đó, anh ta lại xem các bản dịch tiếng Pháp của những năm ’34, ’35, đồng thời cũng không được bỏ qua bản dịch mới bằng tiếng Latin của Paginus (’28) và Munster (’34-’35). Đây là bối cảnh làm nền cho những bản của Tyndale, Coverdale, bản Geneva và bản Rheims. So sánh các bản, chúng ta nhận thấy giữa các dịch giả chỉ có một tỉ lệ sai biệt nho nhỏ bắt nguồn từ những lý do về văn phong và tín lý. Khi một dịch giả làm khác người đi trước, anh ta làm vậy vì nghĩ rằng mình thạo tiếng Hebrew hay tiếng Hy Lạp hơn. Những tiến bộ tầm cỡ quốc tế trong môn ngữ văn đã đưa các dịch giả này tiến lên; nhiều người vẫn sẵn sàng học hỏi từ bản dịch của nhau, mặc dù về mặt thần học thì hai bên ghét nhau cay đắng. Tyndale chấp nhận những chỉnh sửa của More; bản Rheims học hỏi bản Geneva, và nhiều cách hành văn đã đi từ Geneva, qua ngả Rheims, để đến với bản Vua James. Cả thế giới Ki-tô đã vô tình hợp sức với nhau. Kinh Thánh tiếng Anh chỉ là nhánh tiếng Anh của cây lớn mang tên châu Âu.
