2. De Descriptions - Temporum Bài giảng nhậm chức ở Cambridge, 1954
Còn một lằn ranh nữa chúng ta phải xem xét. Có thể kẻ một đường phân chia tầm cuối thế kỷ mười bảy, khi xã hội nói chung đã chấp nhận thiên văn Copernicus, khi Descartes đã lên, và (ở Anh) Hội khoa học hoàng gia được thành lập. Nếu chỉ xét lịch sử tư tưởng (theo nghĩa hẹp của từ này) thì đây quả thật là nơi tôi kẻ lằn ranh ấy. Nhưng nếu xét lịch sử văn hoá nói chung thì câu chuyện sẽ hoàn toàn khác. Vào giai đoạn đó, quả thật các khoa học đã bắt đầu tiến bộ vững mạnh và nhanh hơn. Nhiều biến động về sau - những biến động mà tôi xem là còn lớn hơn nữa - đã bắt nguồn từ sự tiến bộ khoa học của thời kỳ ấy. Thế nhưng ảnh hưởng mà các chuyển biến trong khoa học gây ra thì luôn bị trì hoãn. Các môn khoa học bấy giờ vẫn còn như sư tử con, chơi đùa trong cũi để làm vui cho chủ và cho chủ mà thôi. Con sử tử ấy chưa nếm máu người. Suốt thế kỷ mười tám, đầu óc con người ta vẫn đậm màu sắc luân lý, hùng biện, luật học, chứ chưa nhuốm màu khoa học. Bởi thế mà Johnson đã nhận xét: “Hiểu biết về tự nhiên ngoài kia, và các môn khoa học mà hiểu biết đó đòi hỏi hoặc bao trùm, vẫn chưa phải là mối bận tâm lớn hay thường trực cho con người.”[1] Lý do tại sao thì dễ đoán rồi. Khoa học chưa trở thành mối bận tâm cho con người vì con người chưa thành mối quan tâm của khoa học. Đối tượng nghiên cứu của nó lúc bấy giờ vẫn còn là đối tượng vô tri; khoa học ấy vẫn chưa cho ra nhiều sản phẩm phụ mang tên công nghệ. Khi Watt tạo ra máy hơi nước, Darwin nói nhảm về tổ phụ loài người, Freud nói nhảm về linh hồn của họ, còn các nhà kinh tế học nói nhảm về những thứ họ nói nhảm: khi ấy con sư tử đã thoát chuồng. Việc nó thoát chuồng và tự do đứng giữa chúng ta sẽ trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của đời sống thường nhật. Nhưng thời khắc ấy chưa đến; phải đợi thêm vài thế kỷ.
Từ các bước trên, tôi đi đến nhận định sau. Ranh giới phân chia lớn nhất trong lịch sử phương Tây là ranh giới giữa hiện tại của chúng ta với bên kia là thời kỳ của Jane Austen và Scott. Đương nhiên ngày tháng cụ thể cho ranh giới này sẽ hơi mập mờ, không rõ ràng được. Không ai tự tin chỉ ra được năm nào hay thập niên nào là lúc thay đổi đã bắt đầu. Thậm chí thay đổi đó có khi còn chưa đạt tới cực đại là đằng khác. Nhưng vết nứt đã nảy ra đâu đó giữa chúng ta và các tiểu thuyết Waverley, đâu đó giữa chúng ta và Persuasion. Đương nhiên, vừa đi đến kết quả này, tôi tự hỏi ngay liệu nó có phải ảo ảnh của phối cảnh hay không. Giả sử tôi đứng bên một cột dây thép; khi ấy khoảng cách từ chỗ tôi đến cột dây thép liền kề nó dường như lớn hơn tổng của tất cả khoảng cách giữa các cột khác cộng lại. Biết đâu đó chẳng là cùng một loại ảo ảnh? Nhưng chúng ta không thể lần lại các thời kỳ như cách ta lần lại từng cột dây thép. Cùng lắm, tôi chỉ đưa ra được các lý do đã buộc tôi, sau nhiều lần xem xét, phải tái khẳng định kết luận trên.
1. Tôi bắt đầu với lý do yếu nhất. Đó là thay đổi trong trật tự chính trị giữa thời Scott và thời chúng ta. Về mặt này, tôi e ranh giới tôi kẻ ra sẽ gặp nhiều đối thủ nặng ký. Thay đổi chính trị này có lẽ không to lớn bằng thay đổi từ thế giới Cổ Đại sang thế giới Tăm Tối. Thế nhưng thay đổi ấy rất lớn; tôi thấy nó lan rộng ra mọi quốc gia, ra các nước mà chúng ta gọi là dân chủ cũng như độc tài. Nếu muốn châm biếm trật tự chính trị hiện thời, tôi xin mượn một cái tên mà tờ Punch đã tạo ra hồi chiến tranh với nước Đức lần thứ nhất: Governtisement. Đây là một từ gộp, có nghĩa: “làm việc nước bằng quảng cáo”. Thế nhưng dụng ý của tôi thì không hề châm biếm; tôi đang cố khách quan. Thay đổi là như thế này. Ở những thời trước đây, tôi nghĩ mục đích lớn nhất của nhà cai trị (trừ những quãng gián đoạn hiếm hoi và ngắn ngủi) là giữ cho dân yên ắng, là ngăn chặn hoặc thủ tiêu kích động khi nó lan rộng hoặc có nguy cơ lan rộng, là vỗ về cho dân chúng lặng lẽ lo việc mình. Dân chúng nói chung đồng tình với nhà cai trị. Họ thậm chí cầu nguyện (bằng những ngôn từ vừa lạ tai vừa cổ kính) được sống “một đời yên bình, trong tin kính và lương thiện tuyệt đối”, được “sống đời mình trong yên ổn và lặng lẽ”. Nhưng ngày nay, bản thân việc phát động quần chúng đã trở thành công cụ của quyền lực chính trị. Chúng ta sống trong kỷ nguyên của “kháng cáo”, của “động lực” và của “chiến dịch”. Các nhà cai trị đã hoá thành các thầy giáo trong trường và luôn đòi hỏi chúng ta phải “tích cực tham gia”. Như các bạn thấy, tôi dùng một từ đã hơi lỗi thời: tôi gọi họ là “nhà cai trị”. “Nhà lãnh đạo” mới là từ của thời hiện đại. Ở một chỗ khác, tôi đã nhận xét rằng đây là một thay đổi rất quan trọng trong từ vựng tiếng Anh. Và đòi hỏi của chúng ta về họ cũng thay đổi nhiều như đòi hỏi của họ với chúng ta. Với một nhà cai trị, người ta đòi hỏi công chính, liêm khiết, chăm chỉ, có lẽ cả sự thương người. Nhưng với một nhà lãnh đạo, người ta đòi hỏi sự táo bạo, sự sáng tạo và cái (mà tôi nghĩ) được mọi người gọi là “sức hút” hay “cá tính”. Vậy là về mặt chính trị, ranh giới này có cơ sở lý luận đáng xem xét, mặc dù không quá thuyết phục.
2. Thế nhưng về nghệ thuật, nó lại là đường phân chia thuyết phục hơn mọi phân chia khác. Đến nay, chưa có một kỷ nguyên nào sản xuất ra tác phẩm mới ở mức độ đột phá và gây hoang mang cho bằng các nghệ sĩ lập thể, rồi đa-đa, rồi siêu thực, rồi Picasso. Và tôi chắc chắn điều này đúng với nghệ thuật tôi yêu nhất, thi ca. Chủ đề này thường được đem ra cho những cuộc bàn tán tương đối gay gắt. Nhưng sự gay gắt ấy, như tôi thấy, thường bắt nguồn từ một tâm lý nghi kỵ không phải vô căn cứ; tâm lý đó cho rằng khẳng định thơ hiện đại là thơ vô tiền khoáng hậu là cách để người ta chê bai nó. Nhưng tôi không có ý định đưa ra đánh giá nào, dù là khen hay ngược lại. Tuy nhiên chúng ta hãy gạt câu chuyện phê bình sang một bên và chỉ tập trung vào lịch sử; bấy giờ, ai cũng phải thấy là thơ hiện đại không chỉ lạ hơn bất kì “thơ mới” nào, nhưng nó mới theo một cách mới, gần như là mới trên một chiều kích mới. Sẽ là sai nếu nói rằng tất cả thơ mới trong lịch sử đều đã có lúc khó như thơ mới thời chúng ta. Còn nếu ai nói bất kỳ thơ mới nào cũng khó như thơ mới của thế kỷ này, thì người ấy đang dùng “khó” theo hai nghĩa khác hẳn nhau. Trước đây nhiều thứ thơ cũng khó, nhưng không theo cách mà thơ mới đời nay khó. Thơ Alexandria ngày xưa khó vì nó đòi hỏi một độc giả nhiều học thức; nhưng đã có học thức thì người ta liền hiểu những chỗ vốn là rắc rồi, khó hiểu. Người ta sẽ không hiểu nổi thơ skald từ Bắc Âu nếu không biết kenningar, nhưng biết rồi thì sẽ hiểu. Và - đây là điều quan trọng tôi muốn nhấn vào - tất cả trí thức ở Alexandria và tất cả thi sĩ skald sẽ đồng ý với nhau về cách hiểu. Tôi nghĩ các ẩn dụ khó ở Donne cũng tương tự. Mỗi ẩn dụ đều có một cách diễn giải đúng; nếu được hỏi, Donne sẽ bảo cho ta biết cách diễn giải ấy là gì. Các bạn có thể hiểu sai cái mà Wordsworth “muốn nói lên”; thế nhưng câu chữ của ông thì mọi người đều hiểu. Những trường hợp này không tương đồng chút nào với diễn biến trong một cuộc thảo luận gần đây về bài thơ Cooking Egg[2] của ông Eliot. Bảy người trong độ tuổi trưởng thành (hai trong số đó hoạt động ở Cambridge này) đã dành cả đời mình nghiên cứu thơ; họ cùng nhau thảo luận một bài thơ rất ngắn đã được trình làng đến ba chục năm có lẻ. Vậy mà không ai đồng ý với ai về nghĩa của bài thơ ấy - bất kể quý vị muốn hiểu từ “nghĩa” theo nghĩa nào. Đây là điều hay hay dở, tôi chưa quan tâm lắm;[3] nhưng tôi muốn khẳng định rằng đây là một sự kiện mới. Trong suốt lịch sử phương Tây, từ Homer - có thể nói là từ sử thi Gilgamesh - chưa từng có một khúc ngoặt, một đứt gãy tương tự trong tiến trình phát triển của thơ. Về mặt này, ranh giới tôi đưa ra còn không có đối thủ luôn.
3. Thứ ba, có một biến động về tôn giáo mà tôi đã nói đến: giải Ki-tô. Tất nhiên, trong thời Jane Austen và cả trước đó cũng đã có nhiều người hoài nghi, cũng như ngày nay vẫn còn có nhiều người theo Ki-tô. Thế nhưng tiền đề xã hội nói chung thì đã thay đổi. Vào thời của Austen, thường người ta có một loại niềm tin và một mức độ tin nào đó. Ngày nay, tôi lấy làm mừng vì cách tin đã tốt hơn và mức độ tin đều đã cao hơn; tuy nhiên phải nói rằng tin là ngoại lệ. Biến động này, như tôi đã nói, còn lớn hơn biến động thời châu Âu mới tin đạo. Không thể không bực mình với những ông Giê-rê-mi thời hiện đại trên mặt báo cũng như trên bục giảng, những người cảnh báo chúng ta “đang quay về ngoại giáo thời xưa”. Quay về được chỗ đó thì tốt quá: vui biết mấy nếu mai có ông thủ tướng nào đứng giữa Westminster Hall mà mổ con bò lớn có bộ lông trắng như sữa. Thế nhưng không có chuyện đó đâu. Những lời tiên tri trống rỗng kia, nếu không phải là sử dụng ngôn từ cẩu thả thì cũng chỉ là một ý tưởng sai lầm; nó lầm tưởng rằng tiến trình lịch sử có thể lật ngược lại, rằng châu Âu có thể bước ra khỏi Ki-tô giáo “qua đúng cánh cửa mà nó đã bước vào”, rằng nó có thể quay về đúng nơi nó từng đứng trước khi theo đạo. Không có chuyện đó đâu. Một người hậu Ki-tô không phải là người ngoại giáo, cũng như người đàn bà đã có chồng không thể nhờ ly hôn mà quay lại làm gái đồng trinh. Con người hậu Ki-tô bị cắt đứt với quá khứ Ki-tô, và do đó bị cắt đứt đến hai lần với quá khứ ngoại giáo.
4. Giờ tôi mới xuống con bài chủ. Giữa Jane Austen với chúng ta, chứ không phải giữa bà với Shakespeare, hay Chaucer, hay Alfred, Virgil, Homer hay các pha-ra-ôn, là sự ra đời của máy móc. Máy móc khiến cho sự thay đổi đi xa hơn bất cứ yếu tố nào chúng ta đã xem xét. Sự ra đời của máy móc là sự kiện sánh ngang các biến động thời tiền sử, những biến động mà chúng ta thường dựa vào để chia tiền sử thành nhiều kỷ nguyên. Bước ngoặt ấy sánh ngang bước ngoặt từ đồ đá sang đồ đồng, từ nền kinh tế vườn tược sang nền kinh tế nông nghiệp. Nó cũng mang đến đổi thay cho vị thế của con người giữa tự nhiên. Chủ đề này đã được nói nhiều đến phát ngấy, cho nên ở đây tôi không muốn nói về những hệ quả kinh tế và xã hội của nó, dù những hệ quả ấy thật khôn lường. Tôi quan tâm nhiều hơn đến hiệu ứng tâm lý. Thế nào mà ngày nay chúng ta lại dùng chữ “tù đọng”, với những hàm nghĩa bệnh tật và sốt rét, để đặt tên cho cái mà ở các thời khác sẽ được gọi là “ổn định”? Tại sao từ “sơ khai” lại ngay lập tức khiến ta tưởng tượng ra sự vụng về, thiếu hiệu quả, man rợ? Khi cha anh chúng ta nói về hội thánh lúc sơ khai, sự thanh sạch buổi sơ khai của hiến pháp nước ta, họ không bao giờ lại cho từ “sơ khai” những hàm nghĩa như vậy. (Nghĩa miệt thị duy nhất mà Johnson gán cho từ “primitive”[4] là một nghĩa có ích cho từ này: kiểu cách; giả vờ đạo mạo; bắt chước cái đạo mạo của đời xưa”.) Tại sao “mới nhất” ở các quảng cáo lại đồng nghĩa với “tốt nhất”? Chúng ta phải nhìn nhận rằng, những thay đổi ngữ nghĩa này bắt rễ một phần từ niềm tin vào tiến bộ liên tục, một niềm tin vốn thịnh hành vào thế kỷ mười chín. Niềm tin về tiến bộ này hoặc đã sinh ra từ định lý về tiến hoá sinh học của Darwin, hoặc sinh ra từ thần thoại mang tên “vũ trụ tiến hoá”. Thần thoại này khác xa và nó xưa hơn định lý sinh học của Darwin nhiều; cả hai hình thức biểu đạt của nó, tức Hyperion của Keats và vở Ring của Wagner, đều có trước thời đại Darwin. Quả thật chúng ta cần đánh giá đúng vai trò của những luồng ảnh hưởng này. Nhưng bởi đâu mà niềm tin về tiến bộ đã được cố định thành một vùng khí hậu, để rồi đầu óc con người cứ phải sinh sống và hít thở trong đó? Chính là vì một hình ảnh, một nguyên mẫu. Đó là hình ảnh máy cũ bị máy mới và tốt hơn thay thế, vì rằng trong thế giới của máy móc, máy mới quả thật thường tốt hơn, máy sơ khởi kém được việc hơn. Nếu đây là hình ảnh vận hành mạnh mẽ trong đầu óc những người như chúng ta, thì trong đầu óc những người ít học, nó ngự trị mà gần như không có đối thủ. Với họ, sau khi đã lập gia đình và sinh con, các cột mốc trong đời thường là các bước tiến công nghệ. Họ tiến từ xe đẩy lên xe máy, từ xe máy lên ô tô. Họ đi từ máy hát lên radio, từ radio lên ti-vi; từ cái lò lên cái bếp: đó quả thật là những cung đường trong cuộc hành hương của họ. Bất luận nguyên do nằm ở đây hay ở đâu, thì cách nhìn cuộc sống như tôi vừa trình bày, qua những dấu ấn nó để lại trên ngôn ngữ của chúng ta, là cái đã ngăn cách chúng ta khỏi cha ông mình một cách dứt khoát nhất. Và giả như ta có quay được về thời đại của họ, thì việc cha ông ta không nhìn cuộc sống theo cách ấy sẽ là yếu tố khiến ta thấy thời đại của họ xa lạ với mình nhất. Còn chúng ta thì mặc định rằng mọi thứ chỉ là tạm thời và sẽ sớm được thay thế; rằng thay vì bảo vệ và bảo tồn những gì đã có, con người ta ở đời phải sở hữu những thứ mình chưa bao giờ có. Đây sẽ là nét gây bất ngờ và hoang mang cho tổ tiên chúng ta nếu họ gặp chúng ta giữa thời nay.
Vậy tôi tổng kết như sau. Để được chia thời kỳ theo cách chính mình đã đưa ra, tôi trình bày bốn lý do. Với lý do thứ nhất, ranh giới tôi kẻ ra cũng gọi là tạm được. Lý do thứ hai và thứ ba là hai lý do đủ mạnh để nó vượt qua các đối thủ. Nhưng với lý do thứ tư, nó chắc chắn là cách phân chia hợp lý nhất, đến nỗi không ai bàn cãi được. Từ đó, tôi kết luận rằng cách chia của tôi sẽ đánh dấu được bước biến động lớn nhất trong lịch sử Con Người Phương Tây.
Vì tôi tin chắc vào cách phân chia thời kỳ trên, cho nên nó sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến cách tôi tiếp cận công việc ở quý trường trong tư cách giáo sư. Một mai nếu tôi choàng tỉnh nhận ra tôi đang thao thao về sử thi Gilgamesh hay các tiểu thuyết Waverley, thì xin quý vị đừng ngờ tôi nói những điều tôi đã nói hôm nay chỉ để gỡ tội cho mình sau này. Lĩnh vực “Trung Đại và Phục Hưng” vốn đã là lĩnh vực quá lớn cho tôi. Nhưng như quý vị thấy, lĩnh vực quý vị giao cho tôi thì ra chỉ là tiêu bản cho một cái gì đó rộng lớn hơn nhiều, một cái gì đó đã bắt đầu từ trước khi Iliad được sáng tác và đến khi trận Waterloo diễn ra thì nó vẫn chưa sứt mẻ. Đương nhiên, ngay trong phạm vi của thời kỳ rộng lớn đó cũng đã có nhiều khác biệt giữa sự kiện xảy ra trước và sự kiện xảy ra sau. Nhiều khác biệt giữa giai đoạn tôi chuyên trị và các giai đoạn khác lại là những khác biệt dễ nắm bắt; nhưng lại có những khác biệt quan trọng giữa sự kiện nội trong một giai đoạn. Nhưng dẫu có thế nào thì toàn bộ quãng đường từ xưa tới nay - từ khởi đầu Hy Lạp hoặc tiền Hy Lạp cho tới hôm kia thôi - toàn bộ quãng đường ấy, khi chúng ta đứng ở hiện tại và phóng tầm nhìn về xa xôi quá khứ, vẫn cho thấy một sự đồng nhất. Sự đồng nhất ấy chắc chắn là quan trọng; có lẽ nó còn quan trọng hơn bất kỳ khác biệt nào giữa các sự kiện bên trong quãng đường lịch sử ấy. Chính vì thế, tôi không thể giảng về thời kỳ chuyên môn của tôi mà không thường xuyên bàn đến những thứ chẳng bắt đầu vào thời Trung Đại, cũng không kết thúc vào cuối thời Phục Hưng. Chính vì thế mà tôi sẽ buộc phải nói về nhiều thứ được mọi người gọi là “văn hoá châu Âu cổ”, “văn hoá Tây Âu cổ”. Nếu ai đó phải giảng về Warwickshire cho một khán giả toàn người sao Hoả (tôi không có ý xúc phạm nhé: người sao Hoả có thể rất hay), anh ta có thể nhất nhất chỉ trình bày thông tin lấy từ Warwickshire. Thế nhưng chẳng phải rất nhiều điều anh ta giảng cho người sao Hoả thực chất không phải câu chuyện về Warwickshire, mà là về “người bình thường ở trái đất”?
Do cách tiếp cận “dừng lại và xét” của mình, tôi e sợ nguy cơ chính tôi trở thành người phát ngôn cho Văn Hoá Cổ của Tây Phương. Có lẽ các bạn cũng sợ điều này. Tôi sẽ kết thúc bằng một lời cam kết và một lời khẳng định.
Đầu tiên là cam kết. Nghiên cứu một thời kỳ đã chết - bất luận công việc nghiên cứu đó kéo dài bao nhiêu và người nghiên cứu đó gần gũi với tinh thần của quá khứ nhường nào - không phải lúc nào cũng cho thấy một nỗi hoài niệm, một sự nô dịch cho quá khứ. Điều này còn đúng với xã hội nói chung nữa. Hiểu biết về quá khứ sẽ giải phóng chúng ta khỏi hiện tại, khỏi các thần tượng được rêu rao nơi đường chợ. Không những thế, nó còn giải phóng chúng ta khỏi quá khứ. Tôi thấy không ai ít nô dịch cho quá khứ cho bằng các sử gia. Người không biết sử thường vô thức chịu nô dịch cho quá khứ tương đối gần với anh ta. Dante đọc Virgil. Nhiều tác giả trung đại khác[5] thì phát triển một huyền thoại về Virgil với tư cách nhà phù thuỷ. Chính cái quá khứ gần hơn, chính cái tâm thức đã hình thành trong vòng vài thế kỷ trước đó, đã khiến các tác giả ấy hình dung như vậy về Virgil. Còn Dante thì tự do hơn; ông cũng hiểu nhiều hơn về quá khứ. Thời kỳ Cổ Điển đã bị các tác giả Trung Đại kia hiểu sai một cách vừa nóng vội, vừa trầm trọng, y như các tác giả Lãng Mạn, đến lượt mình, lại hiểu sai thời Trung Đại.[6] Nếu các bạn cũng hiểu sai một cách nóng vội và nghiêm trọng như thế về văn hoá của Phương Tây Cũ, thì chúng ta nào có tự do hơn các tiền bối lầm lạc ấy? Mà tôi thì thấy mọi người đã bắt đầu hiểu sai rồi. Ngăn chặn để lầm lẫn này không lớn thêm thật đúng là việc mà một trường đại học phải làm.
Còn đây là khẳng định của tôi - một khẳng định nghe có vẻ tự cao, nhưng không thật thế đâu. Ở trên, tôi đã chỉ ra rằng sự chuyển đổi lớn lao ngăn cách chúng ta với Phương Tây Cổ là một chuyển đổi từ từ và đến giờ vẫn chưa hoàn thành. Dù có một vực lớn ngăn cách hai miền, song những người vốn sinh trưởng ở mỗi miền vẫn có thể gặp gỡ, và thực chất là đang gặp gỡ trong căn phòng này. Vào những thời nhiều biến động, đây là chuyện hoàn toàn bình thường. Nếu đọc thư từ giữa Descartes và Henry More[7], chúng ta sẽ gặp một ví dụ rất thú vị cho hiện tượng này: hai người đồng thời đang thư qua từ lại, vậy mà ta tưởng như họ ngồi viết ở hai thế kỷ khác nhau. Đây, đây là chỗ vừa khó vừa dễ: tôi thuộc về trật tự Phương Tây Cổ nhiều hơn là thuộc về trật tự của thế giới các bạn. Về mặt nào đó thì đây là điểm trừ, nhưng về mặt khác thì nó lại là điểm cộng cho công việc tôi phải làm. Điểm trừ thì rõ quá rồi. Các bạn không muốn nghe một người Neanderthal giảng bài về giống người Neanderthal, lại càng không muốn nghe một con khủng long lên lớp về loài khủng long. Nhưng chuyện đâu đơn giản thế. Giả như một con khủng long nọ lê cái xác chình ình của nó vào phòng thí nghiệm, các bạn lẽ nào lại không ngoái lại nhìn nó trong lúc mình bỏ chạy? Biết nó di chuyển thế nào, biết bộ dạng, mùi mẽ nó ra sao, biết nó gây những tiếng động nào: đây lại không phải một cơ duyên tuyệt vời ư? Và nếu tên Neanderthal kia biết nói, thì dù kỹ năng giảng bài của hắn có thiếu sót đến đâu, chúng ta há lại không học được từ hắn nhiều điều mà một nhà nhân học xuất chúng cũng không dạy cho chúng ta biết được? Hắn sẽ dạy chúng ta mà không biết mình đang dạy. Tôi thì dám chắc một điều này: tôi sẵn sàng trả giá cao để được nghe trực tiếp một người Athens cổ đại nói về bi kịch Hy Lạp, bất luận anh ta có ngu dốt đến đâu. Anh ta hiểu từ trong máu nhiều điều mà chúng ta tìm kiếm hoài công. Biết đâu, vào một khắc nào đó, anh ta lại chẳng thốt ra một câu mà nhờ nó, anh vô tình chỉ ra giúp chúng ta đâu là chỗ mà học giới hiện đại đã lạc lối trong suốt bao nhiêu năm trời. Thưa quý vị, tôi đứng trước quý vị cũng như anh chàng Athens nọ. Nhiều văn bản với quý vị là sách ngoại văn, nhưng với tôi là sách tiếng mẹ đẻ. Tôi đã nói rồi đấy, tôi không tự cao đâu: có ai kiêu hãnh vì nói sõi tiếng mẹ đẻ, có ai ngạo mạn vì biết đường lối ngay trong chính nhà cha mình? Tôi tin chắc rằng, để hiểu đúng văn học của Phương Tây Cũ, các bạn cần hãm lại các phản ứng, cần bỏ đi hầu hết thói quen đã tập được từ quá trình đọc văn hiện đại. Vì rằng đây là nhận xét của một người bản xứ của cái Phương Tây Cũ nọ, cho nên tôi xin khẳng định, rằng ngay cả khi cơ sở tôi đưa ra cho niềm tin của mình là cơ sở bấp bênh, thì việc tôi có niềm tin ấy đã là một thông tin lịch sử mà các bạn cần cân nhắc cẩn thận. Nếu tôi thất bại với tư cách nhà phê bình, tôi vẫn có thể có ích với tư cách một tiêu bản lịch sử. Tôi còn dám nói cứng hơn nữa kia. Phát biểu không những cho chính mình mà cho tất cả đám người Phương Tây Xưa mà các bạn được gặp, tôi khuyên các bạn hãy lo mà dùng mấy tiêu bản này trong lúc còn dịp. Quanh các bạn cũng không còn nhiều khủng long nữa đâu.
[1] Life of Milton.
[2] Essays in Criticism, III, 3 (Tháng Bảy 1953). (NC)
[3] Trong âm nhạc, có những bản đòi hỏi nhiều tài năng ở người chơi hơn người soạn. Biết đâu lại sẽ đền thời mà nghệ thuật sáng tác thơ sẽ đứng thấp hơn nghệ thuật đọc hiểu thơ? Đương nhiên, các cách đọc khác nhau sẽ không còn “đúng” và”sai” mà sẽ là những “phần biểu diễn” tài tình hơn hay kém tài tình hơn thôi. (NC)
[4] nguyên thuỷ, sơ khởi, sơ khai
[5] Muốn biết họ là những ai, xem Comparetti, Virgilio nel Medio Evo, G. Pasquali biên soạn (Firenze, 1943), tr. xxii. Có thông tin tham khảo này là nhờ ông G. C. Hardie. (NC)
[6] Như các ví dụ của tôi cho thấy, những hiểu lầm này lại có thể đưa đến những kết quả quý giá cho trí tưởng tượng. Nếu người Lãng Mạn không bóp méo thời Trung Đại, chúng ta hẳn sẽ không có Eve of St. Agnes. Chúng ta vừa có thể trân trọng quá khứ như nó được tưởng tượng, vừa nhìn nhận sự khác biệt giữa nó và quá khứ thật; nhưng nếu chỉ thích quá khứ được tưởng tượng thôi thì chúng ta đến với trường đại học làm chi? (Chủ đề này đáng được xem xét thấu đáo hơn nhiều mức tôi có thể trong bài viết này.) (NC)
[7] A Collection of several Philosophical Writings (Cambridge, 1662). (NC).
