1. Gánh của sự Vinh Hiển - Bài thuyết giảng ở Nhà Thờ St. Mary Đức Mẹ Đồng Trinh ở Oxford
Nếu ta hỏi hai mươi người tốt ngày nay, phẩm hạnh cao quý nhất là gì, mười chín sẽ đáp: Không Vị Kỷ. Nhưng nếu ta đặt câu hỏi tương tự cho bất cứ tín hữu Ki-tô xuất chúng nào thời xưa, câu trả lời sẽ là Yêu Thương. Các bạn có thấy thay đổi ở đây không? Một từ tiêu cực đã thay thế cho một từ tích cực, và điều này có một ý nghĩa vượt ra ngoài môn ngữ văn đấy. Không vị kỷ - một ý niệm tiêu cực - không hàm ý việc chúng ta ưu tiên những điều tốt lành cho người khác, mà hàm ý việc chúng ta không vơ điều tốt lành về cho mình. Dường như điều quan trọng phải là chúng ta nhịn những thứ tốt lành, chứ không phải họ được hạnh phúc. Tôi không cho đây là đức tính yêu thương của người Ki-tô. Tân Ước nói nhiều về sự chối mình, nhưng không phải thứ chối mình tự nó là mục đích. Chúng ta được dạy phải chối mình, vác thập tự giá để bước theo Đấng Christ; nhưng gần như mọi mô tả về cái đích chúng ta cuối cùng sẽ đạt được nếu chịu chối mình vác thập tự giá thì lại đánh vào ham muốn của chúng ta. Nếu trong các đầu óc hiện đại còn lởn vởn quan niệm cho rằng ham muốn những điều tốt lành và hy vọng được tận hưởng những điều đó là suy nghĩ xấu, thì tôi xin nói rằng quan niệm ấy đã từ Kant và các nhà Khắc Kỷ thâm nhập vào, chứ chưa bao giờ là một phần của đức tin Ki-tô. Thậm chí nếu chúng ta nhớ lại những lời hứa được Chúa ban một cách không hề ngượng ngùng về phần thưởng về sau, nếu chúng ta nhớ lại những phần thưởng khiến ta phải ngỡ ngàng mà các sách Phúc Âm đã hứa ban tặng, thì dường như Chúa còn thấy ham muốn của chúng ta không phải nhiều quá, mà yếu ớt quá. Chúng ta là con cái nửa vời, chơi bời vặt vãnh những món rượu chè, trai gái và thăng tiến trong đời, trong khi cái được hứa trao cho chúng ta là vui sướng vô tận. Chúng ta khác nào đứa trẻ dốt nát, đòi nặn đất sét trong vũng bùn chỉ vì nó chưa tưởng tượng ra được đi chơi biển nghĩa là như thế nào. Chúng ta quá dễ hài lòng.
Dẫu những người không tin có bảo lời hứa về phần thưởng sẽ biến toàn bộ đời sống của người Ki-tô thành một hành vi hám lợi, chúng ta cũng không cần bận tâm. Có nhiều loại phần thưởng. Có thứ phần thưởng không có mối liên quan tự nhiên nào với những điều ta làm để đạt phần thưởng đó; nó hoàn toàn xa lạ với những ham muốn đáng nhẽ phải đi kèm những việc ta làm. Tiền bạc không phải là phần thưởng tự nhiên của tình yêu, vì thế nếu ai đó cưới một người đàn bà vì tiền của của cô ấy, chúng ta nói rằng anh ta hám lợi. Nhưng hôn nhân là phần thưởng xứng đáng cho một người tình chân chính, và người đó không hám lợi nếu anh ta muốn đạt được hôn nhân. Vị tướng đánh trận giỏi để được phong tước là vị tướng hám lợi, nhưng vị tướng đánh trận để chiến thắng thì không, bởi chiến thắng là phần thưởng thích hợp của chiến tranh, cũng như hôn nhân là phần thưởng thích hợp của yêu đương. Phần thưởng thích hợp không đơn thuần là thứ được cột kèm vào hoạt động nhờ đó người ta đạt được nó; phần thưởng ấy là sự hoàn tất của hoạt động đó. Tận hưởng thơ Hy Lạp rõ ràng là một phần thưởng thích hợp chứ không hề vụ lợi của việc học tiếng Hy Lạp; nhưng chỉ những ai đã đạt trình độ có thể vui đọc thơ Hy Lạp mới khẳng định được điều này từ trải nghiệm cá nhân. Em học sinh mới bắt đầu học ngữ pháp Hy Lạp không thể mong ngóng cảnh được vui đọc Sophocles khi đã lớn đúng theo cách mà một người tình mong ngóng hôn nhân hay vị tướng mong ngóng chiến thắng. Khi mới bắt đầu, em phải học vì điểm số, hoặc học để tránh bị phạt, để làm cha mẹ hài lòng, hoặc cùng lắm là học với hy vọng vào một điều tốt đẹp nào đó trong tương lai mà hiện tại em còn chưa tưởng tượng hay ham muốn được. Vậy nên vị thế của em có chỗ giống vị thế của người vụ lợi; phần thưởng của em sau này thực chất sẽ là phần thưởng tự nhiên, phần thưởng thích hợp, thế nhưng em không thể biết điều đó cho đến khi đạt được nó rồi. Đương nhiên em học sinh sẽ dần dần đạt được phần thưởng này; giữa lúc ta đang nhọc nhằn, niềm vui thầm lặng lẻn vào, và không ai chỉ ra được đâu là ngày mà nhọc nhằn chấm dứt và vui sướng bắt đầu. Việc em học sinh có biết ham muốn phần thưởng vì bản thân phần thưởng ấy hay không lại phụ thuộc vào việc em đã đến gần nó bao nhiêu; thậm chí khả năng ham muốn một phần thưởng vì bản thân phần thưởng ấy, tự nó cũng là phần thưởng, một phần thưởng bước đầu.
Với nước thiên đàng, tín hữu Ki-tô cũng cùng chỗ đứng với em học sinh nọ. Những người đã đạt được sự sống đời đời trong mắt Chúa chắc chắn biết rõ rằng sự sống ấy không phải một món hối lộ, mà là cái hoàn tất cho quá trình tin theo của họ trên đất này. Nhưng đám chúng ta, những kẻ chưa đạt đến sự sống đời đời ấy, lại không thể hiểu biết nó như họ; chúng ta cũng không có cách nào bắt đầu quá trình hiểu biết ngoài tiếp tục vâng lời và tìm kiếm phần thưởng đầu tiên cho sự vâng lời ấy. (Phần thưởng đầu tiên lại chính là việc chúng ta có thêm sức để mong muốn phần thưởng sau cùng.) Ham muốn dành cho phần thưởng sau cùng càng thêm lên thì mối lo ngại nó là một ham muốn vụ lợi càng lụi đi; cuối cùng, chúng ta sẽ nhận ra lo ngại ấy là phi lý. Nhưng với đa số chúng ta, điều này không thể xảy đến trong vòng một ngày; thơ thay thế ngữ pháp, tin mừng thay thế luật pháp, mong mỏi thay thế vâng phục, tất cả đều phải từ từ như thuỷ triều nâng một con tàu mắc cạn.
Tuy nhiên, giữa chúng ta và em học trò kia còn có một điểm tương đồng cũng quan trọng. Nếu là một cậu bé giàu tưởng tượng, nhiều khả năng cậu học trò ấy sẽ ngụp lặn trong các thi sĩ và các tác giả romance Anh phù hợp với lứa tuổi. Trong một khoảng thời gian, em sẽ vui đọc các tác giả ấy trước khi lờ mờ nhận ra rằng việc học ngữ pháp Hy Lạp sẽ dẫn em tới mỗi ngày một nhiều hơn những niềm vui tương tự. Thậm chí, em sẽ sao nhãng tiếng Hy Lạp để lén đọc Shelley và Swinburne. Nói cách khác, ham muốn mà tiếng Hy Lạp sẽ một ngày thoả mãn đã tồn tại trong em và gắn liền với những thứ em tưởng chừng chẳng liên quan gì đến Xenophon và các động từ đuôi μι[1]. Nếu chúng ta sinh ra là để hưởng nước Thiên Đàng, thì sự mong mỏi dành cho nơi chốn xứng hợp sẽ có sẵn trong chúng ta, chỉ có điều ham muốn ấy chưa đi liền với đối tượng đích thực của nó, thậm chí còn như đối thủ của đối tượng ấy. Tôi thấy đây là hiện tượng chúng ta thấy xảy đến trong mình. Đương nhiên sẽ đến chỗ mà ví dụ của tôi về cậu học trò sẽ không còn tương đương [với trường hợp của chúng ta nữa.] Thơ tiếng Anh mà em đọc (khi em đáng nhẽ phải làm bài tập tiếng Hy Lạp) có thể cũng hay như thứ thơ Hy Lạp mà các bài tập kia đang hướng em đến, thế nên nếu tập trung vào Milton thay vì tiến bước về Aeschylus thì em không hẳn là đang đắm vào một đối tượng sai. Nhưng trường hợp của chúng ta thì khác lắm. Nếu một sự tốt lành xuyên thời gian, xuyên giới hạn nào đó thực sự là đích đến của chúng ta, thì bất cứ điều tốt lành nào khác mà ham muốn của ta tập trung vào cũng là giả ở một mức độ nào đó; cùng lắm, điều tốt lành ấy chỉ là biểu tượng của cái thực sự làm ta thoả nguyện.
Nói về ham muốn một quê hương xa xôi này - ham muốn mà chúng ta cảm thấy bên trong mình ngay bây giờ - tôi thấy hơi ngại ngần. Tôi dường như đang làm một việc không đàng hoàng. Tôi đang cố phanh phui một bí mật không thể dập xoá trong mỗi người các bạn - bí mật khiến các bạn đau khổ tới nỗi các bạn trả thù nó bằng cách đặt cho nó đủ thứ tên xấu, như Hoài Niệm, Lãng Mạn, Ấu Trĩ. Bí mật ấy lại cũng ngọt ngào ngấm vào chúng ta tới mức, khi tâm sự với ai đó và câu chuyện đã đi đến chỗ chúng ta không thể không nhắc đến bí mật ấy, chúng ta lại hành xử vụng về và giả vờ cười chính mình. Đây là bí mật chúng ta không giấu, nhưng cũng không kể với ai được, mặc dù chúng ta vừa muốn kể, vừa muốn giấu. Chúng ta không kể được bởi đây là ham muốn dành cho một thứ chưa hề xuất hiện trong trải nghiệm của ta. Chúng ta không giấu nổi vì trải nghiệm của chúng ta cứ không thôi nhắc nhở đến nó, và chúng ta để lộ bí mật cũng như người đang yêu để lộ bí mật khi tên của người yêu dấu được nhắc. Mẹo chúng ta thường dùng là đặt cho bí mật này tên “Cái Đẹp”; chúng ta làm như dùng mẹo ấy là dàn xếp được vấn đề. Mẹo của Wordsworth là đánh đồng nó với một vài thời khắc trong quá khứ của chính ông. Nhưng tất cả chỉ là mẹo. Nếu Wordsworth có quay lại được những thời khắc ấy đi chăng nữa, ông cũng sẽ không tìm ra đối tượng ấy, mà chỉ tìm thấy những điều nhắc nhở ông về nó mà thôi. Cái ông nhớ hoá ra lại là một sự nhớ nhung. Chúng ta tưởng rằng cái đẹp nằm ở sách vở hay âm nhạc, nhưng những sách vở và âm nhạc ấy sẽ phản bội nếu chúng ta trông cậy vào chúng: cái đẹp không nằm ở chúng, nó chỉ đến qua chúng, và cái đến qua chúng là sự mong mỏi. Những điều này - cái đẹp, ký vãng - là hình ảnh của cái chúng ta thực sự thèm khát; nhưng nếu chúng ta lầm tưởng các hình ảnh ấy là đối tượng đích thực, chúng liền biến thành các thần tượng vô tri và làm tan vỡ trái tim những kẻ thờ phượng mình. Bởi chúng nào phải là đối tượng đích thực đâu; chúng chỉ là mùi hương của bông hoa chúng ta chưa tìm thấy, tiếng vọng của một giai điệu chúng ta chưa nghe, tin từ một miền đất chúng ta chưa từng đặt chân đến. Các bạn nói tôi đang phù phép ư? Có thể lắm; nhưng các bạn hãy nhớ đến các truyện cổ tích từng đọc. Bùa vừa là để gây mê, vừa là để giải mê. Các bạn và tôi đều cần lá bùa quyền phép nhất để đánh thức chúng ta khỏi cơn mê độc hại đã gần một trăm năm nay khiến chúng ta đắm đuối với thế gian này. Gần như toàn bộ chương trình giáo dục đã được định hướng để lấp đi tiếng nói bên trong rụt rè nhưng dai dẳng này; gần như toàn bộ triết học hiện đại được sinh ra để thuyết phục chúng ta rằng điều tốt lành cho loài người sẽ tìm thấy được trên thế gian này. Nhưng lạ thay, chính những triết lý về Tiến Bộ hay Tiến Hoá Sáng Tạo lại vô tình minh chứng cho sự thật, đó là đích đến của chúng ta là ở nơi nào khác kia. Hãy để ý cách mà các triết lý ấy thuyết phục chúng ta rằng thế gian là nhà. Mở đầu, chúng sẽ cố thuyết phục ta rằng thế giới này có thể được làm cho trở thành thiên đàng, nhờ đó xoa dịu cảm giác lưu đày của ta giữa thế gian. Kế đó, chúng nhủ ta rằng sự kiện tươi hồng này vẫn còn xa mới tới, nhờ đó xoa cho dịu đi một sự thật, đó là quê hương không ở đây, không bây giờ. Cuối cùng, để mong mỏi trong chúng ta đối với cái xuyên thời gian đừng thức dậy và phá hỏng tất cả, các triết lý này vận dụng bất cứ thủ pháp hùng biện nào có thể sao cho chúng ta đừng cho vào đầu một chiêm nghiệm: đó là dẫu cho tất cả hạnh phúc các triết lý này hứa hẹn có đến được với con người trên thế gian này đi nữa, thì lớp người này đến lớp người khác - cho đến lớp người cuối cùng - cũng vì sự chết mà phải từ bỏ hạnh phúc ấy, và từ nay đến đời đời câu chuyện mà chúng dệt ra sẽ là hư vô, thậm chí chẳng còn là câu chuyện nữa. Thế nên mới có những lời vô nghĩa mà ông Shaw mớm cho lời thoại dài sau cùng của Lilith, thế nên mới có Bergson ba hoa rằng élan vital có thể vượt qua mọi trở ngại, thậm chí sự chết - làm như một tiến bộ xã hội hay tiến bộ sinh học trên hành tinh này có thể hãm lại tiến trình lão hoá của mặt trời hay đảo ngược định luật thứ nhì của nhiệt động học.
Các triết lý có múa may thế nào đi nữa, chúng ta vẫn ý thức về một ham muốn mà không có niềm hạnh phúc phàm trần nào thoả mãn được. Nhưng có lý do nào để cho rằng thực tại ngoài kia sẽ cho ta thứ thoả mãn được nó không? “Ta bị đói không có nghĩa là có bánh ăn.” Nhưng tôi muốn khẳng định rằng nhận định này đã đi chệch chủ đề. Việc một người đang đói bụng không chứng minh được rằng anh ta sẽ có bánh ăn; anh ta có thể chết đói trên một tấm bè lênh đênh giữa Đại Tây Dương. Nhưng cơn đói lại chứng minh rằng anh ta đến từ một dòng dõi bồi bổ thân thể bằng việc ăn, rằng anh ta sống trong một thế giới có những thứ ăn được. Tương tự, dù không tin (tôi ước chi tôi tin) rằng ham muốn dành cho nước Thiên Đàng của tôi chứng minh rằng tôi sẽ được hưởng nước ấy, tôi vẫn cho rằng ham muốn ấy là dấu hiệu đáng tin cho thấy có tồn tại một chốn như nước thiên đàng và có những người sẽ được hưởng nước ấy. Một người có thể yêu một người đàn bà những không có được nàng. Thế nhưng chẳng phải rất lạ sao nếu hiện tượng “đem lòng yêu” lại xảy ra ở một thế giới không có tính dục?
[1] Một nhóm động từ trong tiếng Hy Lạp.
