2. Gánh của sự Vinh Hiển - Bài thuyết giảng ở Nhà Thờ St. Mary Đức Mẹ Đồng Trinh ở Oxford
Ở đây chúng ta có một ham muốn, hoài lang thang, không biết đối tượng của mình là gì và gần như không thể nhìn về hướng thực sự có đối tượng ấy. Các sách thánh có mô tả đôi chút về đối tượng này. Đương nhiên, câu chuyện chúng kể là câu chuyện mang tính biểu tượng. Về định nghĩa, nước Thiên Đàng nằm ngoài trải nghiệm của chúng ta, nhưng các mô tả mà trí óc hiểu được thì phải nằm trong khuôn khổ của trải nghiệm. Bức tranh của kinh thánh về nước thiên đàng do đó cũng nặng tính biểu tưởng như bức tranh mà ham muốn của chúng ta tự vẽ ra khi nó không được hỗ trợ từ bên ngoài. Nước thiên đàng không ăm ắp trang sức - cũng như nước ấy không phải như cái đẹp có trong Tự Nhiên hay một bản nhạc hay. Nhưng khác biệt là ở chỗ hình ảnh của kinh thánh là hình ảnh có thẩm quyền. Nó đến từ những tác giả gần với Chúa hơn chúng ta, và nó đã được kiểm chứng nhờ trải nghiệm Ki-tô giáo suốt nhiều thế kỷ. Ban đầu, căn cứ trên tính khí tự nhiên mà nói thì hình ảnh nhiều thẩm quyền này có rất ít sức hấp dẫn với tôi. Thoạt đầu, thay vì đánh thức, nó làm đông cứng ham muốn trong tôi, và đây là điều mà tôi phải biết sẽ xảy ra. Nếu Ki-tô giáo không cho tôi biết về miền đất xa xôi kia nhiều hơn những gì mà tính khí tôi vốn đã khiến tôi dò đoán, thì Ki-tô giáo chẳng cao hơn chính tôi được. Ki-tô giáo sẽ cho tôi nhiều hơn nữa, và tôi phải chấp nhận là nó không thể hấp dẫn ngay lập tức như “thứ của riêng tôi” hấp dẫn tôi. Với một em nhỏ mới đọc đến Shelley, Sophocles mới đầu hẳn sẽ nhàm chán và lạnh lẽo. Nếu tôn giáo quả thật là một cái gì đó khách quan, chúng ta không được tránh tập trung vào những yếu tố khiến ta băn khoăn hay xa lánh; bởi chính cái yếu tố gây băn khoăn hay xa lánh ấy lại che giấu điều chúng ta chưa biết và cần phải biết.
Những lời Kinh Thánh hứa có thể đươc tối giản thành năm gạch đầu dòng. Thứ nhất, Kinh Thánh hứa rằng chúng ta sẽ được ở cùng Đấng Christ; thứ hai, rằng chúng ta sẽ được giống Ngài; thứ ba - sử dụng một khối lượng hình ảnh rất đa dạng, rực rỡ - rằng chúng ta sẽ được “vinh hiển”; thứ tư, rằng chúng ta, về nghĩa nào đó, sẽ được no đủ, yến tiệc và vui vẻ; cuối cùng, rằng chúng ta sẽ được một chức quyền nào đó trong vũ trụ - cai trị các thành, xử đoán các thiên sứ, làm trụ cột cho đền của Chúa. Câu hỏi đầu tiên tôi đặt cho những lời hứa này là: “Tại sao phải là tất cả chứ không chỉ điều đầu tiên thôi?” Chúng ta lại thêm thắt được gì vào ý niệm “được ở cùng Đấng Christ” ư? Bởi, như lời của một tác giả ngày xưa, người có Chúa và đồng thời có mọi thứ sẽ không có nhiều hơn người chỉ có Chúa mà thôi. Tôi nghĩ câu trả lời xoay quanh bản chất của biểu tượng. Có thể thoạt nhìn, các bạn chưa để ý ra, nhưng quả thật là bất cứ ý niệm nào về sự được ở cùng Đấng Christ mà chúng ta hiện giờ có thể hình thành, cũng sẽ nặng tính biểu tượng không kém những lời hứa còn lại. Ý niệm ấy sẽ tuồn vào những hình dung về việc được ở gần trong không gian, được trò chuyện thân ái (theo cách mà hiện giờ chúng ta đang hiểu), và nó sẽ tập trung vào phương diện nhân tính của Đấng Christ mà loại bỏ mất phương diện thần tính của Ngài. Trên thực tế, chúng ta thấy những Ki-tô hữu chỉ tập trung vào lời hứa thứ nhất sẽ luôn điền đầy lời hứa ấy bằng những hình ảnh rất trần tục - những hình ảnh về hôn nhân và luyến ái. Tôi không hề lên án thứ hình ảnh ấy. Tôi thiết tha mong muốn có thể đi sâu vào nó hơn, tôi cầu nguyện sẽ đi được sâu hơn. Nhưng tôi muốn nói rằng đến lời hứa ấy cũng chỉ là biểu tượng, nó giống thực tế ở một vài phương diện, nhưng khác ở những phương diện khác. Do đó, nó cần được điều chỉnh bởi các biểu tượng xuất hiện ở những lời hứa khác. Sự biến thiên của các lời hứa không chứng minh rằng ngoài Chúa ra, có thể còn có thứ mang đến hạnh phúc tột cùng cho chúng ta. Nhưng bởi Chúa không chỉ là Người, cho nên để chúng ta không tưởng tượng niềm vui trong sự hiện diện của Ngài chỉ thông qua trải nghiệm nghèo nàn đã có về tình yêu của con người (vốn hẹp hòi, nhiều đòi hỏi và đơn điệu), chúng ta được ban cho những mười mấy hình ảnh điều chỉnh và đỡ đần lẫn nhau.
Giờ tôi muốn nói đến khái niệm vinh hiển. Sự thật không thể lảng tránh được là khái niệm này rất nổi bật trong Tân Ước và các tác phẩm thời đầu của Ki-tô giáo. Sự cứu rỗi luôn được liên hệ với chiến thắng, mão triều thiên, áo trắng, ngai và những thứ lung linh như mặt trời và các vì sao. Những thứ này không lôi cuốn tôi ngay; về mặt đó, tôi là một người hiện đại điển hình. Vinh hiển gợi cho tôi hai ý niệm khác, một cái thì xấu xa, cái còn lại lố bịch. Với tôi, vinh hiển hoặc là sự nổi danh, hoặc là sự toả sáng. Với điều thứ nhất, vì rằng nổi danh tức là được biết đến nhiều hơn những người khác, ham muốn danh tiếng do đó được tôi xem là một cảm xúc cạnh tranh và thuộc về địa ngục chứ không phải thiên đàng. Với cái thứ hai, có ai lại muốn trở thành một cái bóng điện sống không?
Khi mới bắt đầu tìm hiểu chủ đề này, tôi ngỡ ngàng phát hiện ra rằng ngay cả những người Ki-tô rất khác nhau như Milton, Johnson và Thomas Aquinas đều hiểu sự vinh hiển của nước thiên đàng theo nghĩa “danh tiếng tốt hoặc được đánh giá tốt”. Nhưng tiếng tốt ở đây không phải danh tiếng được ban cho bởi đồng loại của chúng ta - đây là danh tốt với Chúa, sự chuẩn thuận hoặc “nhìn nhận” (có thể nói thế) của Chúa. Và khi đã nghĩ kĩ về điều này, tôi thấy chính đây mới thật là quan điểm của kinh thánh; không gì có thể loại bỏ sự khen thưởng thiêng liêng khỏi thí dụ Chúa từng phán - “Hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín kia, được lắm”. Khi đã nhận ra điều đó, bao nhiêu điều mà tôi cả đời đã tin bỗng chốc sụp đổ như ngôi nhà xây bằng những lá bài. Tôi bất chợt nhớ ra rằng nếu không trở nên như con trẻ thì không ai vào được nước thiên đàng; và không có gì rõ ràng hơn ở một đứa bé - một đứa bé ngoan, chứ không phải một đứa bé kiêu căng - cho bằng niềm vui lớn lao và không che đậy khi nó được khen. Điều này rõ ràng không chỉ ở đứa trẻ thôi, mà ở cả con chó, con ngựa nữa. Có vẻ như cái mà bao nhiêu năm tôi lầm tưởng là sự khiêm nhường đã ngăn không cho tôi hiểu đâu là niềm vui khiêm ti, con trẻ và đúng nghĩa với một tạo vật nhất - tức niềm vui của kẻ thấp hèn hơn, niềm vui của súc vật trước con người, đứa con trước cha mình, em học trò trước thầy giáo, một tạo vật trước Đấng sáng tạo ra nó. Tôi sẽ không bao giờ quên ham muốn rất đỗi trong sáng này bị tham vọng của con người bắt chước dưới hình thức kinh hoàng ra sao; từ kinh nghiệm bản thân, tôi cũng sẽ không quên niềm vui chính đáng khi được khen ngợi bởi những người tôi có nghĩa vụ làm hài lòng, lại có thể nhanh chóng biến thành nọc độc chết người của sự ái mộ bản thân đến nhường nào. Nhưng tôi tin tôi có thể xác định được thời khắc - thời khắc rất, rất ngắn ngủi thôi - trước khi tất cả những tha hoá này xảy ra; ở thời khắc ấy trong tôi đã có sự thoả lòng thuần khiết vì tôi đã làm hài lòng những người tôi yêu thương và kính sợ một cách chính đáng. Bấy nhiêu là đủ để hướng trí tưởng tượng của chúng ta tới điều sẽ xảy đến sau này, khi linh hồn được rỗi của chúng ta cuối cùng nhận ra một điều mà linh hồn ấy chẳng dám hy vọng và hầu như chẳng dám tin, ấy là nó đã làm hài lòng Đấng mà nó được sáng tạo để làm hài lòng. Lúc bấy giờ sẽ chẳng còn chỗ cho kiêu căng nữa. Linh hồn ấy sẽ thoát khỏi ảo tưởng thảm hại cho rằng nó được như thế là nhờ sức mình. Không còn vương chút nào cái mà chúng ta giờ này gọi là hài lòng với bản thân, linh hồn ấy sẽ vui sướng một cách vô tư vì được là cái mà Đấng sáng tạo nó muốn nó trở thành, và phút nó được chữa cho lành cái phức cảm tự ti xưa cũ cũng là lúc mà sự kiêu căng của nó sẽ chìm xuống còn sâu hơn bí kíp ma thuật của Prospero. Sự khiêm nhường toàn vẹn sẽ thay thế sự khiêm tốn. Nếu Chúa thoả lòng với công việc Ngài, thì công việc ấy có thể thoả lòng với chính nó; “phận nó không được phép cùng đức vua thù tạc lời khen ngợi”. Tôi có thể tưởng tượng ai đó nói rằng anh ta không thích tôi quan niệm nước thiên đàng như là nơi chúng ta được vỗ vai khen ngợi. Thế nhưng đằng sau việc anh ta không thích là một sự hiểu lầm kiêu ngạo. Ngày sau rốt, Dung Nhan hoặc đem đến sự vui mừng hoặc đem đến sự kinh khủng cho hoàn vũ sẽ quay ra nhìn chúng ta chỉ với một trong hai sắc mặt - hoặc Dung Nhan ấy sẽ ban cho chúng ta vinh hiển không lời nào lột tả, hoặc sẽ giáng trên chúng ta sự hổ thẹn không gột rửa hay che đậy được. Tờ tạp chí tôi đọc hôm vừa rồi nói rằng điều tối cơ bản là chúng ta nghĩ thế nào về Chúa! Lạy Chúa, không phải đâu! Chúa nghĩ thế nào về chúng ta không chỉ quan trọng hơn, mà quan trọng hơn đến vô cùng. Kinh Thánh nói chúng ta sẽ phải “đứng trước” Ngài, sẽ hiện diện trước Ngài, sẽ được Ngài tra xét. Lời hứa về sự vinh hiển (một lời hứa chúng ta hầu như không tin nổi và chỉ có thể thực hiện qua công việc của Đấng Christ), ấy là có những người - ấy là bất cứ ai sẵn lòng - sẽ vượt qua được sự tra xét đó, sẽ được chấp nhận, sẽ đẹp lòng Chúa. Làm đẹp lòng Chúa … được làm một thành phần đích thực của niềm vui thiên thượng … được Chúa yêu chứ không chỉ thương hại, được Ngài vừa ý như nghệ sĩ vừa ý về tác phẩm hay người cha vừa ý về con mình - đây là điều dường như không thể, một gánh nặng vinh hiển mà tư tưởng chúng ta tưởng như không kham được. Nhưng nó thật là thế đấy.
Các bạn có nhìn thấy điều đã xảy ra không? Nếu từ đầu tôi chối bỏ hình ảnh có thẩm quyền hơn của kinh thánh về sự vinh hiển, nếu tôi ương bướng bám víu vào dục vọng mơ hồ ban đầu, cái dục vọng vốn chỉ là mũi tên hướng tôi về nước thiên đàng, thì hẳn tôi không nhìn ra mối liên hệ nào giữa dục vọng đó và lời hứa của Ki-tô giáo. Nhưng sau khi đã bước theo hình ảnh tưởng chừng khó hiểu và gây xa cách ở các sách thánh, tôi nhìn lại và ngỡ ngàng nhận ra rằng mối liên hệ đó hết sức rõ ràng. Hiển vinh - cái hiển vinh mà Ki-tô giáo đã dạy tôi phải biết trông mong - hoá ra lại làm thoả được ham muốn ban đầu của tôi, và nó còn phơi bày trong ham muốn ấy một yếu tố mà tôi chưa hề nhận biết. Nhờ biết ngừng cân nhắc những dục vọng của mình trong một phút mà tôi đã hiểu rõ hơn về cái tôi thật sự muốn. Cách đây vài phút, khi tôi cố gắng mô tả những mong mỏi thuộc linh trong chúng ta, tôi đã tạm loại ra một đặc tính kỳ lạ nhất của những mong mỏi ấy. Chúng ta thường nhận ra tính chất này khi phút khải thị qua đi, khi nhạc tắt hay khi phong cảnh dưới đất phải chịu thua bầu trời[1]. Cái chúng ta cảm nhận đã được Keats tài tình gọi là “hành trình về lại với bản ngã quen thuộc”. Các bạn hiểu ý tôi là gì rồi. Trong vài phút, chúng ta tưởng mình thuộc về thế giới ấy. Nhưng giờ tỉnh lại, chúng ta biết không có chuyện đó trên đời. Chúng ta chỉ là khán giả thôi. Cái đẹp đã mỉm cười, nhưng không phải để đón tiếp chúng ta; gương mặt nàng đã hướng về phía chúng ta, nhưng không phải để nhìn chúng ta. Chúng ta chưa được chấp nhận, tiếp đón, hoặc chưa được mời hoà vào điệu nhảy. Chúng ta muốn thì cứ việc đi, được thì cứ việc ở lại: “Không ai để ý thấy chúng ta hết.” Nhà khoa học sẽ đáp rằng vì phần lớn những thứ chúng ta thấy đẹp đều vô tri, cho nên chẳng lạ gì nếu chúng không để ý đến chúng ta. Đương nhiên điều này đúng. Nhưng cái tôi nói đến không phải các vật thể, song là một cái gì đó không diễn tả được mà các vật thể kia, vào một khoảnh khắc nào đó, là sử giả truyền tin cho nó. Sở dĩ trong sứ điệp ngọt ngào ấy có lẫn vị đắng cũng một phần là bởi sứ điệp ấy hình như không dành cho chúng ta; nó là thứ chúng ta nghe lỏm được. Vị đắng mà tôi nói ở đây là nỗi đau chứ không phải hờn giận. Chúng ta không dám đòi được để ý. Nhưng chúng ta mong nhớ. Một phần của cái bí mật không thể dập xoá nọ chính là cảm giác bị đối xử như người lạ trong vũ trụ này, chính là mong mỏi được thừa nhận, được đáp trả, chính là mong mỏi bắc một cây cầu qua vực ngăn giữa chúng ta và thế giới thực. Đứng từ góc nhìn này thì lời hứa về vinh hiển (theo nghĩa tôi đã nói) sẽ can hệ rất nhiều đến mong muốn sâu thẳm trong chúng ta. Là vì vinh hiển tức là được đánh giá tốt trước Chúa, được Chúa chấp nhận, nghĩa là được đáp trả, thừa nhận và đón vào trung tâm của mọi sự. Cánh cửa mà ta cả đời đã gõ cuối cùng sẽ mở ra.
Có lẽ, nói vinh hiển tức là được Chúa “để ý” thì hơi thô vụng. Nhưng đây lại là ngôn từ được Tân Ước sử dụng. Khác với những gì chúng ta kỳ vọng, Phao-lô không cam đoan với những người yêu mến Chúa rằng họ sẽ biết Chúa; ông nói rằng họ sẽ được Chúa nhìn biết (I Cô-rinh-tô 8:3). Đây là một lời hứa kỳ lạ. Chúa há chẳng biết mọi sự ở mọi lúc hay sao? Nhưng lời hứa trên lại có một tiếng vọng kinh hoàng đấy. Chúng ta được cảnh báo về một tình cảnh có thể xảy đến cho bất cứ ai vào ngày sau rốt, khi người ấy đứng trước mặt Chúa và nghe những lời kinh khủng: “Ta chẳng biết ngươi. Hãy lui ra khỏi ta.” Theo một nghĩa - và nghĩa này tối tăm cho sức hình dung của trí tuệ chúng ta bao nhiêu thì quá sức chịu đựng cho cảm nhận của chúng ta bấy nhiêu - chúng ta có thể bị đuổi khỏi sự hiện diện của Đấng hiện diện khắp nơi và bị xoá khỏi sự nhìn biết của Đấng nhìn biết mọi sự. Chúng ta có thể bị ở ngoài hoàn toàn và tuyệt đối - bị xua đuổi, lưu đày, từ mặt, bị làm ngơ mãi mãi và theo cách mà không ngôn từ nào diễn tả được. Mặt khác, chúng ta cũng có thể được gọi vào, đón tiếp, đón nhận, thừa nhận. Hằng ngày chúng ta bước đi trên lưỡi dao ngăn cách hai khả năng không tưởng này. Thì ra, nỗi hoài niệm kéo dài cả đời của chúng ta, nỗi mong mỏi được đoàn tụ với một thứ gì đó trong vũ trụ mà hiện nay chúng ta thấy bị mình bị cắt đứt, được ở bên trong cánh cửa mà chúng ta vẫn thường nhìn thấy từ bên ngoài: đây không phải bệnh tưởng, mà là dấu hiệu đáng tin nhất về thân phận thật của chúng ta. Được gọi vào bên trong vào ngày sau cùng sẽ là vinh quang và danh dự vượt ra ngoài mọi giá trị của bản thân chúng ta, sẽ là sự chữa lành cho cơn đau đã nhức nhối từ thuở xa xưa đến tận giờ.
Điều này đưa tôi đến nghĩa còn lại của vinh hiển - tức là rạng rỡ, lung linh, toả sáng. Chúng ta sẽ được sáng như mặt trời, được ban cho sao hôm. Tôi tin tôi bắt đầu hiểu ý nghĩa của điều này. Theo một nghĩa thì rõ ràng là Chúa đã ban cho chúng ta sao hôm rồi: chúng ta có thể ra ngoài và tận hưởng món quà ấy hôm nào dậy thật sớm. Các bạn sẽ hỏi: thế chúng ta còn muốn gì nữa? Nhưng thật là chúng ta muốn nhiều hơn nữa cơ - chúng ta muốn điều gì đó mà các cuốn sách về mỹ học không để ý mấy, nhưng các thi sĩ và các nền thần thoại thì lại rất am hiểu. Chúng ta không chỉ muốn thấy cái đẹp, mặc dù - có Chúa chứng giám - món quà đó đã là đủ lớn. Chúng ta còn muốn một thứ khác, một thứ khó diễn tả được bằng lời: đó là được hiệp một với cái đẹp mình nhìn thấy, được bước vào nó, được đón nó vào trong mình, được tắm trong nó, được trở thành một phần của nó. Bởi thế nên chúng ta đã đặt đủ thứ nam thần, nữ thần, các nàng tiên và những con quỷ nhỏ trên không khí, trong đất và trong nước; để rồi tuy chúng ta không thể, nhưng những sinh vật phóng chiếu ấy có thể tận hưởng cái đẹp, cái duyên và sức mạnh mà Tự Nhiên là hình ảnh biểu trưng. Đó là lý do tại sao các thi sĩ kể cho ta nghe những chuyện bịa đáng yêu đến thế. Họ nói như thể gió tây thổi được vào hồn người, nhưng gió tây không thế. Họ kể rằng “cái đẹp sinh ra từ những tiếng rì rầm” sẽ tràn lên gương mặt; nhưng cái đẹp không làm được như vậy. Hoặc là chưa. Bởi nếu chúng ta nghiêm túc tin vào hình ảnh của Kinh Thánh, nếu chúng ta tin rằng Chúa một ngày nào đó sẽ ban cho chúng ta sao mai và cho chúng ta mặc lên sự sáng rỡ của mặt trời, thì chúng ta có thể cho rằng thần thoại cổ và thơ hiện đại, dù sai lầm với tư cách lịch sử, lại đi rất gần đến sự thật với tư cách lời tiên tri. Hiện giờ chúng ta còn ở bên ngoài thế giới ấy, ở bên kia cánh cửa. Chúng ta nhận thấy sự tươi mới và tinh khiết của ban mai, nhưng chúng chưa khiến chúng ta tươi mới và tinh khiết được. Chúng ta không hoà được vào những nét lung linh mình nhìn thấy. Vậy nhưng các trang Tân Ước đang xôn xao truyền đi lời nhắn nhủ rằng mọi sự sẽ chẳng mãi như vậy. Ngày nào đó, khi Chúa khứng, chúng ta sẽ được bước vào trong. Khi linh hồn loài người đã trọn vẹn trong sự vâng phục tình nguyện, cũng như tạo vật vô tri là trọn vẹn trong sự vâng phục vô tri của chúng, thì linh hồn ấy sẽ mặc lên sự vinh hiển của các tạo vật vô tri đó, hay đúng hơn là sự vinh hiển lớn hơn mà toàn bộ Tự Nhiên mới chỉ là bản phác hoạ đầu tiên. Các bạn đừng tưởng tôi đang đề ra một tưởng tượng tả đạo nào về việc hoà nhập với Tự Nhiên. Tự Nhiên là thứ hữu tử; chúng ta sẽ sống lâu hơn Tự Nhiên nữa. Khi các mặt trời và các tinh vân đã qua đi, mỗi người trong các bạn vẫn còn tồn tại. Tự Nhiên chỉ là hình ảnh, là biểu tượng; nhưng đó là biểu tượng mà Kinh Thánh khuyến khích tôi sử dụng. Chúng ta được kêu gọi phải bước vào thông qua Tự Nhiên, phải bước ra ngoài Tự Nhiên để bước vào một thứ vinh quang mà nàng được phép phản chiếu.
Ở đó, ở miền trên Tự Nhiên, chúng ta sẽ ăn trái của cây sự sống. Hiện tại, nếu chúng ta sinh lại trong Đấng Christ, thần linh trong chúng ta sống trực tiếp nhờ Chúa; nhưng thần trí, và thân thể thì càng vậy, đều nhận sự sống từ Ngài qua cả nghìn bước trung gian - từ các tổ phụ chúng ta, từ đồ ăn, từ các yếu tố tự nhiên. Những thành quả mờ nhạt và xa xôi sinh ra từ những sức mạnh mà niềm vui sáng tạo của Đức Chúa Trời đã gieo vào vật chất khi Ngài tạo dựng các thế giới, là những thứ mà chúng ta bây giờ gọi là các khoái lạc thân thể. Ngay cả khi đã chảy qua nhiều màng lọc, sức mạnh ấy vẫn lớn đến mức chúng ta không kiểm soát được. Nhưng sẽ thế nào nếu được nếm nơi đầu nguồn chính dòng chảy mà dẫu đã tuôn đến các hạ lưu xa xôi và thấp kém rồi vẫn còn khiến chúng ta say sưa đến thế? Tôi tin đây là thứ đang ở phía trước chúng ta. Con người trọn vẹn sẽ được uống sự vui mừng ở suối vui mừng. Như Augustine đã nói, sự mừng rỡ của linh hồn được rỗi sẽ “chảy tràn” vào thân thể đã được làm cho vinh hiển. Chỉ nhờ ánh sáng từ các ham muốn hẹp hòi và sa đoạ hiện giờ, chúng ta không thể tưởng tượng cái torrens voluptatis[2] này, và tôi thiết khuyên đừng ai cố tưởng tượng. Nhưng sở dĩ tôi đề cập điều này [rằng con người sống lại là hữu thể] là để loại bỏ những suy nghĩ gây lầm lẫn còn lớn hơn, rằng cái được cứu chỉ là một cái hồn không xác, rằng thân thể được cất lên sẽ sống tê liệt, vô tri giác. Thân thể được tạo ra là để phục vụ Chúa, và những hình dung tăm tối loại bỏ thân thể là những hình dung rất sai lạc.
Nhưng từ giờ đến lúc đó, thập tự giá phải đi trước mão triều thiên và sáng mai vẫn là sáng thứ Hai. Đã hiện ra kẽ nứt trên bức tường bao quanh thế giới kia, và chúng ta được kêu gọi hãy theo Vị Chỉ Huy cao cả bước vào. Bước theo Ngài là điều tối yếu. Cứ coi là vậy đi: có người sẽ hỏi, vậy tôi suy đoán những điều trên phỏng có lợi ích thực tiễn gì. Tôi nghĩ ra được ít nhất một lợi ích. Ai cũng có thể quá chăm chú vào vinh quang ngày sau của mình; nhưng không ai có thể nghĩ quá nhiều hay quá sâu về vinh hiển ngày sau của người lân cận. Gánh, hoặc ách, hoặc sức nặng của vinh hiển người lân cận tôi hằng ngày phải được tôi mang trên lưng; đây là gánh nặng đến nỗi chỉ có sự khiêm ti mới gánh được nó, còn lưng của người kiêu ngạo sẽ gãy ngay. Chúng ta thấy nhiệm vụ của mình là hệ trọng khi sống quanh chúng ta thành một nhân quần là những người mà một mai biết đâu lại trở thành các vị thần; khi chúng ta nhớ rằng đến người đần độn và nhạt nhẽo nhất ta nói chuyện một ngày nào đó biết đâu sẽ hoặc là một sinh linh mà nếu bây giờ được gặp mặt, ta sẽ rất muốn thờ phượng - còn không thì là một nỗi kinh hoàng và một giống hư hỏng mà nếu bây giờ có gặp, ta chỉ gặp trong ác mộng. Suốt ngày dài, ở một mức độ nào đó, chúng ta đang giúp không người này thì người khác đi đến một trong hai kết cục trên. Với ý thức về hai khả năng đều sẽ khiến ta choáng váng này, với niềm rùng rợn và sự thận trọng phải có khi đứng trước hai khả năng ấy, chúng ta điều hoà cách hành xử với nhau, điều hoà mọi tình bạn, tình yêu, mọi vui chơi, mọi hoạt động chính trị. Không có người thường đâu. Chúng ta chưa bao giờ nói chuyện với hữu tử tầm thường. Các dân tộc, các nền văn hoá, các nghệ thuật, các nền văn minh - tất thảy đều hữu tử, sánh đời chúng ta, đời chúng chỉ như đời con nhặng. Nhưng những người mà chúng ta đùa giỡn, làm việc, kết hôn, phớt lờ và bóc lột lại là những người bất tử đấy - những kẻ mà mai sau hoặc sẽ là nỗi kinh hoàng không biết chết, hoặc sẽ là cảnh lung linh sáng rỡ đến đời đời. Điều này không có nghĩa là chúng ta phải luôn luôn nghiêm trang. Chúng ta phải chơi giỡn nữa. Nhưng sự vui chơi của chúng ta (quả thật đây là cách vui chơi vui vẻ nhất) phải là thứ vui chơi giữa những người đã xem trọng nhau từ đầu - không chớt nhả, không trịch thượng, không kiêu căng. Và tình yêu của chúng ta phải là thứ tình yêu chân thật và đắt giá, thứ tình yêu thông cảm sâu sắc với cái ô tội mà chúng ta sẽ bất chấp để yêu kẻ phạm tội - chứ không phải là sự dung túng hay nuông chiều vốn hay đội lốt tình yêu, cũng như thói chớt nhả đội lốt vui vẻ. Đứng sau Bí Tích Thiêng Liêng [Đấng Christ], thì người lân cận là vật thiêng liêng nhất mà các giác quan tri giác được. Nếu người lân cận đó là một người lận cận đồng đạo Ki-tô thì anh ta cũng thiêng liêng gần theo cách mà Bí Tích Thiêng Liêng nọ là thiêng liêng vậy. Ấy là bởi ở anh ta mà Đấng Christ vere latitat[3] - mà Đấng được vinh hiển, Đấng làm cho vinh hiển, Đấng là sự Vinh Hiển, đang ẩn mình.
