favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

2. Bền đỗ trong Đức - Tin Câu Lạc Bộ Socratic ở Oxford, 1955

Ở trên là cách mà các Ki-tô hữu đi đến thừa nhận một số mệnh đề. Giờ chúng ta cần xem xét một câu chuyện hoàn toàn khác: đó là mức độ trung thành với niềm tin một khi niềm tin đó đã hình thành. Chúng ta phải thẳng thắn công nhận rằng các Ki-tô hữu có ca ngợi sự trung thành ấy như thể nó là điều đáng khen; thậm chí, theo một nghĩa nào đó, bằng chứng chống lại đức tin càng mạnh thì sự kiên trung ấy càng đáng khen. Họ thậm chí dặn nhau rằng những bằng chứng có vẻ chống lại niềm tin đó - những “thử thách cho đức tin” hay “cám dỗ khiến ta nghi ngờ” đó - là phải đến, và họ ngay từ đầu đã hạ quyết tâm phải chống lại các thử thách và cám dỗ này. Đây là thái độ cực kỳ khác với thái độ chúng ta đòi hỏi ở một nhà khoa học hay một sử gia khi làm chuyên môn của họ. Ở lĩnh vực của họ, chỉ cần xử lý qua loa hoặc làm ngơ với chút ít bằng chứng chống lại giả thiết yêu thích thôi cũng là ngu ngốc và đáng xấu hổ: người đời có mắng cho thì cũng phải chịu là đáng. Giả thiết phải bị đặt dưới mọi phép thử; mọi nghi ngờ phải được cân nhắc. Tuy nhiên tôi không xem giả thiết và niềm tin là một. Và nếu ta quan sát nhà khoa học không phải vào lúc anh ta đứng giữa các giả thiết trong phòng thí nghiệm, mà là lúc anh ta đứng giữa các niềm tin khác nhau trong đời thường, ta sẽ thấy sự đối lập giữa anh ta và một Ki-tô hữu vơi đi. Nếu đây mới là lần đầu tiên anh ta nghi ngờ sự chung thuỷ của vợ, liệu nhà khoa học có thấy nghĩa vụ của anh ta là tiếp tục giữ mối nghi ngờ này trong một cái đầu không thiên lệch, ngay lập tức phát triển một chuỗi phép thử để thử nghiệm lòng chung thuỷ đó, và trong khi kết quả chưa ra thì đợi chờ kết quả ấy với một tinh thần tuyệt đối trung lập? Đương nhiên, có thể sau cùng anh ta sẽ phải làm điều đó. Trên đời có những bà vợ không chung thuỷ, có những ông chồng thích thử nghiệm. Nhưng liệu phương án hành động này có phải bước giải quyết đầu tiên mà tất cả anh em trong nghề khoa học (tôi tin là tất cả, trừ một) sẽ khuyên anh ta lựa chọn? Liệu đó có phải phương án duy nhất được các bạn đồng nghiệp cho là xứng hợp với danh dự nhà khoa học của anh ta? Hay họ, cũng như chúng ta, gặp trường hợp anh ta thử nghiệm vợ như vậy, sẽ không những không khen bạn mình vì một phẩm chất trí tuệ mà còn trách cứ người bạn ấy vì một khuyết điểm đạo đức?

Qua những điều trên, tôi chỉ muốn phòng ngừa khả năng chúng ta phóng đại sự khác biệt giữa một bên là cách Ki-tô hữu kiên định trong niềm tin, với bên kia là thái độ của bao người bình thường với những niềm tin không dính gì đến thần học của chính họ. Tôi không hề có ý cho rằng trường hợp tôi đưa ra là trường hợp hoàn toàn tương đương với sự bền đỗ của người Ki-tô. Bằng chứng về sự không chung thuỷ có thể tích luỹ dần; đến mức độ nào đó, bằng chứng sẽ nhiều đến nỗi nếu còn không tin thì nhà khoa học kia dại khờ và đáng thương quá. Còn sự trung thành với niềm tin ban đầu mà các Ki-tô hữu khen ngợi thì dường như lại là kiểu trung thành bất chấp mọi bằng chứng. Giờ tôi phải cho thấy tại sao sự khen ngợi đó thực ra là hệ quả logic của sự tin nhận ban đầu mà thôi.

Muốn hiểu ra điều này, tốt hơn hết chúng ta hãy tưởng tượng ra các tình huống hoàn toàn ngược lại. Ở Ki-tô giáo, đức tin như trên là thứ được đòi hỏi từ chúng ta; nhưng có nhiều trường hợp chúng ta đòi hỏi niềm tin tương tự ở người khác. Nhiều lúc, chúng ta sẽ làm được tất cả những gì một sinh linh khác đang cần - chỉ cần sinh linh ấy tin ta. Khi ta gỡ con chó ra khỏi bẫy, kéo cái dằm ra khỏi ngón tay một em bé, dạy một em nhỏ bơi hoặc cứu giúp một em nhỏ không biết bơi, khi ta giúp một người mới bắt đầu leo núi vượt qua một đoạn hiểm trở, thì sự không tin ở phía được giúp đỡ chính là trở ngại chết người. Ta muốn họ tin ta, bất chấp những gì năm giác quan, trí tưởng tượng và kiến thức của họ mách bảo. Ta muốn họ tin rằng cái gây đau sẽ giúp họ hết đau, cái có vẻ nguy hiểm thực ra là lối an toàn duy nhất. Ta muốn họ tin những điều tưởng chừng không thể: rằng đưa chân sâu hơn vào bẫy là cách để gỡ chân ra, rằng khiến ngón tay đau hơn nhiều lần lại sẽ giúp nó hết đau, rằng tuy cơ thể chìm xuống nước nhưng nước sẽ đẩy và giúp cơ thể nổi, rằng không phải cứ bám víu vào nơi bám víu gần mình nhất là cách để không chìm, rằng muốn không rơi thì phải leo cao nữa và đặt chân lên rìa đá nào chìa hẳn ra. Cách duy nhất để thuyết phục họ tin vào những incredibilia[1] này chính là tận dụng niềm tin của họ vào chúng ta. Đương nhiên niềm tin này hoàn toàn cảm tính; nó không đến từ một minh chứng nào cả. Trong trường hợp chúng ta là người lạ, niềm tin ấy còn biết bám víu vào đâu ngoài cảm giác trấn an đến từ nét mặt và giọng nói, hoặc - trong trường hợp con chó sa bẫy - mùi từ cơ thể chúng ta? Nhiều khi chính vì phía kia còn thiếu tin tưởng mà chúng ta không giúp gì được. Nhưng nếu thành công thì chúng ta thành công là bởi họ đã duy trì niềm tin vào chúng ta bất chấp những bằng chứng dường như đi ngược lại. Không ai trách được chúng ta vì đòi hỏi sự tin tưởng đó, cũng không ai chê họ vì đã dám tin tưởng. Không ai sau đó lại nhận xét sao con chó ấy hay em bé ấy lại ngu dốt đi tin tưởng chúng ta vậy. Và nếu chàng trai trẻ từng leo núi kia đồng thời là một nhà khoa học, thì khi được xét duyệt để trở thành thành viên của trường, người ta sẽ không thể bắt bẻ anh vì anh từng một lần khước từ quy luật về bằng chứng khoa học của Clifford để giữ một niềm tin ở mức độ cao hơn là bằng chứng lúc bấy giờ cho phép anh tin.

Nếu tin nhận các mệnh đề của Ki-tô giáo, ta cũng qua đó tin nhận rằng ta luôn đứng trước Chúa như con chó hoặc em bé có dằm trong tay hoặc người đang tắm hoặc người leo núi kia đứng trước chính mình; thậm chí trường hợp của chúng ta còn khẩn thiết hơn bội phần. Từ đó mới rút ra kết luận thật logic rằng thái độ thích hợp ở các trường hợp trên cũng là thái độ thích hợp ở chúng ta, thích hợp hơn bội phần. Các bạn lưu ý nhé: tôi không nói rằng mức độ tin của niềm tin ban đầu sẽ sinh ra thái độ này dựa trên các quy tắc của tâm lý học. Tôi muốn nói rằng, một khi chúng ta tin thì nội dung của niềm tin đó, theo nguyên tắc tất yếu của logic, sẽ dẫn đến hệ quả rằng thái độ này là thái độ phải có. Nếu đời sống con người được sắp đặt bởi một đấng nhân lành - một đấng hiểu biết hơn chúng ta đến vô cùng không những về các nhu cầu thực sự của chúng ta mà về cả cách thoả mãn các nhu cầu đó - thì chúng ta sẽ xác định ngay từ đầu, một cách tiên nghiệm, rằng trong mắt chúng ta công việc của Ngài sẽ luôn luôn có vẻ rất không nhân lành, rất không khôn ngoan; nhưng khôn ngoan nhất vẫn là bất chấp tất cả và đặt niềm tin vào Ngài. Chưa kể chúng ta còn chắc chắn hơn về điều này bởi lẽ, khi tin nhận Ki-tô giáo, chúng ta đã được dặn rằng những bằng chứng có vẻ chống lại đức tin sẽ xảy đến - những bằng chứng ấy mạnh đến nỗi “có thể đánh lừa những kẻ được chọn”. Nhưng tình cảnh chúng ta sẽ bớt cơ cực vì hai điều. Một, bất chấp nhiều bằng chứng tưởng chừng chống lại đức tin, chúng ta lại cũng thấy nhiều bằng chứng bảo vệ đức tin ấy. Nhiều bằng chứng còn đến dưới dạng các sự kiện trong thế giới bên ngoài: chẳng hạn tôi đi gặp một người chỉ vì tôi thấy có hứng, nhưng sau đó tôi phát hiện anh ta đã cầu nguyện xin tôi đến vào đúng hôm ấy. Ở nhiều trường hợp, bằng chứng của tôi lại giống thứ bằng chứng đã khiến người leo núi hay con chó tin cậy vào người giải cứu mình - tức là giọng điệu, vẻ mặt và mùi của người giải cứu ấy. Vì rằng chúng tôi - với tiền đề của mình, chắc hẳn các bạn thấy những người tin như chúng tôi chỉ ảo tưởng - chúng tôi tin mình có hiểu biết qua tri giác về Đấng mà chúng tôi tin, bất kể hiểu biết ấy khiếm khuyết và gián đoạn đến đâu. Chúng tôi tin không phải vì “một Đức Chúa Trời” tồn tại, mà vì Đức Chúa Trời ấy tồn tại. Nhược bằng chúng tôi chưa dám khẳng định mình “biết” Ngài, thì có cả thế giới Ki-tô ngoài kia khẳng định họ biết Ngài. Ít nhất chúng tôi đặt để niềm tin vào một số người đại diện cho thế giới ấy; chúng tôi tin họ cũng theo cách mà con chó hay người leo núi kia tin thôi: bởi chúng tôi biết họ là người như thế nào. Còn đây là điều thứ hai. Nếu niềm tin ban đầu của chúng tôi là đúng, chúng tôi thấy rõ lý do tại sao mình bị đòi hỏi phải giữ sự trông cậy nhường kia - sự trông cậy bất chấp nhiều bằng chứng đi ngược lại nó. Vấn đề ở đây không phải là làm sao để được cứu thoát khỏi một cái bẫy hay một khúc hiểm trở nào đó khi leo núi. Chúng tôi tin rằng Đấng kia muốn hình thành một mối quan hệ riêng tư giữa Ngài và chúng tôi, một mối quan hệ sui generis[2] nhưng có thể đem ví với tình yêu cha con hoặc tình yêu luyến ái. Trông cậy hoàn toàn là một thành phần của mối quan hệ đó - thứ trông cậy không thể lớn lên nếu không đồng thời có chỗ cho nghi ngờ. Yêu tức là tin tưởng người ta yêu nhiều hơn bằng chứng cho phép, thậm chí bất chấp nhiều bằng chứng. Người nào chỉ tin vào ý định tốt lành của ta khi ý định ấy được chứng minh thì người ấy không phải bạn ta. Người nào không mất rất nhiều thời gian mới đi đến thừa nhận những bằng chứng phủ định ý tốt lành ấy, người ấy cũng không phải bạn ta. Sự tin tưởng giữa người này với người kia thực chất luôn được ca ngợi như một phẩm chất đạo đức, chứ không ai chê bai mà xem nó như một lỗi logic cả. Còn người nhiều nghi kỵ sẽ bị chê là người nhỏ nhen; có ai ca ngợi anh ta vì suy luận xuất sắc bao giờ đâu.

Như các bạn thấy, không có gì tương đương giữa sự bền đỗ trong đức tin của người Ki-tô với bên kia là sự cứng nhắc của một nhà khoa học tồi đang khư khư một giả thiết mặc dù đã có bằng chứng chống lại giả thiết đó. Người không tin thường nghĩ (điều này dễ thông cảm) rằng sự kiên trung với đức tin của người Ki-tô chúng tôi cũng như thế, bởi nếu có thì họ thường tiếp xúc với Ki-tô giáo qua các tác phẩm biện giải. Ở các tác phẩm ấy, đương nhiên sự tồn tại và tốt lành của Chúa trở thành câu hỏi tư biện như bao nhiêu sự khác ở trên đời. Quả thật, chừng nào sự tồn tại và tốt lành của Ngài còn là câu hỏi thì nó là câu hỏi tư biện. Nhưng một khi câu hỏi đó đã nhận được câu trả lời khẳng định thì tình huống thay đổi. Tin rằng Chúa tồn tại - hoặc ít nhất là Chúa này tồn tại - ta đồng thời tin rằng ta, với tư cách con người, cũng đứng trong sự hiện diện của Chúa như một Người. Cái mà mới phút trước thôi là các biến thiên trong ý kiến của ta về Ngài thì giờ đây là các biến thiên trong thái độ cá nhân của ta với một Con Người. Ta không còn đứng trước một luận cứ đòi hỏi ta thừa nhận; ta đứng trước một Con Người đòi hỏi ta tin tưởng. Để tôi tạm ví thế này. Cân nhắc in vacuo[3] xem anh X sẽ đến với chúng ta tối nay không là một chuyện; nhưng cân nhắc cũng điều này khi không những danh dự của X phụ thuộc vào sự có mặt của anh ta mà bên cạnh đó còn có một việc hệ trọng đang nhờ cả vào sự có mặt ấy: đây lại là chuyện khác hẳn. Trong trường hợp thứ nhất, kim đồng hồ càng quay thì ta càng có lý do để đừng mong anh ta nữa. Nhưng ở trường hợp thứ hai, tiếp tục chờ đợi là điều chúng ta phải làm cho người bạn ấy nếu trước đây anh ta luôn đúng hẹn. Ai trong chúng ta là không chút mất mặt nếu, ngay sau khi chúng ta bỏ cuộc, anh ta đã có mặt và giải thích đầy đủ tại sao mình trễ hẹn? Chúng ta sẽ thấy đáng nhẽ phải rõ bụng người bạn ấy hơn.

Đương nhiên, cũng như các bạn, ở đây chúng tôi ý thức được đức tin này là con dao hai lưỡi chí mạng thế nào. Nếu đức tin này tin điều đúng, nó sẽ là thứ cần thiết cho chúng ta, và thiếu nó thì tai hại vô cùng. Nhưng cũng đức tin kiểu này lại cũng có thể hoàn toàn vô căn cứ. Con chó có thể liếm tay người rút nó ra khỏi bẫy; nhưng biết đâu anh ta chỉ muốn đem nó về South Parks Road[4] mổ sống chơi. Đàn vịt ứng tiếng “Dilly, dilly, come and be killed” tin tưởng vào bà vợ bác nông dân, nhưng bà ấy kéo đàn vịt về là để vặn cổ từng đứa. Ở Pháp có câu chuyện nổi tiếng kể về đám cháy trong nhà hát. Người ta mỗi lúc một thêm hoảng loạn, mọi người đang từ khán giả hoá thành một đám đông hỗn loạn. Đúng phút ấy, một người to lớn râu xồm xoàm từ dàn nhạc nhảy lên sân khấu, giơ tay lên với dáng vẻ đầy uy nghi và nói lớn: “Que chacun regagne sa place.[5] Giọng nói anh ta quyền uy và nhiều sức nặng đến nỗi ai ai đều vâng lời anh. Kết quả là họ chết cháy, còn người râu xồm kia lặng lẽ đi qua cánh gà đến cửa sân khâu rồi thoát ra ngoài, vẫy chiếc xe vốn đang đợi một người khác, rồi về nhà đi ngủ.

Một người bạn đòi hỏi ở chúng ta đúng thứ tin cậy mà một tên lửa đảo cũng đòi hỏi. Từ chối không tin, vốn là cách khôn ngoan để đáp trả tên lừa đảo, lại là cách hẹp hòi và ti tiện nếu ta dùng cách đó đối xử với người bạn. Cách cư xử này sẽ phá hoại tình cảm giữa ta và người bạn ấy. Nếu ta tin điều đúng thì việc được dặn bảo trước, được trang bị trước để đối mặt với những hiện tượng tưởng chừng đi ngược niềm tin, là việc rất hợp lý. Nhưng nếu niềm tin của ta chỉ là ảo ảnh, thì chính sự dặn bảo trước và trang bị trước sẽ biến ảo ảnh ấy thành căn bệnh không chữa nổi. Tuy nhiên, một mặt ý thức được rằng các khả năng này có thể xảy ra, mặt khác gạt chúng ra khỏi đầu: đó là mô thức và là mô thức duy nhất chúng ta có thể đáp lại Chúa. Sự bấp bênh này không những không mâu thuẫn với đức tin mà còn là điều kiện để đức tin xảy ra. Khi được yêu cầu phải trông cậy, ta có thể trông cậy hoặc không; nhưng sẽ chẳng có nghĩa lý gì nếu nói ta chỉ trông cậy khi ai kia cho ta sự chắc chắn của một phép chứng minh. Bởi một khi đã có chứng minh thì cũng không còn chỗ cho tin cậy nữa. Và một khi chứng minh đã được đưa ra thì cái còn lại chỉ là mối quan hệ đã có được nhờ chúng ta đã tin tưởng hoặc không tin tưởng từ trước khi chứng minh nọ được đưa ra.

Câu “Phước cho những kẻ không thấy mà tin” không liên quan gì đến sự thừa nhận các mệnh đề Ki-tô giáo hồi chúng ta mới tin hết. Câu này không dành cho một triết gia đang muốn biết Đức Chúa Trời có tồn tại không. Câu này được phán với một người đã tin, một người đã biết một Người khác lâu nay và có nhiều bằng chứng cho thấy Người kia có thể làm nhiều điều kỳ diệu. Thế nhưng anh ta không chịu tin thêm chỉ một điều kỳ diệu nữa, dù đó là điều mà không những Người kia vẫn nói là sẽ xảy ra mà xung quanh còn có bao nhiêu bạn hữu khác có thể làm chứng. Câu ấy được phán không để trách thái độ hoài nghi theo nghĩa triết học, mà để trách tính cách “đa nghi” theo nghĩa tâm lý. Ý của câu ấy là “Ngươi đáng nhẽ phải rõ bụng ta hơn chứ.” Có nhiều chuyện giữa người với người thôi mà qua đó chúng ta thấy phải khen ngợi những người chưa thấy nhưng đã tin. Mối quan hệ của ta với những người chỉ tin khi ta được toà chứng minh vô tội sẽ khác hẳn mối quan hệ giữa ta và những người vẫn hằng đặt niềm tin vào ta.

Đối thủ hoàn toàn có quyền tranh cãi với chúng tôi về các căn cứ dẫn đến sự tin nhận ban đầu mà chúng tôi dành cho Ki-tô giáo. Nhưng họ không được bảo chúng tôi điên nếu, sau khi chúng tôi đã tin nhận, sự kiên trung với đức tin của chúng tôi không còn được điều chỉnh theo từng biến động của các bằng chứng có vẻ chống lại đức tin. Đương nhiên chúng tôi không dám mong họ biết chúng tôi dựa vào những gì để duy trì sự tin chắc của mình. Chúng tôi không thể đòi hỏi họ phải biết sự tin chắc ấy hồi sinh và luôn trỗi dậy từ tro tàn thế nào. Đến như việc chúng tôi, thông qua tính chất của đối tượng mà chúng tôi thấy mình đang dần dần biết qua tri giác, phải đi đến chỗ nhìn nhận rằng nếu điều chúng tôi tin chỉ là ảo ảnh thì toàn thể vũ trụ này cũng chưa sản sinh ra thứ gì đáng giá bằng nó, rằng mọi lý thuyết được đưa ra để lý giải ảo ảnh này đều không có nhiều ý nghĩa bằng chính ảo ảnh mà chúng lý giải - đến như điều này chúng tôi cũng không thể đòi họ phải hiểu. Đây là sự nhận biết chúng tôi không truyền đạt cho ai được. Nhưng họ có thể hiểu tại sao sự thừa nhận đó tất yếu phải đưa chúng tôi từ nguyên tắc suy luận của triết lý tư biện đến cái gọi là nguyên tắc suy nghĩ của quan hệ con người. Cái vốn là các biên thiên trong ý kiến mà thôi bây giờ đã trở thành các biến thiên trong hành xử giữa người với Người. Credere Deum esse[6] đã trở thành Credere in Deum[7]. Và Deum là Đức Chúa Trời này, Chúa mà ngày càng được giãi bày cho chúng tôi biết.

 

[1] điều không thể

[2] không thuộc loại nào có sẵn, tự nó làm nên một loại; độc nhất vô nhị

[3] không xét bối cảnh

[4] Tên một con phố ở Oxford, nơi toạ lạc nhiều khoa khoa học tự nhiên và cơ sở vật chất nghiên cứu của Đại học Oxford

[5] “Ai nấy hãy về chỗ mình.”

[6] Tin rằng Chúa tồn tại

[7] Tin vào Chúa

Thêm vào giỏ hàng thành công