favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

1. Bền đỗ trong Đức Tin - Câu Lạc Bộ Socratic ở Oxford, 1955

Ở Câu lạc bộ Socrates, Oxford này, đã có nhiều bài phát biểu vạch ra sự tương phản giữa thái độ (được cho là) Ki-tô với thái độ (được cho là) của khoa học đối với niềm tin. Chúng ta nghe nói nhà khoa học thì tin anh ta có nhiệm vụ phải điều chỉnh mức độ tin dựa trên bằng chứng. Anh ta phải tin ít đi nếu có ít bằng chứng, phải rút lại toàn bộ niềm tin khi xuất hiện bằng chứng chứng minh điều ngược lại. Chúng ta cũng nghe nói một Ki-tô hữu thì đi ngược lại với nhà khoa học. Với anh ta, tin không cần bằng cớ, tin nhiều hơn bằng chứng cho phép, hoặc gìn giữ đức tin không suy suyển bất chấp bằng chứng chống lại nó ngày càng nhiều - với anh ta, đây mới là những điều đáng khen. “Một đức tin vững vàng”, một đức tin miễn nhiễm với mọi tấn công của thực tế, mới là thứ được khuyến khích.

Nếu đây là nhận định đúng thì sự tồn tại của một giống người kết hợp tính cách của các nhà khoa học lẫn tính cách của các tín hữu Ki-tô hẳn sẽ là một hiện tượng gây kinh ngạc lắm. Việc hai tập hợp này giao nhau - như trên thực tế chúng có giao nhau - sẽ là hiện tượng không lý giải nổi. Chắc chắn không có hy vọng cho bất cứ thảo luận nào giữa hai loài sinh vật khác nhau dường ấy. Mục đích bài viết của tôi là cho thấy tình hình vẫn chưa xấu đến mức này. Cách mà nhà khoa học điều chỉnh niềm tin dựa trên bằng chứng và cách mà Ki-tô hữu không làm điều đó là những khái niệm cần định nghĩa rõ ràng hơn. Tôi mong là sau khi chúng ta thực hiện điều này, mặc dù bất đồng giữa hai bên vẫn còn, song bên này sẽ không còn vừa trân trân nhìn bên kia, vừa không hiểu nhau trong câm nín và tuyệt vọng.

Trước tiên tôi cần nhận xét về “tin” nói chung. Tôi không thấy cụm từ “điều chỉnh niềm tin dựa trên bằng chứng” là hiện tượng phổ biến trong đời sống khoa học như người ta vẫn rao truyền. Các nhà khoa học không bận tâm nhiều đến niềm tin, mà chủ yếu quan tâm đến phát hiện. Trước khi khám nghiệm cơ thể, vị bác sĩ nói anh ta “tin” người đàn ông nọ đã bị ngộ độc; khám nghiệm xong, anh ta khẳng định người ấy bị ngộ độc. Không ai nói tôi tin vào bảng cửu chương. Nếu bắt được kẻ cắp ngay tại trận, không ai nói tôi tin người này đã ăn cắp. Nhà khoa học, trong lúc làm việc - tức là trong lúc anh ta làm nhà khoa học - là người nỗ lực thoát khỏi việc không tin lẫn tin để tiến tới biết. Đương nhiên, anh ta dùng các giả thiết, giả định, nhưng tôi không thấy đây là niềm tin. Vậy nên nếu muốn hiểu thái độ của nhà khoa học với niềm tin, chúng ta không dò tìm trong đời sống khoa học mà tìm trong đời sống rảnh rỗi, ngoài giờ làm của anh ta.

Trong tiếng Anh hiện nay, động từ “believe” [tin], ngoại trừ hai cách dùng đặc biệt, nói chung được dùng để biểu đạt một mức độ tin rất thấp. “Tom đâu nhỉ?” “Đi London rồi, I believe.” Người nói câu này sẽ chỉ ngạc nhiên tí chút nếu Tom hoá ra chưa đi London. “Năm nào ấy nhỉ?” “430 TCN, I believe.”[1] Ý người nói là anh ta rất không chắc. Phủ định từ cũng không thay đổi gì sắc thái không chắc này nếu nó được dùng theo mẫu “I believe not” [“Chắc là không”]. “Jones có nhập học vào kỳ tới không?” “I believe not.” Nhưng nếu câu phủ định được trình bày theo mẫu khác, nó sẽ trở thành một trong hai cách dùng đặc biệt tôi đã nhắc ở trên. Đó là mẫu “I don’t believe it” [Tôi không tin] hoặc nặng hơn thì là “I don’t believe you” [Tôi không tin anh]. Tính phủ định của “I don’t believe it” mạnh hơn nhiều so với tính khẳng định của “I believe”.

“Bà Jones đâu?”

“Đi theo lão quản gia , I believe.”

“I don’t believe it.”

Lời nói này - nhất là khi nó đi kèm sự tức giận - có thể hàm chứa một sự xác quyết; nếu chỉ xét mức độ chắc chắn chủ quan của nó thì sự xác quyết này chẳng khác gì kiến thức rút từ kinh nghiệm. Cách dùng đặc biệt còn lại của “believe” là câu “I believe” [Tôi tin] mà người Ki-tô thốt ra. Dẫu gặp phải người duy vật đã cứng lòng đi nữa, bất kể anh ta chống đối thái độ của người nói câu này đến đâu, ta vẫn giải thích được cho anh ta hiểu câu “I believe” ấy bày tỏ thái độ gì. Nhà duy vật đó chỉ việc tưởng tượng ai đó kể về một phép lạ đã xảy ra, còn anh ta thì trả lời “I don’t believe it.” Anh ta chỉ việc tưởng tượng ra đúng mức độ xác quyết của mình trong câu nói ấy, và áp dụng mức độ đó cho đối phương. Anh ta biết mình không thể - ngay tại đấy và ngay lúc ấy - phản bác phép lạ bằng một luận cứ có mức độ chắc chắn của một phép chứng minh toán học; thế nhưng anh ta không lo ngại về khả năng (thuần tuý logic) một phép lạ đã xảy ra cũng như anh ta không lo ngại nước là một thứ không phải H và O. Tương tự, người Ki-tô không nhất thiết khẳng phải định có thể đưa ra một phép chứng minh diễn dịch cho điều mình tin. Nhưng khả năng (thuần tuý logic) rằng Chúa không tồn tại cũng không nhất thiết phải xuất hiện trong đầu anh ta như một mối nghi ngờ có thật. Đương nhiên, nhiều tín hữu cho rằng có thể đưa ra phép chứng minh diễn dịch để cho thấy Chúa có thật, cũng như nhiều nhà duy vật cho rằng có thể tìm ra phép chứng minh diễn dịch cho thấy Chúa không tồn tại. Trong trường hợp ấy, bất kể ai đúng (nếu anh ta có đúng) nhờ nắm trong tay phép chứng minh đúng, thì người ấy không còn tin hay không tin nữa; anh ta đã biết rồi. Tin, theo nghĩa này, tức là thừa nhận một mệnh đề mà ta thấy là đáng tin đến nỗi, về phương diện tâm lý, nghi ngờ đã bị loại bỏ, mặc dù về phương diện logic ta vẫn không loại trừ tranh luận.

Có thể đặt câu hỏi: “Vậy kiểu tin này (và, đương nhiên, kiểu không tin này) có áp dụng cho loại phát biểu nào ngoài các phát biểu thần học hay không?” Tôi thấy nhiều niềm tin đến rất gần với nó đấy chứ; nhiều điều tuy chỉ là những khả năng, nhưng chúng nhiều khả năng đúng đến nỗi chúng ta không vì thiếu sự chắc chắn tuyệt đối của logic mà chút nào nghi ngờ chúng. Niềm tin khoa học của những người không làm khoa học thường có đặc điểm này; ở những người vừa không làm khoa học lại vừa ít học hành nói chung, thì lại càng thế. Đa phần niềm tin của chúng ta về người khác cũng thuộc loại này. Thậm chí, khi động đến vợ và bạn bè thì chính nhà khoa học, hoặc người làm việc với tư cách nhà khoa học khi anh ta ở trong phòng thí nghiệm, cũng giữ nhiều niềm tin tuy không phải là không có bằng chứng, nhưng vẫn ở một mức độ xác quyết cao hơn là bằng chứng đó cho phép (xét theo tiêu chuẩn của phòng thí nghiệm). Phần đông thế hệ chúng tôi tin vào sự tồn tại của thế giới bên ngoài và của những người khác - nói chúng tôi không tin vào thuyết duy ngã cũng được - nhiều hơn là những luận cứ mạnh nhất của chúng tôi cho phép. Có thể, như họ bây giờ hay nói, nan đề triết học trên bắt nguồn từ các lỗi phạm trù và nó thực chất chỉ là một giả nan đề. Dù sao thì hồi thập niên hai mươi chúng tôi cũng chưa ngộ ra điều này: ấy vậy mà chúng tôi vẫn không chịu tin vào thuyết duy ngã đó thôi.

Đương nhiên đến đây chúng ta vẫn chưa động đến chuyện tin mà không có bằng chứng. Chúng ta cần thận trọng để không lẫn lộn hai điều: một, là cách mà một tín hữu bắt đầu thừa nhận một số phát biểu, với hai, là cách mà anh ta kiên trung với các phát biểu đó. Hai điều này cần được phân biệt kĩ lưỡng. Về hiện tượng thứ hai, đúng là các tín hữu Ki-tô có khuyến khích nhau bỏ qua nhiều bằng chứng tưởng chừng đi ngược lại với điều họ tin. Tôi sẽ giải thích hiện tượng này sau. Nhưng theo tôi hiểu, không ai ngay từ đầu phải thừa nhận các mệnh đề trên trong tình trạng thiếu bằng chứng hay dưới áp lực của bằng chứng hết. Ai nghĩ người khác phải thừa nhận như thế chứ tôi thì không. Trên thực tế, người tin nhận Ki-tô giáo luôn tin rằng anh ta có bằng chứng đầy đủ, hoặc là fisici e metafisici argomenti[2] kiểu Dante, hoặc bằng chứng lịch sử, hoặc bằng chứng từ trải nghiệm tôn giáo, hoặc từ thẩm quyền của người khác, hoặc tất cả. Thẩm quyền của người khác, bất kể chúng ta trọng dụng nó trong trường hợp này hay trường hợp nào khác, rõ ràng là một loại bằng chứng. Tất cả kiến thức lịch sử, rồi đa phần kiến thức địa lý và nhiều kiến thức về nhiều việc liên quan đến chúng ta trong đời sống thường nhật, đều đến từ thẩm quyền của những người khác, bất luận chúng ta là Ki-tô hữu, vô thần, nhà khoa học hay người bình thường ngoài chợ.

Mục đích bài viết này không phải để cân nhắc nhiều loại bằng chứng khác nhau mà các tín hữu lấy làm cơ sở cho niềm tin của họ. Muốn làm công việc ấy tôi sẽ phải viết một tác phẩm biện giải đầy đủ và toàn diện. Ở đây tôi chỉ cần cho thấy rằng trong trường hợp xấu nhất, bằng chứng của các Ki-tô hữu cũng không kém đến mức người ta có thể vin vào đó mà cho rằng những người được Ki-tô giáo thuyết phục là những người không bao giờ màng đến bằng chứng. Chúng ta thấy rõ điều này qua lịch sử tư tưởng. Chúng ta biết người tin khác người không tin không phải vì thua kém trí thông minh, cũng không phải vì họ một mực từ chối tư duy. Nhiều người tin là những người có đầu óc trác việt. Nhiều người từng là nhà khoa học. Cứ việc cho rằng họ đã tin lầm, nhưng ta ít nhất phải nhìn nhận rằng điều họ tin có thể đúng. Quả thật chúng ta nên kết luận như vậy, dựa trên số lượng và sự đa dạng của các luận cứ được dùng để chống lại điều họ tin. Chống lại tôn giáo, người ta đâu chỉ dùng một lý lẽ; có nhiều kiểu lý lẽ. Nhiều người, giống Capaneus trong sử ký của Statius, cho rằng tôn giáo là phóng chiếu của những nỗi sợ nguyên thủy, primus in orbe deos fecit timor; những người khác, đồng tình với Euhemerus, cho rằng nó là một thứ “thực vật” gieo trồng bởi các vua chúa, thầy tu thầy tế và các nhà tư bản gian ác. Nhiều người, giống Tylor, cho rằng nó đến từ những giấc mơ về người đã khuất; một số khác hùa theo Frazer, họ cho rằng nó là một sản phẩm phụ của nông nghiệp. Một số đồng tình với Freud và gọi nó là phức cảm. Người thời nay thì xem nó là một lỗi phạm trù. Nếu các vũ khí phòng vệ được người đời dùng chống lại tôn giáo vừa nhiều lại vừa đa dạng đến thế thì tôi không khi nào tin tôn giáo lại là một thứ sai lạc và hoàn toàn vô lý ngay từ đầu. Cảnh “canh phòng nghiêm ngặt, vội vàng hấp tấp và sẵn sàng chuẩn bị trên khắp đất nước chúng ta” này cho thấy đối thủ mà người đời đang phải đối phó là đối thủ đáng gờm.

Đương nhiên, vào thời của chúng ta đây, tình hình dường như có thay đổi nhờ học thuyết về “những ước ao bị che giấu”. Người thời chúng ta sẽ nhìn nhận rằng con người, về những mặt khác thì ra tuồng suy nghĩ có lý tính, nhưng họ đã bị đánh lừa bởi các luận cứ bênh vực tôn giáo. Họ khẳng định rằng con người trước tiên bị các ham muốn của mình lừa gạt; sau đó con người tạo ra các luận cứ để lý tính hoá các ham muốn đó mà thôi. Họ nói rằng các luận cứ này, xét bản thân chúng, chưa bao giờ là luận cứ hợp lý, song chúng có vẻ hợp lý chỉ vì chúng ta trót đặt để quá nhiều ước ao lên chúng mất rồi. Tôi thì thấy rõ lắm, rằng điều này diễn ra trong suy nghĩ về tôn giáo thể nào, thì nó cũng diễn ra như vậy trong suy nghĩ về mọi thứ khác trên đời. Tuy nhiên, nếu luận cứ trên được áp dụng như một cách giải thích cho sự tin nhận trong tôn giáo thì tôi thấy nó thật vô dụng. Về sự tin nhận, những ước ao của chúng ta có thể rơi hẳn về bên muốn tin, hoặc rơi hẳn về bên không muốn tin; có khi vừa muốn vừa không là đằng khác. Đừng tưởng bất cứ ai cũng vui sướng và chỉ vui sướng mà thôi khi anh ta kết luận rằng Ki-tô giáo đã đúng. Tôi thấy nghĩ như vậy là xuẩn ngốc lắm. Nếu Freud đã nhận xét đúng về phức cảm Oedipus thì ước ao Chúa không tồn tại của tất cả mọi người hẳn sẽ tạo ra một tổng áp lực khổng lồ, và quan điểm vô thần do đó sẽ là cách tuyệt vời để thoả mãn một trong những kích thích mạnh nhất nhưng đã bị dồn nén trong tâm lý con người. Tức là chính kiểu luận cứ [về ao ước bị dồn nén] có thể biến thành lợi khí cho bên hữu thần. Nhưng tôi sẽ không sử dụng nó. Luận cứ kiểu ấy không giúp ích cho bên nào: nó là kiểu lập luận ba phải đến tận xương tuỷ rồi. Bên hữu thần hay vô thần rồi cũng có nhiều kẻ ước ao; chưa kể người ta không chỉ tự lấp đầy ước ao mà còn tự lấp đầy cả nỗi sợ: với những nhân cách bệnh tưởng, hễ cứ ao ước điều gì đó là sai thì y như rằng họ có xu hướng nghĩ nó đúng. Thế nên thay vì chỉ có một nan đề - nan đề mà đối thủ của chúng tôi thường chăm chăm vào - ở đây có tới bốn nan đề lận. Một người có thể là tín hữu Ki-tô vì anh ta muốn Ki-tô giáo là sự thật. Anh ta có thể là người vô thần vì anh ta muốn vô thần là quan điểm đúng. Anh ta có thể vô thần vì muốn Ki-tô giáo đúng, và anh ta có thể là tín hữu Ki-tô chỉ vì muốn vô thần đúng. Các khả năng này có loại trừ nhau không nhỉ? Có thể chúng hữu ích trong việc giúp chúng ta phân tích một trường hợp tin hay không tin nào đó - một trường hợp mà ta đã nắm rõ lịch sử bệnh án. Tuy nhiên, khi được sử dụng để giải thích một cách phổ quát cho sự tin hay không tin, cách phân trường hợp trên sẽ chẳng giúp ích gì. Ai tin rằng có những bằng chứng bảo vệ lẫn chống lại các mệnh đề của Ki-tô giáo mà những đầu óc đầy đủ lý tính và làm việc có lương tâm có thể đánh giá riêng biệt - ai tin thế hãy cứ tin, vì bốn nan đề trên chưa đánh đổ được quan điểm của họ đâu.

Xin các bạn hãy thay thế hình dung ban đầu bằng một hình dung khác, kém gọn gàng hơn. Trong hình dung ban đầu, như các bạn còn nhớ, có hai loại người. Loại thứ nhất là nhà khoa học, những người điều chỉnh mức độ tin dựa trên bằng chứng; còn loại thứ hai là các tín hữu Ki-tô, những người không làm thế. Hai loại người ấy đứng ở hai bên vực thẳm, mặt đối mặt. Hình dung tôi muốn đưa ra là như sau. Tất cả mọi người, đối mặt với những câu hỏi họ quan tâm, sẽ cố thoát khi có thể từ miền của tin lẫn không tin sang miền của biết. Đến khi biết rồi, họ không còn nói họ tin này hay tin kia nữa. Các câu hỏi mà nhà toán học quan tâm sẽ cho phép họ xử lý chúng bằng một kỹ thuật minh bạch và tuyệt đối đến mức đặc biệt. Các câu hỏi của nhà khoa học sẽ yêu cầu một kỹ thuật xử lý riêng, không hoàn toàn giống các câu hỏi toán học. Đến lượt các câu hỏi của sử gia hay của vị quan toà lại khác nữa. Nhà toán học (như đám không có chuyên môn chúng tôi hiểu) chứng minh bằng suy luận, nhà khoa học chứng minh bằng thử nghiệm, sử gia chứng minh bằng tài liệu, vị quan toà chứng minh bằng cách ráp lại các lời chứng được đưa ra dưới tuyên thệ. Tuy nhiên những người này, trong tư cách con người, khi đối mặt với những câu hỏi nằm ngoài lĩnh vực chuyên môn của họ, hẳn còn giữ nhiều niềm tin khác - những niềm tin không bị họ áp dụng cho cùng một biện pháp đặc thù trong chuyên môn của họ. Nếu họ cũng áp dụng các biện pháp ấy luôn thì chúng ta sẽ ngờ họ bị bệnh, thậm chí điên. Những niềm tin đó sẽ ở các mức độ tin khác nhau, trải từ hơi tin thôi đến sự chắc chắn chủ quan ở mức tuyệt đối. Ở mức độ cao nhất của loại niềm tin này, chúng ta có câu “Tôi tin” của người Ki-tô và câu “Tôi không tin một lời nào” của người vô thần. Đương nhiên, chủ đề khiến hai bên bất đồng với nhau sẽ không tất yếu kéo theo mức độ tin và mức độ không tin cực đoan như trên. Có nhiều người chỉ tin vừa vừa rằng có Chúa, hoặc không có Chúa. Nhưng nhiều người khác thì sẽ tin hoặc không tin mà không chút nghi ngờ điều ngược lại. Tất cả niềm tin này, dù mạnh hay yếu, đều dựa trên cái được người tin xem là bằng chứng; đương nhiên những người có độ tin hay không tin cao đều cho rằng họ có bằng chứng thuyết phục. Chúng ta không cần khép cho bên nào là đã quăng bỏ lý trí; chúng ta nghĩ họ lầm lẫn thôi là đủ. Có bên đã đánh giá sai bằng chứng, và lỗi lầm của họ không thể bị xem là lỗi gì quá nặng - nếu không nghĩ được như vậy hai bên không thể tiếp tục nói chuyện với nhau.

 

[1] I believe ở đây tương đương với “Chắc thế” ở tiếng Việt.

[2] những lập luận từ tự nhiên và siêu hình

Thêm vào giỏ hàng thành công