2. Chuyển Thể - Bài thuyết giảng ở Mansfield College, Oxford
Nhưng đó là nhận xét ngoài lề. Giờ chúng ta quay trở lại vấn đề ban đầu, vấn đề về Thiêng Liêng và Tự Nhiên, về Chúa và Người. Vấn đề ở đây là trong cái được xem là đời sống thuộc linh của chúng ta, tất cả yếu tố của đời sống tự nhiên lại xuất hiện. Cái gay go hơn nữa là nhìn thoáng qua ta không thấy xuất hiện bất cứ yếu tố nào khác. Nhưng giờ đây ta đã hiểu rằng nếu cái thuộc linh cao hơn cái tự nhiên (bất cứ ai tin vào cái thuộc linh đều không phủ nhận điều này) thì đây chính xác là điều chúng ta phải lường trước. Kết luận của người hoài nghi - rằng cái được gọi là thuộc linh thực chất chỉ sinh ra từ cái tự nhiên, rằng nó là ảo tượng hay phóng chiếu của cái tự nhiên, hay chỉ là cái tự nhiên đã được mở rộng nhờ trí tưởng tượng - cũng chính xác là điều chúng ta lường trước. Bởi, như đã thấy, trong bất cứ trường hợp nào xảy ra sự Chuyển Thể, một người quan sát chỉ mới biết đến phương tiện thấp hơn chắc chắn sẽ mắc phải lỗi này. Với người người chỉ có thú tính thì không phép phân tích nào có thể giúp anh ta tìm thấy trong tình yêu thứ gì khác ngoài nhục dục. Người suốt đời chỉ biết đồng bằng sẽ không tìm thấy gì trong bức tranh ngoài những hình khối phẳng; môn sinh lý học không tìm được gì trong suy nghĩ ngoài những co giật của chất xám. Sẽ chẳng ích gì nếu ta nạt nộ nhà phê bình chỉ biết tiếp cận hiện tượng Chuyển Thể từ dưới lên. Cứ theo bằng chứng anh ta có thì kết luận của anh ta là kết luận duy nhất có thể rút ra.
Chuyện sẽ hoàn toàn khác khi ta tiếp cận Chuyển Thể từ phía trên - tức là theo cách ta đã tiếp cận cảm xúc và cảm giác, thế giới ba chiều và tranh ảnh. Đó sẽ là cách mà một người thiêng liêng tiếp cận trường hợp mà chúng ta đang xét. Những người nói nhiều thứ tiếng, như Phao-lô, sẽ hiểu được hiện tượng thiêng liêng đó khác biệt thế nào với hiện tượng loạn thần, mặc dù chúng ta phải nhớ rằng về một phương diện nào đó, hai hiện tượng ấy là một - cũng như cùng một cảm giác đã đến với Pepys khi ông yêu, khi ông vui sướng trong âm nhạc, và cả khi ông mắc mửa. Những thứ thiêng liêng được nhận biết một cách thiêng liêng. Người thiêng liêng xử đoán mọi sự mà chính mình không bị xử đoán.
Nhưng ai dám cho mình là người thiêng liêng chứ? Theo nghĩa đầy đủ của cụm từ đó, không ai dám hết. Thế nhưng, bằng cách nào đó, chúng ta vẫn thấy mình tiếp cận từ trên, hoặc từ trong, ít nhất là một vài hiện tượng Chuyển Thể hiện thân cho đời sống của Đấng Christ trên thế gian này. Bất luận biết mình không xứng đáng, bất luận biết mình liều lĩnh, chúng ta vẫn phải khẳng định rằng chúng ta biết chút gì đó về hệ thống cao hơn đang được chuyển thể kia. Về mặt nào đó, khẳng định này không có gì bất ngờ. Chúng ta chỉ muốn khẳng định thế này: tôi biết rằng sự sốt sắng mà tôi tỏ ra, dẫu bản chất nó là gì đi nữa, cũng không thuần tuý chỉ là luyến ái; rằng cái mà chúng tôi tỏ ra là ham muốn đối với nước Thiên Đàng, chưa biết bản chất nó là gì, nhưng chắc chắn không thuần tuý chỉ là thèm muốn sống lâu, thèm muốn trang sức hay những hào nhoáng với người đời. Có thể chúng tôi chưa bao giờ đạt tới cái mà Phao-lô nói là đời sống thiêng liêng. Nhưng ít nhất chúng tôi có biết, theo một cách u minh và lờ mờ nào đó, rằng chúng tôi cố sử dụng các hành vi, hình ảnh và ngôn ngữ tự nhiên theo một giá trị mới, chúng tôi đã mong muốn ở chúng tôi sẽ xuất hiện một sự ăn năn không thuần tuý vụ lợi, một tình yêu không thuần tuý vị kỷ. Bét nhất chúng tôi cũng đủ hiểu về cái thiêng liêng để biết rằng chúng tôi chưa đạt đến nó, cũng như thể bức tranh đủ biết về thế giới ba chiều để ý thực được rằng nó phẳng.
Chúng ta nhấn mạnh tính chất lờ mờ trong hiểu biết của mình không chỉ để khiêm nhường đi đâu. (Đương nhiên là cần khiêm nhường rồi.) Tôi cho rằng, trừ phi có phép lạ trực tiếp của Chúa, trải nghiệm linh thiêng không thể nào nằm trong vùng nội soi được. Nếu đến cả cảm xúc của chúng ta cũng không nội soi được (vì rằng khi cố biết mình đang cảm thấy gì lúc này, chúng ta chỉ thu được một cảm giác vật lý mà) thì công việc của Đức Thánh Linh lại càng không. Với tôi, nỗ lực sử dụng phép phân tích nội soi để phát hiện tình trạng thuộc linh của con người là một thứ tồi tệ; thứ tồi tệ ấy, trong trường hợp tốt đẹp nhất, sẽ phô bày không phải những bí mật của chúng ta và của thần linh Chúa, mà chỉ cho thấy chuyển thể của chúng trong trí tuệ con người, còn trong trường hợp xấu nhất, nó là con đường ngắn nhất dẫn đến tự cao hoặc thất vọng.
Tôi tin học thuyết về Chuyển Thể này sẽ đặt cơ sở rất cần thiết cho Trông Mong, phẩm chất mà thần học hay nói đến. Chúng ta chỉ có thể trông mong điều mình có thể ham muốn. Cái khó là bất cứ một hình dung chín chắn và có sức nặng triết học nào mà chúng ta hình thành được về nước Thiên Đàng cũng bắt buộc phải gạt bỏ khỏi sự trông mong đa phần những thứ mà bản chất của chúng ta ham muốn. Chắc chắn có trên đời thứ đức tin nhờ được phước nên vẫn trong trẻo, đức tin của đứa trẻ hay của một người mọi rợ; đức tin ấy không gặp khó khăn nào [mà người bình thường gặp.] Nó chấp nhận mà không đặt những câu hỏi khó trả lời về đàn hạc, về những lối đi rải vàng, về những cuộc đoàn viên mà các soạn giả thánh ca mường tượng ra. Đức tin ấy có bị lầm, nhưng theo nghĩa sâu sắc nhất thì nó lại không lầm; bởi mặc dù nó lầm tưởng biểu tượng là hiện thực, song nó lại hiểu được nước Thiên Đàng là vui mừng, giàu có và yêu thương. Nhưng đa số chúng ta không tin được như thế. Chúng ta cũng không nên giả vờ ngây thơ hơn mình thật có. Một người không “trở nên như con trẻ” bằng cách giả vờ con trẻ được đâu. Thế nên quan niệm về nước Thiên Đàng của chúng ta sẽ nội hàm đến vô cùng những phủ định: không ăn, không uống, không tình dục, không chuyển động, không mua vui, không sự kiện, không thời gian, không nghệ thuật.
Đối mặt với tất cả tiêu cực này, chúng ta có một điều tích cực: được nhìn thấy và vui hưởng Đức Chúa Trời. Vì đây là một sự tốt lành lớn đến vô biên, chúng ta khẳng định (và khẳng định này đúng) rằng nó đáng giá hơn tất cả. Dung Nhan Đầy Phước của Ngài, khi chúng ta thật sự đối diện dung nhan ấy, có thể đáng giá hơn hoặc sẽ đáng giá hơn tất cả những phủ định kia cộng lại. Nhưng liệu ý niệm hiện tại của chúng ta có đáng giá hơn ý niệm về những điều ấy không? Đó là câu hỏi khác hoàn toàn. Đối với đa phần chúng ta, câu trả lời thường là Không. Các thánh, các nhà thần bí thấy sao thì tôi không biết; nhưng với những người khác, hình dung về Dung Nhan đó là một bước vừa khó khăn, vừa rủi ro, vừa không có giá trị lâu dài, được hình thành dựa trên đôi ba thời khắc có ý nghĩa lúc mờ lúc tỏ của chúng ta trên thế gian này. Trong khi đó, ý niệm của chúng ta về những tốt lành tự nhiên bị phủ định lại là ý niệm sống động và thường trực; nó được hỗ trợ bởi ký ức của cả một đời người, nó ăn vào thần kinh, bắp thịt và do đó ăn vào cả những tưởng tượng của chúng ta.
Tiêu cực vì thế luôn luôn được hưởng một lợi thế không công bằng trong bất cứ cạnh tranh nào với tích cực. Thậm chí, sự hiện diện của chúng (nhất là khi chúng ta quyết tâm dồn nén hoặc lờ chúng đi) còn làm lu mờ hình dung vốn đã mờ nhạt và khói sương của chúng ta về cái tích cực. Ta bắt đầu hiểu một điều: hình như bản chất của thứ tốt lành cao hơn là nó loại bỏ những tốt lành thấp hơn. Nếu không nói ra thì chúng ta cũng cảm thấy rằng dung nhan của Đức Chúa Trời sẽ đến chẳng để làm trọn, mà để làm tiêu tan bản tính chúng ta. Chính tưởng tượng tăm tối này là cái ẩn bên dưới cách chúng ta vận dụng những từ như “thánh”, “sạch”, “thiêng liêng”.
Nếu tránh được, chúng ta không được cho phép điều này xảy ra. Chúng ta phải tin - và do đó, ở một mức độ nào đó chúng ta phải tưởng tượng được - là mỗi phủ định chẳng qua chỉ là mặt trái của một sự làm trọn nào đó. Làm trọn ở đây chính là làm trọn nhân tính của chúng ta, chứ không phải biến hoá thành thiên thần hay cho chúng ta cùng chung bản tính với Chúa. Bởi mặc dù chúng ta “sẽ trở nên như các thiên sứ” và được làm cho giống với Chúa mình, tôi vẫn cho rằng giống ở đây là “giống theo cách xứng hợp với con người”: cũng như các nhạc cụ khác nhau chơi cùng một làn điệu, nhưng mỗi nhạc cụ chơi theo cách của mình. Sự sống của con người từ kẻ chết sống lại sẽ có bao nhiêu phần thuộc về giác quan thì chúng ta chưa biết. Nhưng tôi đồ rằng, đời sống ấy sẽ khác với đời sống của tri giác mà chúng ta đã biết ở thế gian này - không phải như trống không khác với nước, nước khác với rượu, bèn là như bông hoa khác nụ hoa, một nhà thờ chính toà khác với bản vẽ nhà thờ ấy. Chính là ở chỗ này mà học thuyết về Chuyển Thế hỗ trợ tôi.
Chúng ta hãy làm một thí dụ nhé. Chúng ta hãy tưởng tượng một người đàn bà bị ném vào buồng giam. Trong buồng giam ấy, chị sinh hạ và dưỡng dục một đứa con trai. Đứa con ấy lớn lên chỉ biết mấy bức tường, chỗ rơm trên nền đất và một góc bầu trời nhỏ bé hiện ra qua chấn song - chấn song ấy lại cao đến mức nhìn qua chẳng thấy gì ngoài da trời. Người đàn bà bất hạnh này là một nghệ sĩ, và khi bị nhốt vào nhà giam, chị mang theo được giấy vẽ và một hộp bút chì. Vì không bao giờ đánh mất hy vọng ngày nào đó được tự do, chị luôn dạy con trai về thế giới ngoài kia mà em chưa bao giờ trông thấy, và chị dạy bằng cách vẽ tranh cho con xem. Với cây bút chì, chị cố gắng vẽ cho con xem đồng lúa, sông ngòi, núi đồi, các thành thị và sóng trên biển là như thế nào. Đứa bé này ngoan và cố hết sức tin khi nghe mẹ nói rằng thế giới ngoài kia thú vị và huy hoàng hơn bất cứ thứ gì trong buồng giam trong này nhiều. Đôi khi em tin được lời mẹ nói và nhìn chung em tương đối tin tưởng. Nhưng đến một ngày kia, em nói một điều gì đó khiến mẹ khựng lại. Suốt một, hai phút, hai mẹ con nói chuyện mà không hiểu ý nhau. Cuối cùng người mẹ mới nhận ra con trai chị suốt bao nhiêu năm nay đã mang một quan niệm sai lầm. “Con ơi,” chị nói như thở dốc, “con không nghĩ thế giới thật chỉ toàn những nét vẽ bằng chì đấy chứ?” “Gì cơ ạ?” đứa trẻ đáp lại. “Không có nét chì à?” Ngay tức khắc, toàn bộ hình dung của em bé về thế giới bên ngoài bị xoá sạch, bởi những nét chì mà chỉ nhờ chúng thôi em tưởng tượng ra thế giới ấy giờ đây đã bị tước khỏi em. Em không có ý niệm gì về cái thế giới loại bỏ được các nét vẽ, cái thế giới mà các nét vẽ đó chỉ là chuyển thể của nó - những ngọn cây đu đưa, ánh nắng tung tăng trên đập tràn, những sự vật có thật, có màu, ba chiều, không bị giới hạn trong nét bút, tại mọi thời điểm vẫn tự xác định hình khối của chính mình với một sự tinh tế và đa dạng mà không kỹ thuật vẽ nào có thể đạt được. Đứa bé sẽ tưởng rằng thế giới thật không hữu hình bằng những bức vẽ của mẹ. Thực ra, nó không có nét vẽ là bởi nó hữu hình hơn rất nhiều, nhiều đến mức không so sánh được.
Với chúng ta cũng vậy thôi. “Về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ”; nhưng chắc chắn chúng ta sẽ hơn chứ không thua kém chúng ta trên đất này. Các trải nghiệm tự nhiên của chúng ta (cảm giác, cảm xúc, tưởng tượng) chỉ như bức vẽ, như nét chì trên giấy phẳng. Nếu chúng tan biến đi khi chúng ta sống lại, chúng sẽ tan biến như nét chì tan biến khỏi phong cảnh thật ngoài đời. Chúng sẽ không biến tan như ánh nến bị dập đi, bèn là như ánh nên trở nên vô hình khi ai đó kéo rèm, mở cửa chớp và đón vào ánh sáng chói lọi của mặt trời đã lên.
Các bạn muốn diễn đạt sao cũng được. Các bạn có thể nói rằng, nhờ phép Chuyển Thể, nhân tính của chúng ta - bao gồm các giác quan và tất cả những thứ khác - được biến thành phương tiện của phước lành. Hoặc bạn có thể nói rằng bao nhiêu sự giàu có đến từ trời sẽ nhờ phép Chuyển Thể mà được hiện thân trong trải nghiệm người phàm của chúng ta trong đời sống này. Cách diễn đạt thứ hai sẽ hay hơn. Đời sống hiện tại là thu nhỏ, là biểu tượng, là tình trạng thiếu sáng, là “thức chay” ăn tạm (tôi tạm nói thế). Nếu thịt và huyết mà thôi không hưởng được nước Đức Chúa Trời thì đó không phải vì thịt và huyết quá rắn, quá nặng, hình khối quá phân biệt, quá “vinh quang vì đầy tính hiện hữu”; mà là bởi chúng quá mong manh, quá vô thường, quá khói sương.
Đến đây - nói theo kiểu của luật sư - lập luận của tôi kết thúc. Tôi chỉ nói thêm bốn điều.
1. Tôi hy vọng mọi người đều hiểu rõ là quan niệm Chuyển Thể, như tôi đã đặt tên, là quan niệm khác biệt với một quan niệm khác nhưng thường được dùng vào cùng một mục đích. Tôi muốn nói đến quan niệm về tiến hoá. Để giải thích sự liên tục giữa những thứ được khẳng định là thiêng liêng với những thứ rõ ràng thuộc về tự nhiên, nhà Tiến Hoá nói rằng cái tự nhiên từ từ chuyển hoá thành cái thiêng liêng. Tôi tin quan điểm này có thể giải thích nhiều sự kiện, nhưng nó cũng đã bị lạm dụng. Dù gì thì đây không phải là học thuyết tôi đang trình bày. Tôi không hề nói rằng ăn, một hành động tự nhiên, sau hàng triệu năm sẽ bằng một cách nào đó bung nở thành một bí tích Ki-tô giáo. Tôi muốn nói rằng Thực Tại Thiêng Liêng - thực tại đã có từ trước khi có các sinh linh biết ăn - đã mang đến cho hành vi tự nhiên này một ý nghĩa mới, thậm chí còn hơn thế: nó đã khiến cho hành vi ăn đó, trong một bối cảnh nhất định, trở thành một thứ hoàn toàn khác. Nói ngắn gọn, tôi tin phong cảnh ngoài đời có thể bước vào bức tranh, chứ tôi không nghĩ bức tranh một ngày nào đó sẽ hoá thành cây cỏ thật.
2. Khi nghĩ về cái mà tôi gọi là Chuyển Thể này, tôi thấy không thể ngăn mình tự hỏi liệu học thuyết này có thể giúp chúng ta hình thành ý niệm về sự Nhập Thể không. Đương nhiên, nếu Chuyển Thể đơn thuần là một mô thức biểu tượng thôi thì nó chẳng giúp ích chúng ta trong trường hợp này. Nó thậm chí có thể dẫn chúng ta đi lạc, quay về với thuyết Ảo Thân (chưa biết là ở hình thức mới hay vẫn là ở hình thức cũ?) và đi xa khỏi con người cụ thể, con người lịch sử vốn là trung tâm của mọi trông mong, đức tin và tình yêu của chúng ta. Nhưng, cũng như tôi đã chỉ ra, Chuyển Thể không nhất thiết là biểu tượng. Ở các mức độ khác nhau, cái thật ở tầng thấp hơn có thể được nhấc lên cao hơn và trở thành một phần của cái cao hơn ấy. Cảm giác đi cùng niềm vui tự nó trở thành niềm vui: khó mà không nói nó “hiện thân niềm vui”. Và nếu điều này đúng thì biết đâu - tôi đưa ra đề xuất này với rất nhiều hồ nghi và hoàn toàn để nghĩ nháp thôi - khái niệm Chuyển Thể lại không đóng góp chút gì đó cho lý thuyết thần học - hoặc ít nhất là lý thuyết triết học - về sự Nhập Thể của Đấng Christ. Tín lý đã dạy chúng ta rằng sự Nhập Thể đã được nên “không nhờ biến đổi Chúa thành xác thịt, mà nhờ biến đổi con người thành Chúa”. Tôi thấy có một sự tương đương giữa tín lý trên và Chuyển Thể mà tôi đã nói: thể nào nhân tính không chỉ được xem là, mà còn được nhập vào, với bản tính của Chúa, thì đồng thể ấy, một cảm giác (vốn tự nó không phải khoái cảm) được nhập vào một với niềm vui mà nó đi kèm. Nhưng dẫu sao tôi cũng bước đi trong mirabilibus supra me[1] và tôi sẵn lòng đón nhận phán quyết của các nhà thần học đích thực.
3. Suốt bài giảng này tôi đã cố nhấn mạnh vào sai lầm tất yếu về mọi chuyển thể chứ không chỉ một của người chỉ tiếp cận nó từ phương tiện thấp hơn. Sức mạnh của người này nằm ở những cụm từ “đơn thuần”, “rồi cũng chỉ là”. Anh ta nhìn thấy tất cả sự kiện, nhưng không nhìn ra ý nghĩa; thế nên anh ta vẫn đúng khi tự cho rằng anh ta đã nắm được toàn bộ sự kiện. Không còn có gì ngoài các sự kiện đó - ngoại trừ ý nghĩa của chúng. Thế nên về vấn đề này, anh ta như ở trong vị thế của một con vật. Chắc các bạn đã để ý: chó không hiểu khi bạn chỉ tay. Bạn chỉ cho nó thức ăn trên nền nhà, nhưng thay vì nhìn nền nhà, nó lại ngửi ngón tay bạn. Ngón tay với con chó chỉ là ngón tay - hết chuyện. Thế giới của nó chỉ có sự kiện và không có ý nghĩa. Ở thời kỳ mà chủ nghĩa hiện thực theo kiểu sự kiện đang thống trị, chúng ta thấy nhiều người cố tình áp đặt lên chính bản thân họ thứ trí óc của chó này. Một người đã nếm trải tình yêu từ bên trong, song anh ta vẫn cố tình mổ xẻ nó để nghiên cứu từ bên ngoài và coi kết quả của sự mổ xẻ ấy là đáng tin hơn trải nghiệm của chính mình. Tình trạng cực đoan của sự tự làm mình mù loà này được thể hiện ở những người cũng có ý thức như chúng ta, song lại nghiên cứu sinh lý con người như thể họ không hề biết là nó có ý thức. Chừng nào người ta còn cố tình không chịu hiểu mọi sự từ phía cao hơn ngay cả khi có thể, chúng ta đừng nói về chiến thắng sau cùng trước chủ nghĩa duy vật làm gì cho vô ích. Lối phân tích mọi trải nghiệm từ dưới lên, tự nguyện làm ngơ trước ý nghĩa và chỉ tập trung vào sự kiện, sẽ luôn có cùng một mức độ hữu lý đối với họ. Sẽ luôn có bằng chứng, và cứ đến tháng lại có thêm bằng chứng mới, để cho thấy tôn giáo có gốc rễ thuần tuý tâm lý, công lý chỉ là bảo vệ bản thân, chính trị chỉ là kinh tế, tình yêu chỉ là nhục dục, và bản thân suy nghĩ cũng chỉ là hoá sinh não bộ mà thôi.
4. Cuối cùng, tôi cho rằng những gì vừa trình bày về Chuyển Thể sẽ rọi luồng sáng mới cho học thuyết về sự sống lại của thân thể. Về mặt nào đó, Chuyển Thể là vạn năng. Bất luận khác biệt có lớn đến nhường nào giữa Thần Linh và Xác Thịt, giữa niềm sướng vui thẩm mỹ và cảm giác lâng lâng trong cơ hoành, giữa đời thật và bức tranh, thì sự Chuyển Thể cũng đáp ứng được đầy đủ theo cách của nó. Khi nãy tôi đã nói rằng với bức vẽ, bạn chỉ có giấy trắng thay thế cho mặt trời và mây, cho tuyết, nước và da người. Về mặt nào đó, đúng là giấy yếu kém hơn hẳn! Nhưng nhìn từ một góc khác thì thật là hoàn hảo. Nếu ta đánh bóng tốt, thì kỳ lạ thay phần trắng của tờ giấy sẽ trông rất giống ánh mặt trời chói lọi. Chúng ta thấy như lạnh cả người khi nhìn tuyết và gần như có thể sưởi đôi bàn tay bên ngọn lửa trên giấy. Đã thấy là hợp lý thì tại sao chúng ta không áp dụng các trường hợp tương đương trên vào trường hợp này và cho rằng không có trải nghiệm thiêng liêng nào quá siêu nghiệm và siêu nhiên, cũng không có dung nhan nào của Chúa là quá gần hay quá xa các hình ảnh và cảm xúc nảy sinh trong chúng ta, đến mức nó không tìm được một hình thức tương ứng phù hợp ở tầng của năm giác quan người? Sao chúng ta không cho rằng điều này sẽ thực hiện được không phải nhờ một giác quan mới, mà nhờ cơn thác đổ kỳ diệu của tất cả những cảm giác mà chúng ta vốn đã có, nhưng lại kèm theo một ý nghĩa, một sự biến đổi giá trị mà chúng ta chưa hiểu, dẫu chỉ là một chút?
[1] lẽ màu nhiệm cao hơn tôi
