1. Chuyển Thể - Bài thuyết giảng ở Mansfield College, Oxford
Với giáo hội của tôi, ngày hôm nay được đặt làm ngày tưởng nhớ đến lần Đức Thánh Linh ngự xuống trên các Ki-tô hữu buổi đầu, không lâu sau khi Đấng Christ về trời. Tôi muốn xét một trong những hiện tượng đã song hành với, hoặc đến sau, sự ngự xuống này. Hiện tượng này được bản dịch của chúng ta gọi là “nói các tiếng lạ”, còn giới chuyên môn gọi là glossolalia. Đương nhiên tôi không cho đây là phương diện quan trọng nhất của lễ Ngũ Tuần, nhưng tôi đã lựa nó ra vì hai lý do. Thứ nhất, sẽ là nực cười nếu tôi đi luận về bản chất của Đức Thánh Linh và cách Ngài làm việc, bởi làm thế tức là tôi dạy đúng thứ mà tôi còn rất nhiều điều phải học. Thứ hai, glossolalia vẫn thường là hòn đá gây vấp phạm cho tôi. Phải thú thực đây là hiện tượng gây cho tôi nhiều khó xử. Bản thân Phao-lô hình như cũng hơi ngại khi nói về điều này ở I Cô-rinh-tô; ông cố gắng hướng mong mỏi và sự chú ý của Hội Thánh tới những sự ban cho bổ ích hơn. Nhưng sau đó ông không nói gì thêm. Ông có nói, gần như nói một cách ngoài lề, rằng bản thân ông đã nói nhiều tiếng lạ hơn bất cứ ai khác, và ông không hoài nghi cội nguồn thuộc linh hay siêu nhiên của hiện tượng này.
Cái khó của tôi là thế này. Một mặt, glossolalia đến ngày nay vẫn là một “loại trải nghiệm tôn giáo” xảy ra năm thì mười hoạ. Thỉnh thoảng chúng ta lại nghe nói, ở một buổi nhóm Ngũ Tuần nào đó, một hay nhiều người có mặt bỗng dưng tuôn ra một tràng mà mọi người thấy hình như là vô nghĩa. Hành động này có lẽ không làm gương tốt cho ai cả; còn dư luận không tin Ki-tô thì coi đây là một loại rối loạn tâm thần, là kích thích thần kinh được tuôn xả một cách không kiểm soát. Ngay cả dư luận tín Ki-tô phần nhiều cũng sẽ giải thích các biểu hiện này theo cùng một cách. Tôi thì không tin rằng trong tất cả các trường hợp mà hiện tượng trên xảy ra đều có sự vận hành của Đức Thánh Linh. Ngay cả khi chưa chắc chắn nó là gì, chúng ta vẫn coi đây là vấn đề thần kinh. Đó là một bên sừng của lưỡng nan. Mặt khác, với tư cách Ki-tô hữu, chúng ta không thể gạt đi câu chuyện về lễ Ngũ Tuần, và dù thế nào đi nữa cũng không thể không cho rằng sự nói các thứ tiếng, như đã xảy ra lúc bấy giờ, là một phép lạ, vì rằng mọi người không nói những tiếng vô nghĩa, họ nói những tiếng mà tuy bản thân họ không biết nhưng những người khác đang hiện diện thì lại biết. Hơn nữa, hiện tượng này là một phần của một sự kiện khác, sự kiện ấy đã làm chất liệu cho toàn bộ câu chuyện về sự khai sinh của Hội Thánh. Đây chính là sự kiện mà Chúa khi về trời, bằng những lời gần như sau cuối, đã dặn Hội Thánh của Ngài hãy đón đợi. Cho nên chúng ta có lẽ phải công nhận một điều: cũng một hiện tượng ấy, trong một số trường hợp nó không những là hiện tượng tự nhiên mà còn là biểu hiện của bệnh hoạn; thế nhưng trong những trường hợp khác (hoặc ít nhất là trong một trường hợp khác) nó lại là công cụ của Thánh Linh. Thoạt đầu, điều này gây nhiều bất ngờ và rất dễ bị tấn công. Người hoài nghi sẽ vồ lấy cơ hội này để rút lưỡi dao Occam, anh ta sẽ cáo buộc chúng ta lạm phát giả thiết. Nếu phần lớn trường hợp glossolalia được giải thích bằng chứng loạn thần, chẳng phải giải thích này sẽ áp dụng được cho các trường hợp còn lại ư?
Nếu có thể, tôi sẽ vui lòng làm cho vấn đề này bớt khó khăn đi một chút. Để bắt đầu, tôi muốn chỉ ra rằng vấn đề này thực chất thuộc về một tạng vấn đề. Trường hợp tương đương nhất với nó là vấn đề nảy sinh từ thứ ngôn ngữ và hình ảnh mang tính luyến ái mà ta gặp ở các nhà tư tưởng thần bí. Ở họ, ta gặp một loạt diễn đạt (và, do đó, có thể là một loạt cảm xúc) mà ta đã quen gặp trong một bối cảnh khác; trong bối cảnh ấy, các diễn đạt này có ý nghĩa vừa rõ ràng, vừa xác thịt. Tuy nhiên, ở các sách vở thần bí, các yếu tố này lại được cho là phát sinh từ nguyên nhân khác. Lần này nhà hoài nghi cũng sẽ hỏi, tại sao cùng nguyên nhân được chúng ta công nhận trong chín mươi chín trường hợp lại không áp dụng được cho trường hợp thứ một trăm. Giả thiết cho rằng trải nghiệm thần bí là một hiện tượng luyến ái là giả thiết mà anh ta cho là sát sự thật hơn bất cứ giả thiết nào khác.
Nói một cách khái quát hơn thì thế này. Đây là vấn đề được đặt ra về sự tiếp nối giữa các sự vật mà ai cũng thừa nhận là tự nhiên, với các sự vật được nhiều người khẳng định là thuộc linh. Cùng những yếu tố đã làm nên đời sống tự nhiên - và (hình như) chỉ những yếu tố ấy thôi - lại cũng xuất hiện trong cái được coi là đời sống siêu nhiên của chúng ta. Nếu chúng ta thật sự được ban cho một khải thị nằm ngoài Tự Nhiên, thì chẳng phải rất lạ hay sao nếu cả một cuốn kinh Khải Huyền chỉ đặt vào nước Thiên Đàng những thứ vốn được tuyển lựa từ trải nghiệm của loài người trên đất này (những ngai, âm nhạc và mão triều thiên) - nếu sự sùng kính không tìm được ngôn ngữ diễn đạt nào khác ngoài ngôn ngữ của tình nhân - nếu nghi lễ mà các Ki-tô hữu dùng để tái hiện sự hiệp một thần bí hoá ra chỉ là những hoạt động quen thuộc và xưa cũ như ăn và uống? Các bạn cũng có thể bổ sung thêm điều nữa, rằng vấn đề này cũng nảy sinh ở một tầng còn thấp hơn; đây không còn là vấn đề nảy sinh giữa tầng thuộc linh và tầng tự nhiên nữa mà ngay bên trong đời sống tự nhiên thôi, giữa các tầng cao hơn và thấp hơn của đời sống ấy. Những người yếm thế có thể thách thức quan niệm mà đời sống văn minh đã hình thành để phân biệt tình yêu và nhục dục. Họ sẽ bảo chúng ta rằng khi mọi thứ đã xong xuôi thì thì tình yêu hay nhục dục, sinh lý mà nói, cũng thường kết thúc ở cùng một hành vi mà thôi. Tương tự, họ cũng chất vấn đâu là khác biệt giữa công lý và trả thù. Còn hành vi hoan hợp của thứ tình yêu nhân bản và trong giá thú thì được đánh đồng (trên phương diện sinh lý) với nhục dục sinh học thuần tuý. Ngôn ngữ và hình ảnh tôn giáo, có thể cảm xúc tôn giáo nữa, không chứa đựng bất cứ điều gì không vay mượn từ Tự Nhiên.
Theo tôi, muốn bác bỏ những lời đả kích trên, ta chỉ còn một cách. Đó là tìm ra một trường hợp ở đó khẳng định prima facie theo kiểu hoài nghi như trên cũng tưởng chừng là hữu lý đấy, song chúng ta lại biết thừa - và biết không phải nhờ đức tin hay logic, mà là qua kinh nghiệm - rằng khẳng định ấy sai. Có thể tìm một trường hợp xuất hiện cả cái cao hơn lẫn cái thấp hơn nơi mà cái cao hơn cũng xuất hiện trong trải nghiệm của gần như tất cả mọi người hay không? Tôi nghĩ là có. Hãy cùng xét đoạn trích sau từ nhật ký của Pepys.
Cùng vợ đến King’s House[1] xem vở The Virgin Martyr, hay lắm … Nhưng cái khiến tôi thích nhất là tiếng nhạc hơi tấu lên khi thiên sứ giáng xuống, nó đẹp đến mức cuốn tôi đi. Nói đơn giản, thứ nhạc ấy bao trùm lấy hồn tôi, đến nỗi nó khiến tôi nôn nao, hệt như hồi tôi mới yêu vợ … và nó đã khiến tôi không những hạ quyết tâm tập chơi nhạc hơi mà còn bắt vợ tôi phải tập chơi luôn. (27 tháng Hai, 1668.)
Ở đây có vài điều đáng chú ý. Thứ nhất, (1) cảm giác (bên trong cơ thể) đi kèm với khoái cảm thẩm mỹ không khác gì với cảm giác đi kèm hai trải nghiệm khác, tức là lúc đang yêu và - tạm lấy làm ví dụ - lúc gặp sóng dữ khi vượt eo biển. (2) Một trong hai trải nghiệm ấy là rất ngược lại với vui sướng. Không ai thích bị buồn nôn cả. (3) Pepys thì vẫn mong mỏi có lại trải nghiệm mà cảm giác đi kèm của nó là một với cảm giác rất khó chịu khi buồn nôn. Chính vì thế nên ông mới quyết định tập chơi nhạc hơi.
Có thể không nhiều người trong chúng ta có trải nghiệm hoàn toàn giống trải nghiệm của Pepys. Tuy nhiên chúng ta đều đã có trải nghiệm kiểu của ông. Với cá nhân tôi, nếu, trong lúc đang có khoái lạc thẩm mỹ tột đỉnh, tôi quay sang chính tôi và nội soi để nắm bắt điều mình đang cảm nhận, tôi sẽ không nắm được gì ngoài một cảm giác vật lý. Trong trường hợp của tôi, cảm giác ấy là một cú hích hay lâng lâng ở cơ hoành. Có thể “nôn nao” của Pepys cũng đơn giản chỉ là thế. Nhưng đây mới là điều quan trọng: cú hích hay cảm giác lâng lâng ấy hoàn toàn giống với cảm giác đi kèm với đau đớn mạnh và bất chợt. Phép nội soi không cho thấy khác biệt nào giữa phản ứng thần kinh của tôi với tin dữ và phản ứng thần kinh của tôi với đoạn mở màn của vở Cây sáo thần. Nếu chỉ đánh giá dựa trên cảm giác thôi, tôi sẽ rút ra kết luận mâu thuẫn cho rằng sung sướng và đớn đau là một, rằng cái tôi sợ nhất là một với cái tôi ham muốn nhất. Chỉ dùng phép nội soi tâm lý thôi, tôi không thấy sướng vui hay đau đớn có gì nhiều hơn hay có gì khác cái còn lại. Và tôi tin là phần đông các bạn, nếu các bạn cũng hay để ý tới điều này, sẽ đưa ra cùng một lời kể như tôi.
Giờ ta tiến thêm một bước nhé. Các cảm giác này - tức là nôn nao của Pepys hay lâng lâng trong cơ hoành của tôi - không chỉ đi kèm các trải nghiệm rất khác nhau với tư cách một phần bổ sung không quan trọng hoặc trung tính. Chúng ta có thể chắc chắn rằng Pepys ghét cảm giác này khi nó đi cùng với cơn buồn nôn; dựa trên lời kể của ông, chúng ta cũng biết rằng ông thích cũng cảm giác ấy khi nó đi kèm nhạc hơi, bởi chính ông đã tìm cách để làm sao có lại. Tương tự, tôi yêu cảm giác lâng lâng này ở một bối cảnh và gọi nó là một khoái cảm ở bối cảnh đó; trong khi tôi ghét nó và gọi nó là khổ sở ở một bối cảnh khác. Nó không chỉ là dấu hiệu của vui sướng hay khổ cực nữa: nó đã trở thành cái mà nó là dấu hiệu. Khi niềm vui tràn vào hệ thần kinh, sự đầy tràn đó được gọi là viên mãn, còn khi đau thương đầy tràn như thế thì triệu chứng vật lý của nó là nỗi kinh hoàng đưa đau thương ấy lên tột đỉnh. Cái làm nên giọt ngọt ngào nhất của chén ngọt ngào cũng đồng thời làm nên giọt đắng nhất của chén đắng.
Theo tôi, đây chính là trường hợp ta đang tìm. Tôi xem đời sống cảm xúc là đời sống “cao hơn” đời sống cảm giác - đương nhiên không phải là cao hơn về đạo đức, nhưng nó giàu có hơn, đa dạng hơn, sâu sắc hơn. Tầng cao hơn này lại là tầng mà gần như tất cả chúng ta đều biết. Tôi tin rằng hễ ai theo dõi kĩ mỗi quan hệ giữa cảm xúc và cảm giác của chính mình, anh ta sẽ phát hiện được những điều sau. (1) Hệ thần kinh chúng ta đáp ứng được các cảm xúc; về mặt nào đó, nó đáp ứng rất đầy đủ, rất tài tình; (2) tài nguyên của thần kinh giới hạn hơn nhiều, các biến thiên của nó ít hơn nhiều, so với cảm xúc; (3) để bù trừ, các giác quan sử dụng cùng một cảm giác để biểu đạt nhiều hơn một cảm xúc - thậm chí, như ta đã thấy, để biểu đạt các cảm xúc trái ngược.
Chúng ta dễ lầm tưởng rằng nếu có mối quan hệ tương ứng giữa hai hệ thống, thì quan hệ tương ứng ấy phải một-một - A ở một hệ thống phải được đại diện bởi a ở hệ thống còn lại. Nhưng quan hệ tương ứng giữa cảm xúc và cảm giác hoá ra không phải là mối quan hệ kiểu này. Giữa hai hệ thống không thể có mối quan hệ này khi mà một hệ thống lớn hơn hệ thống còn lại. Để hệ thống rộng lớn hơn được biểu diễn bởi hệ thống hẹp hơn, chúng ta phải gán cho mỗi phần tử của hệ thống hẹp nhiều hơn một nghĩa. Nói nôm na thế này: sự chuyển thể từ cái rộng lớn hơn về cái nhỏ hẹp hơn phải là chuyển thể đại số, không phải số học. Nếu bạn dịch từ một ngôn ngữ có từ vựng lớn hơn sang một ngôn ngữ có từ vựng nhỏ hơn thì bạn phải được phép sử dụng một số từ theo nhiều hơn một nghĩa. Nếu chỉ có năm ký tự nguyên âm, trong khi ngôn ngữ bạn cần tạo ra phải có hai mươi hai nguyên âm lận, thì bạn sẽ phải gán cho mỗi ký tự ấy nhiều hơn một giá trị. Nếu bạn chuyển soạn cho piano một bản nhạc vốn được soạn cho dàn nhạc, thì những nốt piano được dùng để đại diện cho nốt sáo ở đoạn này phải được phép đại diện cho nốt vĩ cầm ở đoạn khác.
Như các ví dụ cho thấy, chúng ta không phải là không quen với sự chuyển soạn hay chuyển thể từ một phương tiện giàu có hơn sang một phương tiện hạn chế hơn. Ví dụ quen thuộc nhất là hội hoạ. Vấn đề đặt ra là làm sao biểu diễn một thế giới ba chiều trên một tờ giấy phẳng. Giải pháp là phối cảnh, và phối cảnh đồng nghĩa với việc chúng ta phải gán cho cùng một hình hai chiều nhiều hơn một giá trị. Vì thế, khi vẽ một hình lập phương, chúng ta dùng góc nhọn để biểu diễn cái mà trong đời thật là góc vuông. Nhưng trong bối cảnh khác thì một góc nhọn trên giấy cũng có thể biểu diễn cái mà ở đời thật cũng là một góc nhọn: chẳng hạn mũi giáo hay đầu hồi của căn nhà. Cùng một hình khối ta vẽ để tạo ra ảo ảnh một con đường thẳng đang chạy ngày càng xa người nhìn, cũng là hình khối dùng để vẽ nón phạt[2]. Với nét vẽ thế nào thì với tô đậm nhạt cũng thế. Trong bức tranh, phần ánh sáng sáng nhất là phần giấy trắng; muốn vẽ mặt trời, hay mặt hồ với ánh sáng đêm, hay tuyết, hay da người, ta chỉ có ánh sáng này thôi.
Giờ tôi xin bình luận hai điều về các trường hợp Chuyển Thể đã đưa ra.
1. Ở mỗi trường hợp, ta hiểu những gì diễn ra ở phương tiện thấp cấp hơn chỉ khi ta đã biết phương tiện cao cấp hơn. Âm nhạc là trường hợp mà hiểu biết này rất hay thiếu vắng. Bản piano với người nhạc sĩ đã biết tổng phổ soạn cho dàn nhạc là một thứ, với người chỉ nghe nó như một bản piano thôi thì lại là một thứ khác. Người thứ hai sẽ còn bất lợi hơn nữa nếu anh ta chưa nghe một nhạc cụ nào ngoài dương cầm và thậm chí còn nghi ngờ sự tồn tại của các nhạc cụ khác. Với tranh ảnh lại càng thế: chúng ta chỉ hiểu tranh nếu chúng ta đồng thời biết và sống trong thế giới ba chiều. Giả sử có một sinh vật chỉ tri giác được hai chiều không gian nhưng lại có thể nhận biết các nét vẽ trong lúc nó bò lần theo các nét vẽ ấy trên giấy; trong trường hợp đó, chúng ta thấy ngay hiểu tranh với nó là chuyện bất khả như thế nào. Ban đầu, sinh vật này có thể chấp nhận thẩm quyền của chúng ta và tin khi ta cam đoạn rằng có một thế giới ba chiều. Tuy nhiên, khi ta trỏ vào nét vẽ trên giấy và cố giải thích cho nó “Đây là con đường” (chẳng hạn), chẳng phải nó sẽ nói rằng, cùng một hình khối mà ở những bối cảnh khác được chính chúng ta dùng để biểu diễn một hình tam giác mà thôi, thì nay ta lại bắt nó tin nhận hình khối ấy là một khải thị về thế giới thần bí ngoài kia của chúng ta? Chẳng chóng thì chầy, nó cũng sẽ nói “Ông cứ nói tôi nghe mãi về thế giới ngoài kia, về những hình khối tôi tưởng tượng không ra nhưng vẫn được ông gọi là vật rắn. Nhưng biết đâu tất cả hình khối mà lâu nay ông bảo là hình ảnh hay phản chiếu của của các vật rắn nọ lại chẳng là những hình hai chiều của cái thế giới mà tôi đã biết thừa này? Còn chưa đủ rõ ràng hay sao: cái thế giới còn lại được ông tâng bốc ấy không những không phải là nguyên mẫu, mà chỉ là giấc mơ vay mượn chất liệu từ thế giới của tôi thôi.”
2. Có điều quan trọng chúng ta cần để ý: để biểu diễn mối quan hệ giữa phương tiện cao hơn và chuyển thể của nó ở phương tiện thấp hơn, biểu tượng không phải trong trường hợp nào cũng là một từ thoả đáng. Nó đáp ứng được một số trường hợp, nhưng một số khác thì không. Mối quan hệ giữa nói và viết là mối quan hệ biểu trưng. Ký tự viết thuần tuý là để mắt đọc, còn ngôn từ nói là thuần tuý để tai nghe. Không có sự tiếp tục nào giữa hai phương tiện này. Chúng không giống nhau chút nào, không cái nào là nguyên nhân của cái kia. Một cái thuần tuý là biểu hiệu của cái còn lại và biểu hiệu nó dựa trên quy ước. Thế nhưng mối quan hệ giữa bức tranh và thế giới mắt thấy không hoàn toàn như thế. Tranh ảnh là một phần của thế giới mắt thấy, và nó biểu diễn được nhờ nó là một phần của thế giới ấy. Tranh ảnh và thế giới bên ngoài sở dĩ đều nhìn thấy được là nhờ cùng một nguồn. Đèn và mặt trời của các bức tranh dường như phát sáng là bởi đèn thật và mặt trời thật chiếu sáng cho chúng; sở dĩ chúng dường như phát sáng rất nhiều là vì chúng thực sự phát sáng một chút thông qua việc phản ánh các nguyên mẫu của mình. Do đó, mối quan hệ giữa ánh mặt trời trong tranh với ánh mặt trời thật không giống quan hệ giữa từ ngữ viết và ngôn từ nói. Nó là biểu hiệu, nhưng còn hơn là một biểu hiệu nữa; sở dĩ nó là biểu hiệu là vì nó còn là một cái gì khác ngoài là một biểu hiệu - là vì ở nó, cái được biểu trưng thực ra cũng đang hiện diện ở một mô thức nào đó. Nếu phải đặt tên cho mối quan hệ này, tôi sẽ không gọi nó là biểu trưng, mà gọi nó là bí tích. Ở trường hợp đầu tiên - cảm xúc và cảm giác - chúng ta đi xa biểu tượng còn nhiều hơn nữa. Như đã thấy, ở trường hợp ấy, cùng một cảm giác không chỉ đi đôi với, không chỉ biểu hiệu cho các cảm xúc khác nhau và trái ngược nhau, mà còn trở thành một phần của các cảm xúc ấy. Có thể nói, cảm xúc đã giáng xuống trong xác thịt, trở thành cảm giác; nó tiêu hoá, biến hoá và biến thể cảm giác, để rồi cùng một cảm giác rùng mình vừa là sướng vui, vừa là khổ cực.
Tôi không nói hiện tượng được tôi đặt cho tên Biến Thể là mô thức duy nhất để một phương tiện thấp hơn đáp ứng một phương tiện cao hơn. Nhưng tôi khẳng định rằng chúng ta rất khó tưởng tượng ra một cách đáp ứng nào khác. Cho nên bét nhất chúng ta cũng có thể nói như sau: khi cái cao hơn tái sinh chính mình ở cái thấp hơn thì không ngoại trừ khả năng là hiện tượng Chuyển Thể đã xảy ra. Tôi lạc đề chút nhé: rất có thể là mối quan hệ giữa tinh thần và thân thể là mối quan hệ Chuyển Thể. Ở đời nào không biết, chứ ở đời sống này, ta biết chắc tư duy quan hệ mật thiết với não bộ. Vì vậy, lý thuyết cho rằng suy nghĩ thuần tuý là một chuyển động trong não bộ là lý thuyết vô nghĩa. Nếu thật thế, thì bản thân lý thuyết ấy cũng chỉ là một chuyển động, một sự kiện xảy ra giữa các nguyên tử, có vận tốc và phương hướng nhưng không thể áp dụng cho nó hai từ “đúng” và “sai” được. Thế nên chúng ta buộc phải đi đến quan điểm cho rằng giữa hai bên có mối quan hệ tương ứng. Các ví dụ cho thấy não bộ có thể đáp ứng - theo nghĩa nào đó, nó đáp ứng đầy đủ và tài tình là khác - sự đa dạng dường như vô biên của ý thức mà không cần phải cung ứng một mô thức sinh lý cho mỗi mô thức khác nhau của ý thức.
