2. Thần Học có phải thi ca không? - Câu Lạc Bộ Socratic ở Oxford, 1944
Tuy nhiên, có hai hướng nghĩ có thể dẫn chúng ta đến chỗ xem Thần Học là thi ca thuần tuý. Đã đến lúc tôi phải xem xét hai hướng nghĩ này. Theo quan điểm thứ nhất, Thần Học Ki-tô chứa đựng nhiều yếu tố tương đồng với nhiều tôn giáo thời cổ xưa, thậm chí cả những tôn giáo của người mông muội. Với chúng ta ngày nay, các yếu tố của tôn giáo thời sơ khởi ấy là các yếu tố chỉ còn giá trị thi ca. Vấn đề ở đây hơi phức tạp một chút. Ngày nay, chúng ta coi cái chết và sự trở lại của Balder là một ý tưởng thuộc về thi ca, một myth mà thôi. Do đó, chúng ta dễ suy ra rằng sự chết và sự sống lại của Đấng Christ cũng là một ý tưởng của thi ca, một myth mà thôi. Vậy nhưng chúng ta nào có xuất phát với tiền đề “Cả hai đều là những ý tưởng thi ca” để tiến tới kết luận “Cho nên cả hai đều sai” đâu. Tôi tin một phần của hương vị thi ca phảng phất quanh Balder thực chất đến từ việc chúng ta đã không còn tin vào thần thoại Balder nữa. Thế nên xuất phát điểm của lập luận không phải là trải nghiệm thi ca, mà thực chất là việc chúng ta không còn tin nữa. Nhưng đây là một chi tiết nhỏ thôi, có thể hơi nhỏ nhặt, và tôi sẽ gạt nó sang một bên đã.
Khi những ý tưởng của Thần Học cũng đồng thời xuất hiện ở các ngoại giáo, chúng ta sáng tỏ thêm được gì về sự đúng hay sai của thần học Ki-tô giáo đây? Tôi nghĩ ông Brown cách đây hai tuần đã đưa ra câu trả lời thoả đáng. Cho tiện thảo luận, hãy cứ cho rằng Ki-tô giáo đúng đi. Trong trường hợp đó, Ki-tô giáo chỉ có thể tránh trùng hợp với các tôn giáo khác nếu các tôn giáo ấy sai hoàn toàn, sai trăm phần trăm. Chắc các bạn còn nhớ Giáo sư Price đã đồng ý với ông và còn nói thêm: “Đúng rồi. Từ những nét tương đồng này, chúng ta không cần kết luận “Thế thì Ki-tô hữu nguy rồi”. Chúng ta có thể kết luận “Thế thì ngoại giáo cũng khá đấy chứ”.” Những nét tương đồng ấy không bảo vệ mà cũng không chống lại thần học Ki-tô được. Nếu các bạn xuất phát từ giả thiết cho rằng Thần Học là sai thì những nét tương đồng đó sẽ nhất quán với giả thiết của các bạn thôi. Khi ấy, các myth khác nhau rồi cũng chỉ cho ta cùng một kiểu sinh linh, các sinh linh ấy đối mặt với cùng một vũ trụ và, muôn trường hợp như một, chúng đưa ra cùng một phán đoán sai lầm về tất cả hoàn vũ. Nhưng nếu ta xuất phát từ giả thiết ngược lại, cho rằng Thần Học là đúng, các nét tương đồng trên lại sẽ quay ra ăn khớp với đề ngược ta đưa ra. Là bởi thần học Ki-tô, tuy cho rằng một sự khải thị đặc biệt đã được hứa ban cho các Ki-tô hữu và (trước đó) người Do Thái, song cũng hứa cho mọi dân trên trái đất một sự khải thị nào đó. Chúng ta được dạy rằng ánh sáng thiêng liêng sẽ “soi sáng cho tất cả”. Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên nếu, lần tìm trong tưởng tượng của các bậc minh sư ngoại giáo hay các tác giả thần thoại, chúng ta nhìn thấy hình bóng thoáng chốc của đúng cái chủ đề đó, chủ đề mà chúng ta tin là cốt truyện của toàn bộ câu chuyện về vũ trụ - tức chủ đề về sự giáng thế, sự chết và tái sinh. Những khác biệt giữa các đấng Christ ngoại giáo (như Balder, Osiris, v.v.) và Đấng Christ Chân Chúa cũng không nằm ngoài dự đoán của chúng ta. Các câu chuyện ngoại giáo đều kể về một ai đó chết đi rồi sống lại, hoặc hằng năm, hoặc vào khi nào và ở đâu không ai biết. Còn câu chuyện của Ki-tô giáo thì kể về một nhân vật lịch sử. Ta có thể xác định khá chính xác thời điểm người ấy bị hành hình, ta biết cuộc hành hình ấy xảy ra dưới thời tổng đốc La Mã nào, và cộng đồng mà Ngài tạo ra vẫn duy trì một mối liên hệ không đứt quãng với Ngài từ ngày ấy cho đến nay. Khác biệt giữa Ki-tô giáo và ngoại giáo không phải là khác biệt giữa đúng và sai; nó là sự khác biệt giữa bên này là một sự kiện có thật, với bên kia là những giấc mơ mờ tỏ, những dự cảm khác nhau về cùng một sự kiện có thật đó. Cũng giống như ta đang xem một sự vật nào đó đang từ từ lấy nét vậy: đầu tiên, nó còn lảng vảng đâu đó trên những đám mây thần thoại và nghi lễ, nó vừa lớn lại vừa mờ; về sau, nó mới đông lại và (về mặt nào đó) thu nhỏ lại thành một sự kiện lịch sử xảy ra ở Palestine vào thế kỷ thứ nhất. Sự lấy nét từ từ này cũng diễn ra ngay bên trong truyền thống Ki-tô giáo nữa. Tầng thấp nhất của Cựu Ước chứa đựng nhiều chân lý được diễn đạt bằng hình thức mà tôi cho là huyền thoại, thậm chí thần thoại thôi. Vẫn còn lảng vảng trên mây. Nhưng rồi dần dà chân lý cô đọng lại, càng ngày càng lịch sử hoá hơn. Từ những truyện như con tàu Nô-ê hay mặt trời treo nguyên một ngày trên đất A-gia-lôn, ta đi đến hồi ký cung đình của vua Đa-vít. Sau cùng, ta về với Tân Ước; nơi đây chỉ tuyền có lịch sử, có Lẽ Thật hoá thần. “Há thân” ở đây còn hơn là một ẩn dụ. Không phải vô tình mà ở các myth ngoại giáo lẫn thần học Ki-tô, “Chúa trở thành Người” (một phát biểu về phương diện tồn tại) luôn kéo theo hệ quả “Thần thoại trở thành lịch sử” (một phát biểu thuộc về phương diện tri thức loài người). Ý nghĩa cốt lõi của mọi sự đã từ “trời” của thần thoại giáng xuống “đất” của lịch sử. Qua đó, nó đã trút bỏ sự vinh hiển của mình, cũng như Đấng Christ đã từ bỏ sự vinh hiển của Ngài để trở thành Người. Điều này giải thích tại sao Thần Học, xét theo một nghĩa tuy phiến diện nhưng rất thật nào đó, thay vì đánh bại các đối thủ của nó nhờ phẩm chất thi ca vượt trội, trên thực tế lại thua kém các đối thủ ấy về chất thơ. Đó là lý do tại sao Tân Ước lại kém chất thơ so với Cựu Ước. Các bạn có hay thấy là khi đi lễ, nếu bài học thứ nhất được lấy từ một đoạn tuyệt vời nào đó, thì bài học thứ hai cứ nhỏ nhặt làm sao ấy - gần như là tiếng làu bàu vậy? Là vì nó như thế và nó phải thế. Myth bị hạ thấp thành sự kiện, Chúa bị hạ xuống thành Người: cái luôn tồn tại và tồn tại khắp nơi, không hình hài, không giãi bày được, chỉ thoáng hiện trong mơ hay biểu tượng hay trong thứ thi ca được con người diễn xuất và tái hiện trong nghi lễ, thì giờ đây trở thành nhỏ bé, xương thịt - không to hơn một người nằm ngủ trên chiếc thuyền chèo giữa hồ Ga-li-lê. Các bạn có thể nói rằng đây rốt cuộc là chất thơ nằm ở tầng sâu hơn. Tôi không phản đối đâu. Sự hạ thấp luôn dẫn đến một vinh hiển còn lớn hơn. Nhưng sự hạ mình của Chúa, sự thu nhỏ và cô đọng myth thành sự kiện: tất cả cũng đều rất thật.
Tôi vừa nhắc đến biểu tượng: và điều này đưa ta đến điểm cuối cùng trong cáo buộc “thuần tuý thi ca”. Thần Học và thi ca đều sử dụng ngôn ngữ ẩn dụ hoặc biểu trưng. Ngôi Nhất trong Ba Ngôi không phải là cha của Ngôi Nhì theo nghĩa thực thể. Ngôi Nhì không “xuống” đất theo cách mà một người nhảy dù xuống đất, Ngài cũng không trở về trời như quả bóng bay. Ngài cũng không ngồi bên hữu cha Ngài theo nghĩa đen. Vậy thì vì sao Ki-tô giáo lại nói về những điều này như thể có thật trong nghĩa đen vậy? Người chưa tin thì nghĩ rằng đó là bởi những nhân vật sáng lập tôn giáo này là những người ngây ngô đơn giản, đi tin luôn vào nghĩa đen của các phát biểu trên. Còn chúng ta, các Ki-tô hữu đời sau, thì vẫn tiếp tục dùng các phát biểu ấy vì tinh thần e sợ và bảo vệ niềm tin. Như Giáo sư Price nói, chúng ta thường đứng trước cám dỗ ném cái vỏ đi và giữ lại nhân.
Vấn đề này liên quan đến hai câu hỏi sau.
1. Các tín đồ Ki-tô buổi đầu đã tin như thế nào? Có phải họ tin rằng Đức Chúa Trời có một cái điện nghĩa đen ở trên trời, rằng Ngài đón con mình vào ngồi trên một chiếc ngai long trọng đặt về bên phải chiếc ngai vật lý của Ngài? Họ đã tin thế hay không tin thế? Câu trả lời: ngày ấy trong đầu họ có lẽ không bao giờ đặt ra hai phương án mà chúng ta ngày nay đặt ra cho họ. Đến khi họ thực sự đối mặt với hai phương án ấy, chúng ta biết ngay lập tức họ đứng về bên nào. Khi vấn đề nhân hoá được đặt ra một cách rõ ràng trước Giáo Hội (theo tôi biết là vào thế kỷ hai), nhân hoá ngay lập tức bị phê phán. Vừa mới nghe câu hỏi, Giáo Hội đã cho ngay câu trả lời - rằng Đức Chúa Trời không có thân thể và do đó không thể ngự trên chiếc ghế được. Nhưng cho đến khi câu hỏi được đưa ra, các tín hữu không chọn phương án trả lời này, cũng không chọn phương án trả lời kia. Trong môn lịch sử tư tưởng, không có lỗi nào gây nhiều hệ luỵ cho bằng cố đặt tiền nhân vào bên này hay bên kia của một lằn ranh phân biệt vốn không hề tồn tại trong đầu họ. Chúng ta đang đặt một câu hỏi mà câu trả lời cho nó không tồn tại. Rất có thể phần lớn (dù chắc chắn không phải tất cả) Ki-tô hữu đời đầu không bao giờ nghĩ về điều mình tin mà không kèm theo các hình dung nhân hoá. Rất có thể họ không ý thức rõ ràng (như người hiện đại ý thức) rằng đó chỉ là hình dung thôi. Nhưng thế không có nghĩa là cốt lõi đức tin của họ sẽ chú trọng vào các chi tiết của một ngôi điện có ngai vua đang toạ lạc trên tầng trời nào đó. Đó không phải là yếu tố khiến họ trân trọng hay khiến họ xả thân. Bất cứ người nào lặn lội sang Alexandria và học triết ở đó sẽ nhận ra ngay hình dung nọ đơn thuần chỉ là hình dung. Họ sẽ không thấy đức tin mình có thay đổi gì đáng nói cả. Bức tranh trong đầu của tôi về một college ở Oxford trước khi tôi tận mắt nhìn thấy nó, là một bức tranh với những chi tiết vật lý rất khác so với college thật. Nhưng thế không có nghĩa là khi đến Oxford tôi nhận ra quan niệm của mình về một college hoá ra chỉ là ảo tưởng. Đương nhiên suy nghĩ của tôi đi kèm nhiều hình dung vật lý, thế nhưng các hình dung ấy chưa bao giờ là nội dung tôi chú trọng. Thậm chí bất kể chúng có là những hình dung thế nào, thì suy nghĩ của tôi vẫn đúng. Cái ta nghĩ là một chuyện, cái ta hình dung ra trong lúc nghĩ lại là một chuyện khác.
Các tín hữu Ki-tô đời đầu không phải những người nhầm cái vỏ thành cái nhân. Họ giống người đang nâng một cái hạt chưa tách vỏ. Khi vỏ nứt, họ biết bỏ phần nào, giữ phần nào. Nhưng chừng nào nó chưa nứt thì họ giữ toàn bộ cái hạt. Không phải vì ngu ngốc mà họ làm vậy; họ làm vậy chính vì họ không ngu ngốc.
2. Chúng ta được khuyến khích diễn đạt lại niềm tin của mình mà không viện đến ẩn dụ và biểu tượng. Nhưng chúng ta không làm vậy; lý do là vì chúng ta không thể. Chúng ta có thể nói “Chúa đã bước vào lịch sử” thay vì “Chúa đã xuống thế gian”. Nhưng đương nhiên “bước vào” cũng ẩn dụ như “xuống” mà thôi. Ta mới chỉ thay thế chuyển động theo chiều dọc bằng chuyển động theo chiều ngang hoặc theo chiều chưa xác định. Chúng ta có thể làm ngôn ngữ diễn đạt nhàm chán đi, chứ không thể làm nó bớt ẩn dụ đi được. Chúng ta có thể làm cho các hình ảnh của mình đời thường hơn, nhưng cách nghĩ của chúng ta không thể vơi tính hình ảnh đi được. Đây không phải là bất lực của riêng gì Ki-tô hữu chúng ta. Câu sau đây được trích từ một tác giả chống Ki-tô nổi tiếng, Tiến sĩ I. A. Richards. “Only that part of the course of a mental event which takes effect through incoming (sensory) impulses or through effects of past sensory impulses can be said to be thereby known. The reservation no doubt involves complications.”[1] Tiến sĩ Richards không có ý nói phần của sự kiện tinh thần ấy “takes effect” [phát huy tác dụng] theo nghĩa đen của từ take [lấy, nắm]. Nó cũng không phát huy tác dụng qua kích thích giác quan theo cách ta nhận một bưu phẩm qua cánh cửa. Ở câu thứ hai, “The reservation involves complications”, dùng chữ reservation ông cũng không có ý nói một hành động bảo vệ, hay một ghế tàu đặt trước, hay một công viên bảo tồn ở nước Mỹ lại cuốn hay gấp thành một cuộn. Nói cách khác, mọi ngôn ngữ, nếu không nói về các vật thể vật lý, đều là ngôn ngữ ẩn dụ hết.
Vì những lý do trên, tôi thấy - mặc dù từ trước khi có Freud chúng ta đã biết rằng lòng người có nhiều lừa dối - rằng những người thừa nhận Thần Học chưa chắc đã bị gu thẩm mỹ thao túng thay vì để lý trí dẫn dắt. Hình dung mà chúng ta thường thấy người ta vẽ ra về những người tin Ki-tô - về một nhúm người tụ lại với nhau trên một dải đất ngày càng thu hẹp, trong khi ở bên kia cơn triều của “Khoa Học” đang mỗi ngày một dâng cao - hình dung ấy chẳng giống gì với trải nghiệm của cá nhân tôi hết. Cái myth vĩ đại mà tôi cho quý vị chiêm ngưỡng ở trên kia không phải là một câu chuyện mới mẻ và có tính phá hoại, đang yên đang lành thì chen vào các niềm tin truyền thống của tôi đâu. Trái lại, vũ trụ luận của nó là vũ trụ luận xuất phát điểm của tôi. Tôi đã nghi ngờ ngày càng sâu sắc và cuối cùng từ bỏ nó từ lâu trước khi tôi trở lại đạo. Từ lâu trước khi tôi thấy Thần Học là đúng, tôi đã xác định rằng bức tranh của khoa học thường thức chắc chắn sai. Có một điểm thiếu nhất quán chí mạng khiến cho nó sụp đổ; điểm này chúng ta đã nói đến cách đây hai tuần rồi. Toàn bộ bức tranh nó đưa ra phụ thuộc vào những suy luận từ các sự kiện quan sát được. Nếu các suy luận ấy không hợp lệ, toàn bộ bức tranh ấy tan biến ngay. Trừ phi chúng ta chắc chắn được rằng cùng một bộ quy tắc tư duy ấy sẽ đúng với không chỉ nhà khoa học giờ này đang ngồi đây, trong phòng thí nghiệm này, mà cả với những đám mây hay những phần xa xôi nhất của thực tại - nói cách khác, trừ khi Lý Trí là tuyệt đối - thì toàn bộ bức tranh sẽ tan biến. Tuy nhiên những người muốn tôi tin vào hình dung vũ trụ này lại cũng muốn tôi tin rằng Lý Trí rồi cũng chỉ là một sản phẩm phụ không định trước, không lường trước mà vật chất vô tri đạt được ở một giai đoạn nào đó - một giai đoạn nào đó nằm trong quá trình trở-thành vừa vô tận, vừa không mục đích của vật chất vô tri ấy. Đây là mâu thuẫn rành rành. Họ vừa muốn tôi thừa nhận một kết luận, vừa vứt bỏ đi lời chứng duy nhất có thể làm cơ sở cho kết luận đó. Đây là một thách thức chí mạng với họ. Khi tôi đặt ra thách thức ấy cho nhiều nhà khoa học, thay vì trả lời tôi, họ hình như còn không hiểu tại sao tôi phải khúc mắc ở chỗ này. Vì thế tôi lại càng tin rằng cái tôi phát hiện ra không phải là một mâu thuẫn hay lưỡng nan hay một nút rối của biện luận; đây là một căn bệnh cấp tính đã có từ đầu trong cách nghĩ của họ. Còn ai đã hiểu được nan đề trên thì từ nay phải xem vũ trụ luận của khoa học, về tổng thể, là một myth mà thôi, mặc dù người ta đã chắp vá vào nó nhiều kiến thức lẻ tẻ lấy từ thực tế.[2]
Các nan đề nhỏ nhặt hơn thì chẳng nói đến làm gì, mặc dù chúng không những nhiều mà còn nghiêm trọng. Phê phán Bergson nhằm vào chủ nghĩa Darwin chính thống không phải là phê phán dễ đáp trả. Cái còn đáng quan ngại hơn là lời biện minh của Giáo sư D. M. S. Watson. “Bản thân sự tiến hoá,” ông viết, “được các nhà động vật học thừa nhận không phải vì họ đã quan sát sự tiến hoá diễn ra, cũng không phải vì họ đã từ các bằng chứng mà lập luận bằng logic để chứng minh rằng nó đúng; mà bởi vì đáp án duy nhất bên cạnh nó, tức quan điểm Chúa đã sáng tạo trực tiếp các loài, là đáp án không ai tin nhận được.”[3] Họ đã đi đến nông nỗi này rồi ư? Phải chăng cái công trình đồ sộ của chủ nghĩa tự nhiên hiện đại, thay vì dựa vào bằng chứng có thật, lại phải dựa vào một định kiến tiên nghiệm vốn thuộc về môn siêu hình? Phải chăng nó được thiết kế không phải để đón nhận và giải thích các sự kiện, mà để ngăn chặn Chúa bước vào thôi? Giả như Tiến Hoá (theo nghĩa thuần tuý sinh học của từ ấy) có cơ sở vững vàng hơn những gì mà Giáo sư Watson đưa ra đi chăng nữa - tôi không thể tin là không có - chúng ta vẫn phải phân biệt Tiến Hoá theo nghĩa hẹp này với cái gọi là “thuyết tất cả tiến hoá” của tư tưởng hiện đại. Tất cả tiến hoá là lý thuyết cho rằng công thức của mọi quá trình xảy ra trong vũ trụ này đều là đi từ bất toàn đến hoàn toàn, từ những khởi đầu nhỏ đến kết cục lớn, từ sơ đẳng đến phức tạp. Đây chính là kiểu đức tin khiến người ta tự động cho rằng đạo đức đã khởi phát từ các cấm kỵ của thời xưa mông muội, cảm nghĩ người lớn khởi phát từ rối loạn tình dục tuổi ấu niên, suy nghĩ đến từ bản năng, ý thức đến từ vật chất, hữu cơ đến từ vô cơ, trật tự đến từ hỗn loạn. Đây có lẽ là nếp nghĩ thâm căn cố đế nhất của thế giới ngày nay; tôi thì thấy nó hết sức vô lý, bởi tiến trình tự nhiên mà nó vạch ra thật quá khác những mảng của tự nhiên mà chúng ta quan sát được. Các bạn chắc còn nhớ câu đố cổ xưa: con cú sinh ra từ quả trứng, hay quả trứng sinh ra từ con cú? Sự ưu ái mà thế giới hiện đại dành cho thuyết tất cả tiến hoá là một kiểu ảo ảnh thị giác do người ta chỉ tập trung nhìn con cú nảy ra từ quả trứng. Theo những gì được dạy dỗ từ tấm bé, chúng ta học lưu ý một cây sồi hoàn hảo đã lớn lên từ hạt sồi ra sao, nhưng quên đi rằng hạt sồi đó đã từ một cây sồi hoàn hảo mà rụng xuống. Chúng ta được nhắc nhở không thôi rằng con người trưởng thành đã từng là một phôi thai, nhưng không ai nhắc nhở chúng ta rằng cái phôi đó đã nhờ hai người trưởng thành mà ra đời. Chúng ta sung sướng chỉ ra rằng động cơ tốc hành ngày nay là hậu duệ của “rocket” ngày xưa; nhưng chúng ta không chịu nhớ rằng cái “rocket” ấy không phải sinh ra từ một động cơ thô sơ hơn. Nó sinh ra từ một thứ hoàn hảo và phức tạp hơn nó nhiều - một người có bộ óc thiên tài. Sự hiển nhiên hay tự nhiên mà nhiều người tìm thấy ở lý thuyết tiến hoá từ từ dường như chỉ là một ảo giác mà thôi.
Vì những lý do trên và những lý do tương đương, ta thấy cái gì đúng thì đúng, chứ vũ trụ luận của khoa học như đang phổ biến ngày nay thì không thể đúng được. Tôi từ bỏ con tàu ấy không vì tiếng gọi của thi ca, mà vì tôi nghĩ nó không đứng nổi trên mặt nước. Một cái gì khác, như duy tâm trong triết học hay hữu thần cũng được, hãy vẫn còn đỡ sai hơn nó. Duy tâm, nếu ta nghiêm túc xem xét nó, thực ra là chủ nghĩa hữu thần được nguỵ trang mà thôi. Một khi đã thừa nhận quan điểm hữu thần, ta không thể phớt lờ những tuyên ngôn của Đấng Christ. Và một khi đã xem xét các tuyên ngôn ấy, tôi thấy người ta không thể đứng lưng chừng được. Hoặc Đấng Christ là kẻ điên, hoặc ngài là Chúa. Và Ngài không thể là kẻ điên được.
Hồi còn đi học, tôi được dạy là khi đã tìm được đáp án cho bài toán thì phải “viết chứng minh”. Phần chứng minh cho đáp án Ki-tô nhằm giải bài toán vũ trụ của tôi là như sau. Khi tôi thừa nhận Thần Học, ở chỗ này chỗ khác tôi có thể gặp khó khăn trong việc dung hoà nó với các kiến thức cụ thể vốn được người ta cấy vào cái vũ trụ luận thần thoại mà khoa học đã sản sinh ra. Nhưng nói chung tôi có thể đón nhận, tôi có chỗ cho khoa học. Mặc định rằng Lý Trí đứng trên vật chất, rằng ánh sáng của Lý Trí khởi thuỷ đó soi sáng cho tâm trí người phàm, tôi hiểu được làm thế nào mà người ta, qua quan sát và suy luận, lại hiểu biết nhiều về vũ trụ họ sống. Nhược bằng tôi chấp nhận toàn bộ vũ trụ luận của khoa học, tôi không những không có chỗ cho Ki-tô giáo, tôi còn không có chỗ cho khoa học luôn. Nếu tinh thần phụ thuộc hoàn toàn vào não, não hoàn toàn vào sinh hoá, còn sinh hoá (về lâu về dài) phụ thuộc vào sự thay đổi liên tục và vô nghĩa của các nguyên tử, thì tôi không thấy suy nghĩ của những tinh thần kia có ý nghĩa gì hơn là tiếng gió thổi trên cây. Đó là phép thử quyết định của tôi. Đó là cách mà tôi phân biệt mơ và tỉnh. Khi tỉnh, tôi có thể giải thích và nghiên cứu giấc mơ của mình. Con rồng rượt theo tôi đêm qua vẫn tìm được chỗ đứng trong thế giới tỉnh ngủ của tôi. Tôi biết rằng trên đời có những thứ gọi là mơ: tôi biết tôi mơ mòng vì đã ăn những thức khó tiêu vào bữa tối; tôi cũng biết người có gu đọc như tôi có mơ thấy rồng thì cũng là thường. Tuy nhiên tôi không thể nhét trải nghiệm lúc tỉnh của mình vào thế giới của cơn ác mộng. Thế giới tỉnh được xem là thật hơn vì nó dung chứa được thế giới mơ: thế giới mơ được xem là kém thật hơn vì nó không dung chứa được thế giới tỉnh. Vì cùng một lẽ đó, tôi tin rằng, khi đi từ quan điểm khoa học về quan điểm của thần học, tôi đi từ mơ về với tỉnh. Ki-tô giáo có chỗ cho khoa học, nghệ thuật, đạo đức và cho các tôn giáo dưới tầm nó. Còn quan điểm khoa học thì không có chỗ cho những thứ ấy - ngay cả chỗ cho khoa học cũng không. Tôi tin vào Ki-tô giáo cũng như tôi tin Mặt Trời đã mọc vậy: không những tôi nhìn thấy Mặt Trời ở đằng kia, mà nhờ nó tôi nhìn thấy mọi vật trên đời.
[1] Principles of Literary Criticism, Chương XI. (NC) “Ở một sự kiện tinh thần, phần duy nhất của sự kiện ấy mà ta ý thức được là phần đã phát huy tác dụng qua các kích thích (từ giác quan) mà ta nhận được, hoặc qua ảnh hưởng của các kích thích giác quan trong quá khứ. Sự dè chừng của tôi chắc chắn còn khiến cho câu chuyện rắc rối thêm.”
[2] Trong quá trình xem xét tính chất thần thoại của vũ trụ luận này, tưởng cũng không lạc đề nếu tôi lưu ý rằng từ trước khi có bằng chứng chứng minh cho nó, trí tưởng tượng con người đã sản xuất được hai hình thức biểu đạt xuất sắc để biểu đạt vũ trụ luận ấy: Hyperion của Keats và Nibelung’s Rings đều là những tác phẩm có trước thời đại Darwin. (NC)
[3] Trích từ Science and the B.B.C., Nineteenth Century, Tháng Tư, 1943. (NC)
