1. Thần Học có phải thi ca không? - Câu Lạc Bộ Socratic ở Oxford, 1944
Câu hỏi mà tôi được yêu cầu phải thảo luận vào buổi tối hôm nay - “Thần học có phải thi ca không?” - không phải câu hỏi do tôi lựa chọn. Tôi còn thấy mình như ở trong địa vị một thí sinh làm bài thi. Tôi thấy tôi phải làm đúng lời dặn của các thầy, tức là hiểu chắc chắn câu hỏi muốn nói gì.
Thần học ở đây, theo tôi thấy, nghĩa là một chuỗi có hệ thống các phát biểu được các tín hữu của một tôn giáo đề ra về Chúa và về mối quan hệ của loài người với Ngài. Vì đây là đề thi mà quý câu lạc bộ ra, cho nên tôi mặc định Thần Học[1] ở đây là thần học Ki-tô. Tôi mạnh dạn mặc định như thế bởi trong phần còn lại của bài phát biểu này tôi sẽ đưa chút ý kiến về các tôn giáo khác nữa. Chúng ta cũng đừng quên rằng chỉ một thiểu số tôn giáo trên thế giới là có hệ thống thần học mà thôi. Người Hy Lạp không có một chuỗi phát biểu hệ thống nào về niềm tin của họ vào thần Zeus cả.
Thuật từ còn lại, thi ca, là thuật từ khó định nghĩa hơn nhiều; nhưng tôi đoán được cái đích mà các vị giám khảo muốn nhắm đến mà không cần đưa ra định nghĩa nào hết. Tôi biết chắc các vị đang không hỏi điều gì. Họ không hỏi tôi liệu thần học có được viết bằng thơ không. Họ không cũng không hỏi liệu các nhà thần học có phải là bậc thầy của một phong cách viết “đơn giản, gợi cảm và say sưa” không. Tôi nghĩ ý họ muốn nói là: “Có phải thần học đơn thuần chỉ là thơ không?” Mở rộng ra, câu hỏi ấy là thế này: “Có phải thần học rồi cũng chỉ mang cho chúng ta thứ chân lý mà, theo nhiều nhà phê bình, thi ca cũng mang cho chúng ta?” Trả lời một câu hỏi ở dạng này, chúng ta thấy thách thức đầu tiên nằm ở chỗ mọi người chưa nhất trí về định nghĩa của cụm từ “chân lý của thi ca”. Thậm chí chúng ta còn không biết liệu có cái gọi là “chân lý thi ca” hay không. Thế nên trong bài thi này, tốt nhất ta nên áp dụng một khái niệm rất mờ nhưng lại rất khiêm tốn về thi ca. Chúng ta sẽ xem thi ca là mọi hình thức viết lách khơi lên và phần nào thoả mãn trí tưởng tượng. Và tôi sẽ diễn giải câu hỏi mà tôi phải trả lời như sau: Có phải nhờ khơi dậy và thoả mãn những tưởng tượng của chúng ta mà thần học Ki-tô có sức hấp dẫn không? Có phải những người tin nó thực chất chỉ hài lòng với nó về mặt thẩm mỹ, nhưng lại lầm tưởng họ đã thừa nhận nó về mặt lý trí? Hay họ thừa nhận nó chỉ vì đã hài lòng với nó về mặt thẩm mỹ?
Đứng trước câu hỏi này, tôi liền tra xét một tín hữu mà tôi tường tận nhất - chính mình. Điều đầu tiên tôi phát hiện, hoặc lờ mờ nhận ra, là với tôi, nếu Thần Học là thi ca thì nó không phải thứ thi ca hay.
Tôi thấy, trong tư cách thi ca, giáo lý Ba Ngôi chẳng đứng được trên chiếc thang nào. Giáo lý ấy thiếu đi sự hoành tráng của một công trình nguyên khối mà chúng ta gặp ở các quan niệm thuần tuý Nhất Vị. Nó lại cũng không có sự đa dạng của các thần học đa thần. Với gu của tôi, một Chúa toàn năng không mang đến lợi thế thi ca nào. Odin, vị thần chống lại những kẻ thù mà thần không hề sáng tạo và sau cùng sẽ bị chúng đánh bại - Odin ấy có một sức hút bi hùng mà Đức Chúa Trời của người Ki-tô không thể nào có. Chưa nói bức tranh của Ki-tô giáo về vũ trụ cũng có gì đó khô cằn. Trong thần học của tôn giáo ấy tồn tại một viễn cảnh tương lai, tồn tại nhiều thang bậc mà ở đó có các sinh linh cao hơn loài người; tuy nhiên chúng ta biết rất lờ mờ về bản chất của tương lai hay của các sinh linh ấy. Ki-tô giáo lại cũng không có sức hấp dẫn của chủ nghĩa lạc quan hay chủ nghĩa bi quan. Điều cuối cùng - mà cũng là điều dở nhất - là tuy rằng câu chuyện của Ki-tô giáo về vũ trụ chứa đựng toàn yếu tố bi kịch, song xét tổng thể thì nó không đến tầm một bi kịch. Vòng đời của vũ trụ rất giống vòng đời của người phàm trên hành tinh này - “như miếng vải lộn, lẫn tốt với xấu, vui với buồn”. Đối với tôi, sự đơn sơ huy hoàng của chủ nghĩa phiếm thần hay khu rừng rậm rạp của thuyết vật linh hãy còn hấp dẫn hơn. Ki-tô giáo không đạt đến sự gọn gàng của cái thứ nhất, lại cũng không có sự đa dạng gây cuốn hút như cái thứ hai. Theo tôi, trí tưởng tượng con người thích làm hai việc. Nó thích nắm bắt đối tượng một cách trọn vẹn; nó thích tiếp thu đối tượng chỉ qua một lần nhìn và xem đối tượng ấy như một thứ hài hoà, cân đối và minh bạch. Đây là trí tưởng tượng cổ điển, và đền Parthenon được dựng lên cho trí tưởng tượng ấy. Nhưng nó lại cũng thích lạc vào mê cung và đầu hàng trước cái rối rắm phức tạp. Đây chính là trí tưởng tượng lãng mạn, và Orlando Furioso được viết ra dành cho nó. Thần học Ki-tô giáo không phục vụ được hai trí tưởng tượng này.
Nếu Ki-tô giáo chỉ là thần thoại thì tôi thấy thần thoại mà tôi trót tin lại không phải thần thoại tôi thích nhất. Tôi thích thần thoại Hy Lạp hơn nhiều; thần thoại Ireland nhiều hơn nữa. Thần thoại Bắc Âu mới là thứ tôi thích nhất.
Không những tra xét chính mình, tôi còn tìm hiểu xem trường hợp của tôi có đặc biệt không. Hình như tôi không có gì đặc biệt. Một khi con người đã tin vào cái siêu nhiên nào đó thì không có bằng chứng cho thấy hình ảnh về cái siêu nhiên ấy lại mang đến cho họ nhiều thoả mãn nhất. Từ thế kỷ mười hai đến thế kỷ mười bảy, châu Âu đã tìm được khoái lạc vô bờ ở thần thoại cổ điển. Nếu lấy số lượng và sức mạnh của tranh ảnh và thơ làm thước đo cho đức tin, chúng ta sẽ kết luận các thời ấy là thời của ngoại giáo. Điều này rõ ràng không đúng.
Và, trái với những gì được gán cho tín hữu Ki-tô, hình như con người nói chung cũng không dễ lầm tưởng lạc thú của tưởng tượng là sự thừa nhận của lý trí như người đời vẫn nghĩ. Đến trẻ con cũng ít khi lầm lẫn như vậy. Các em thích tưởng tượng mình là gấu hay ngựa; nhưng tôi chưa thấy em nào lầm tưởng mình là gấu hay ngựa. Mà các bạn có thấy ở niềm tin hay đức tin có gì đó xung đột với khoái lạc trọn vẹn của trí tưởng tượng không? Đôi khi, chính một người vô thần có hiểu biết, có văn hoá lại say sưa trong một cái bẫy thẩm mỹ nào đó của Ki-tô giáo theo cách mà một tín hữu chỉ biết nhìn vào mà ghen tị. Các nhà thơ hiện đại thì thích các thần Hy Lạp theo cách mà tôi không hề thấy trong văn học Hy Lạp. Trong văn học cổ đại, liệu có hoạt cảnh thần thoại nào sánh ngang được với Hyperion của Keats không? Theo một nghĩa nào đó, chính vì tin vào một thần thoại mà chúng ta phá hỏng tác dụng tưởng tượng của nó. Truyện thần tiên phổ biến ở nước Anh là bởi chúng ta không tin thần tiên tồn tại; nhưng ở Arran, ở Connemara thì chúng chẳng có gì thú vị.
Nhưng tôi cũng phải cảnh giác kẻo lại đi quá xa. Ở trên tôi đã nói rằng, “theo một nghĩa nào đó”, niềm tin sẽ biến một hệ thống thành món ươn mà trí tưởng tượng không thể nào ưa nổi. Đúng là theo một nghĩa nào đó, nhưng không phải tất cả. Nếu tin vào thần tiên yêu ma, tôi chắc chắn đánh mất một thú vui mà hiện tại tôi đang có khi đọc Midsummer Night’s Dream. Tuy nhiên, sau đó, khi tôi đã tin rồi, khi những con yêu đã sống ổn định như các cư dân thực thụ trong vũ trụ đời thật của tôi, khi chúng đã được kết nối trọn vẹn với các mảng còn lại trong suy nghĩ của tôi, thì tôi lại có một lạc thú mới. Tôi tin rằng khi chúng ta nghĩ về các sự vật chúng ta tin có thật, ý nghĩ đó - ở những đầu óc mới nhạy bén ở mức vừa phải thôi - luôn đi kèm với một sự hài lòng nhất định về phương diện mỹ học. Sự thoả mãn hay hài lòng đó phụ thuộc hoàn toàn vào tính chất có thật được gán cho các sự vật trên. Một sự vật nào đó tồn tại - chỉ riêng điều đó thôi cũng đã chứa đựng một phẩm giá, một sức mạnh nào đó rồi. Như Balfour đã chỉ ra trong Theism and Humanism (một cuốn còn ít người đọc quá), có nhiều sự kiện lịch sử mà nếu chỉ coi chúng là bịa đặt, chúng ta sẽ không thấy ở chúng có không khí hay cảm xúc gì khiến chúng ta phải ca ngợi. Nhưng một khi đã tin những sự kiện ấy là thật, thì bên cạnh thoả mãn về lý trí, chúng ta còn có thêm một lạc thú thẩm mỹ khi nghĩ về chúng. Chiến tranh ở Troy và chiến tranh Napoleon đều để lại ảnh hưởng mỹ học lên chúng ta; nhưng ảnh hưởng của mỗi cuộc chiến lại một khác. Và khác biệt này không chỉ phụ thuộc các yếu tố khiến cho hai câu chuyện về hai cuộc chiến là hai cốt truyện khác nhau. Lạc thú mà chiến tranh Napoleon mang lại vẫn là một kiểu lạc thú khác, và nó khác vì chúng ta tin cuộc chiến ấy đã xảy ra. Một ý niệm được tin là có thật sẽ cho ta một cảm nhận khác hẳn so với một ý niệm không được tin là có thật. Trong trải nghiệm của tôi, hương vị đặc thù của điều ta tin sẽ không bao giờ không đi kèm với một lạc thú của trí tưởng tượng. Cho nên các Ki-tô hữu sẽ yêu thích bức tranh thế giới của họ một khi họ đã thừa nhận đó là bức tranh thật. Bất cứ người nào cũng yêu thích bức tranh thế giới mà anh ta đã thừa nhận, vì rằng sức nặng và tính chất chốt hạ của cái thật sẽ tự thân nó là một kích thích thẩm mỹ. Theo nghĩa đó thì Ki-tô giáo, tôn giáo của sức sống, Mác-xít, chủ nghĩa Freud đều hoá thành “các nền thi ca” cho tín hữu của chúng. Nhưng thế không có nghĩa là những ai tin nhận chúng đều đã tin nhận chúng vì lý do đó. Ngược lại mới đúng: kiểu thi vị hoá này là kết quả, chứ không phải nguyên nhân của niềm tin. Theo nghĩa này, thần học với tôi là thi ca vì tôi tin vào nó, chứ tôi không tin vào nó vì nó là thi ca.
Vậy nên nếu ai nói thần học đơn thuần chỉ là thơ; nếu ý họ muốn nói rằng các Ki-tô hữu tin vào thần học Ki-tô là vì từ trước khi tin họ đã thấy nó là bức tranh có sức hút thi ca vượt mọi bức tranh khác, thì tôi thấy quan điểm của họ cực kỳ vô lý. Có thể tôi chưa biết đến những bằng chứng được họ dùng làm cơ sở cho lời công kích đó; tuy nhiên những bằng chứng mà tôi biết đều đi ngược lại với nó.
Đương nhiên, tôi không muốn khẳng định rằng cho đến phút chúng ta tin nhận Thần Học thì hệ thống ấy vẫn chưa có chút giá trị thẩm mỹ nào. Tôi chỉ thấy là về mặt này, Thần Học không có gì vượt trội so với các kình địch của nó. Chúng ta hãy dành ra ít phút xem xét vị thế mỹ học to lớn của kình địch lớn nhất của Thần Học Ki-tô - cái mà ta gọi nôm na là Thế Giới Quan Khoa Học, tức bức tranh mà ông Wells và những người còn lại đưa ra[2]. Nếu đây là một myth, thì đây chẳng phải một trong những myth tuyệt vời nhất mà trí tưởng tượng loài người đã sản sinh ra ư? Màn mở đầu của vở kịch là màn mở đầu khô khan số một: một trống không vô tận, vật chất cứ chuyển động không thôi, sản sinh ra cái gì không biết. Thế rồi, một sự kiện có xác suất một phần triệu triệu đã xảy ra - thật là một cảnh trớ trêu bi kịch: các điều kiện tự nhiên ở một điểm nào đó trong không gian và thời gian đã ùng ục thế nào đó, phát triển thành một thứ men làm khởi đầu cho sự sống. Mọi thứ dường như đang chống lại vị anh hùng sơ sinh của tấn kịch - cũng như mọi thứ như chống lại đứa con trai út hay cô con gái bị ngược đãi ở đầu các truyện cổ tích. Nhưng rồi thế nào đấy mà sự sống vẫn bứt lên. Sau vô biên gian khổ, vượt qua các chướng ngại không thể vượt qua, sự sống đã lan rộng, đã sinh sôi, đã phức tạp lên: nó từ con amoeba phát triển thành thực vật, rồi từ đó lên bò sát, rồi lại lớn lên thành động vật có vú. Rồi chúng ta đi lướt qua thời của quái vật: rồng lớn rồng nhỏ la cà trên trái đất, ăn nuốt lẫn nhau rồi chết đi. Sau đó chủ đề đứa con trai thứ, chủ đề con vịt xấu xí lại quay trở lại. Cũng như tia lửa sự sống vừa nhỏ nhoi vừa yếu ớt đã nảy ra giữa muôn vàn thù địch của vật chất không sống, thì bây giờ, thêm một lần nữa, giữa các loài muông thú to hơn và khoẻ mạnh hơn, một sinh vật trần truồng, co ro, lom khom đã sinh ra. Hắn đi vấp váp, dáng người chưa thẳng; trông hắn chẳng có gì hứa hẹn. Hắn lại cũng là sản phẩm của một sự kiện có xác suất một phần triệu triệu. Nhưng thế nào đó mà hắn lại sống tốt. Hắn trở thành người hang động, có chày, có đá lửa; hắn cất những tiếng lầm rầm và lè nhè trên đống xương kẻ thù. Hắn nắm lấy tóc mà lôi ả bạn tình (tôi thì vẫn chưa hiểu vì sao phải làm thế), xé xác con cái mình vì ghen tuông cho đến khi một đứa con kia đủ lớn đủ mạnh để xé xác chính hắn. Hắn quỵ luỵ trước các thần gớm ghiếc mà hắn đã tạo ra theo hình ảnh mình. Nhưng đây mới là căng thẳng được xây dựng dần dần thôi. Hãy đợi đến hồi kế tiếp. Ở hồi ấy, hắn trở thành Người thực thụ. Hắn học cách khuất phục tự nhiên. Khoa học sinh ra và hoá giải các mê tín hắn từng mang hồi còn thơ dại. Càng ngày hắn càng học kiểm soát số phận mình. Lướt nhanh và bỏ qua hiện tại (vì rằng đem sánh với thang thời gian đang được dùng để tham chiếu thì hiện tại chẳng là gì cả), ta theo hắn vào tương lai. Kìa, hãy xem hắn đứng trong hồi cuối, mặc dù chưa phải cảnh cuối, của tấn kịch tang thương này. Một dòng dõi á thần giờ đây cai trị hành tinh trái đất - và có khi không chỉ hành tinh ấy, vì rằng cơ chế ưu sinh đảm bảo một ngày kia các á thần phải sinh ra; phân tâm học thì đảm bảo rằng không vị nào phải đánh mất hay làm hoen ố bản tính thiêng liêng của mình; và xã hội cộng sản thì đảm bảo là mọi thứ mà bản tính thiêng liêng đó cần đến sẽ luôn sẵn có sẵn dùng. Loài người đã lên ngôi. Từ nay trở đi, hắn không còn việc gì nữa, chỉ việc tập tành đức hạnh, lớn lên trong sự khôn sáng và sống làm một loài hạnh phúc. Nhưng đến đây mới là nét cọ sau cùng của bậc thiên tài. Nếu chỉ dừng ở đây thôi, thì myth này sẽ thành một myth sến sẩm; nó sẽ thiếu đi nét chói lọi cao cả nhất mà đáng ra trí tưởng tượng con người có thể đạt đến. Cảnh cuối là cảnh lật ngược tất cả. Ở đó, chúng ta thấy buổi hoàng hôn của các vị thần. Suốt quá trình lịch sử trên, Tự Nhiên - kẻ thù từ buổi xa xưa ấy - vẫn cứ âm thầm, liên tục và kiên trì bào mòn loài người, còn loài người thì không làm gì được. Mặt Trời sẽ nguội - không chỉ một mà tất cả mặt trời đều nguội - và toàn thể vũ trụ sẽ tan rã. Sự sống, mọi hình thức của sự sống, sẽ bị đuổi ra khỏi miền không gian vô tận, không có hy vọng quay trở lại bao giờ. Tất cả đều kết cục ở không-gì-cả, “một tối tăm tuyệt đối bao trùm lên tất cả”. Bố cục của myth là thứ cấu trúc sang trọng nhất mà loài người chúng ta có thể đạt được. Nó cũng là cấu trúc của các bi kịch thời Elizabeth mà ở đó, cuộc đời của nhân vật chính có thể được biểu diễn bằng một đường cong tuy lên từ từ nhưng xuống thì dốc và đạt điểm cực đại ở Hồi IV. Ta thấy nhân vật leo, leo lên, sau đó chói sáng trên thiên đỉnh, để rồi cuối cùng chìm ngập trong suy tàn.
Tấn kịch về thế giới như trên có sức hút với mọi khía cạnh trong con người chúng ta. Những gian khó buổi đầu (một chủ đề hay và được nhân đôi, vì nhân vật đi trước là sự sống, nhân vật đi sau là con người) hấp dẫn bản năng hào sảng, đại lượng trong chúng ta. Bên cạnh đó còn có niềm hoan lạc đang nằm ở tương lai phía trước, và điều đó mang đến cho tinh thần lạc quan một chân trời rộng mở, bởi cái kết bi tráng còn ở xa lắm, xa đến nỗi ta không cần nghĩ đến nó nhiều - chúng ta đang nói câu chuyện của hàng triệu năm kia mà. Còn cái kết thì cho chúng ta đúng thứ trớ trêu, đúng thứ huy hoàng có tác dụng kích thích tinh thần bất khuất trong ta; thiếu cái kết ấy, những thứ còn lại dễ hoá thành nước đường mất. Myth này chứa đựng một vẻ đẹp xứng đáng cho thi ca xử lý tài tình hơn nữa, hơn cách nó đã được xử lý từ trước đến nay: tôi chỉ mong một thiên tài nào đó sẽ kết tinh được nó trước khi dòng chảy vô thường của triết học cuốn trôi nó đi. Dĩ nhiên cái đẹp tôi đang nói là cái đẹp mà myth này có, bất kể chúng ta tin nó là đúng hay không. Đến đây thì tôi có thể nói từ kinh nghiệm cá nhân: bởi tôi đây - người tin chưa đến một nửa vào những điều nó nhận định về quá khứ, và không tin gì hết vào những điều nó nhận định về tương lai - tôi đây được cảm động sâu sắc khi nghĩ về myth này. Nibelungs Ring (trừ phi nó là hiện thân khác của cùng một câu chuyện) là myth duy nhất có sức cảm động tôi theo cách tương tự. Enden sah ich die Welt.[3]
Vậy nên chúng ta không thể chối bỏ Thần Học chỉ vì nó không thể không thi vị hoá. Bất cứ nhân sinh quan nào cũng thế: nhờ được tin vào và chỉ nhờ thế thôi mà chúng mang được thi ca đến cho những kẻ tin vào chúng. Và gần như nhân sinh quan nào cũng có giá trị thi ca, bất kể chúng ta tin vào nó hay không. Điều này không đáng cho ta ngạc nhiên. Con người là một động vật thi ca; hắn chẳng chạm tay vào thứ gì mà không đồng thời trang điểm cho nó.
[1] Xuyên suốt bài viết, Lewis sẽ dùng Thần Học (viết hoa) để gọi tắt “thần học Ki-tô giáo”.
[2] Tôi không nói các nhà khoa học làm khoa học tin tuyệt đối vào thế giới quan này. “Wellsianity”, một cái tên vui tai mà một thành viên khác đã tạo ra trong lúc thảo luận, là tên hay hơn nhiều so với “Thế Giới Quan Khoa Học”. (NC)
[3] Ta đã thấy kết cục của Thế Gian
