1. Vòng Trong - Diễn văn tưởng niệm đọc ở King’s College, London, 1944
Để tôi đọc các em nghe một đoạn từ Chiến tranh và Hoà bình nhé.
Khi Boris vào, công tước Andrey, mắt nheo nheo lại có vẻ khinh khỉnh (cái vẻ đặc biệt của một người đã mệt mỏi nhưng vẫn giữ lễ độ, cho người ta thấy rõ rằng giá thử đây không phải là nhiệm vụ của tôi, thì tôi đã không thèm nói chuyện với ngài lấy một phút), lắng nghe một vị tướng Nga già đeo đầy huân chương đang đứng nghiêm rướn thẳng người gần như kiễng chân lên, khuôn mặt đỏ tía lộ vẻ cung kính theo kiểu nhà binh, báo cáo với công tước Andrey một việc gì đấy.
- Được lắm, xin ngài đợi một lát, – chàng nói với vị tướng bằng tiếng Nga với cái giọng Pháp mà chàng thường có khi muốn tỏ ý khinh thị, và khi trông thấy Boris, chàng không quay lại với vị tướng nữa (bấy giờ ông ta đang chạy theo van xin chàng nghe ông nói nốt). Công tước Andrey mỉm cười vui vẻ quay sang Boris gật đầu chào.
Lúc đó Boris hiểu rõ một điều mà chàng đã cảm thấy từ trước – là trong quân đội, ngoài cái tôn ti và kỷ luật có ghi trong điều lệ mà trong trung đoàn ai cũng biết và chính chàng cũng biết, còn có một thứ tôn ti khác, quan trọng hơn, đó là cái tôn ti đã buộc vị tướng mặt đỏ tía kia phải kính cẩn chờ đợi, một khi đại úy công tước Andrey thích cho rằng nói chuyện với thiếu úy Drubetskoy bây giờ tiện hơn. Hơn bao giờ hết, Boris quyết chí từ nay sẽ không tuân theo cái tôn ti có ghi trong điều lệ quân đội nữa, mà sẽ tuân theo cái tôn ti không thấy ghi kia.[1]
Khi các em mời một nhà đạo đức đứng tuổi đến nói chuyện, tôi tự khắc kết luận - bất kể kết luận này khó tin đến đâu - rằng các em thích được nghe người đứng tuổi giảng đạo đức cho nghe. Thì đây, tôi sẽ hết sức làm vừa lòng các em. Tôi sẽ cho các em lời khuyên về thế giới ngoài kia, thế giới mà các em sắp sửa bước vào. Tôi không định bàn về cái mà người ta gọi là “thời sự” đâu. Về thời sự, chắc các em cũng rành như tôi. Tôi sẽ không dạy các em phải đóng vai trò nào trong công cuộc tái thiết khi chiến tranh đã kết thúc; nếu có dạy, tôi sẽ lựa cách nói chung chung đến nỗi các em không nhận ra lời tôi nói là lời dạy nữa. Thực tiễn mà nói, trong mười năm tới, có lẽ không ai trong các em trực tiếp đóng góp được gì cho nền hoà bình hay thịnh vượng của toàn châu Âu. Các em sẽ bận tìm việc, lập gia đình và thu nhặt kiến thức. Việc mà tôi sắp sửa làm đây là việc đậm chất truyền thống hơn nhiều so với những gì các em tưởng tượng. Tôi sẽ khuyên. Tôi sẽ cảnh báo các em. Lời khuyên và cảnh báo của tôi nhắm vào những điều phi thời đến nỗi không ai gọi nó là “thời sự” được.
Ai cũng biết một người đứng tuổi như tôi sẽ dặn dò lớp trẻ phải cảnh giác cái gì. Ông ta sẽ dặn dò đám thanh niên về Thế Gian, về Xác Thịt, và về Ma Quỷ. Nhưng hôm nay bàn đến một trong bộ ba này thôi là đủ. Ma Quỷ tôi sẽ để sang một bên. Trong tâm trí công chúng, mối liên hệ giữa Ma Quỷ và tôi đã đủ sâu sắc rồi. Ở nhiều nơi, người ta còn thấy hai chúng tôi nhập nhằng, có khi nhập một với nhau là đằng khác. Giờ tôi mới ngấm câu châm ngôn cổ: muốn ngồi ăn với ma quỷ, tay chủ tiệc gian ác, người ta phải có cái thìa dài cán.[2] Về Xác Thịt, nếu lại còn không rành về nó bằng tôi thì các em thật là những thanh niên không bình thường. Còn về Thế Gian, quả thật tôi có điều này để nói với các em.
Trong đoạn mà tôi trích từ Tolstoi, chàng thiếu uý trẻ Boris Dubretskoi phát hiện ra rằng trong quân đội có hai hệ thống, hai tôn ti. Tôn ti thứ nhất được in trong một cuốn sách bìa đỏ nào đó, ai cũng có thể mở ra đọc. Nội dung nó chứa đựng là bất biến. Tướng đứng trên đại tá, đại tá đứng trên đại uý. Nhưng tôn ti thứ hai không thấy viết ở đâu cả. Mà rồi nó cũng không phải là một hội kín được tổ chức theo thể thức; nó không có cán bộ, không có nội quy để truyền đạt cho ai đó khi anh ta được nhận vào trong. Cũng không có ai nhận ta vào trật tự ấy một cách chính thức hay rõ ràng hết. Từ từ ta nhận ra, theo những cách mà gần như ngôn từ không diễn tả được, rằng trật tự đó có tồn tại và ta đang đứng ngoài nó. Có thể sau đó, [cũng theo những cách không thể nào diễn tả được như thế] ta nhận ra ta đứng bên trong nó. Ở tôn ti thứ hai này cũng có những thứ tương đương với mật khẩu, nhưng chúng cũng tự phát và tự nhiên y như tôn ti ấy vậy. Một từ lóng nào đó, một biệt danh nào đó, một cách nói chuyện ám chỉ nào đó: đó chính là các dấu hiệu của trật tự này. Tuy nhiên nó không bất biến. Vào một thời điểm nhất định, người ta khó nói được ai đang đứng trong, ai đứng ngoài nó. Một số người rõ ràng sẽ đứng bên trong, một số rõ ràng sẽ ở ngoài, nhưng luôn có vài trường hợp đứng ở lằn ranh. Nếu, sau sáu tuần vắng mặt, ta trở lại cùng một ban chỉ huy sư đoàn hay lữ đoàn ấy, hoặc cùng một trung đoàn hay đại đội ấy, có khi ta thấy tôn ti thứ hai đã thay đổi khá nhiều. Không có ai chính thức được kết nạp, cũng không ai chính thức bị loại trừ. Nhiều người tưởng mình đang đứng bên trong, mặc dù trên thực tế họ hoặc đã bị đẩy ra ngoài, hoặc thậm chí còn chưa hề được đón vào bên trong. Điều này khiến những kẻ ở trong lấy làm thích thú lắm. Trật tự này cũng không có tên nhất định. Quy luật vững chắc duy nhất là kẻ đứng trong và kẻ đứng ngoài gọi nó bằng các tên khác nhau. Đứng từ bên trong - trong những tình huống đơn giản - người ta có thể gọi tên nó bằng cách điểm đầu người: có thể gọi tên nó là “Anh, Tony, với tôi nữa”. Khi nó đã vững vàng và tương đối ổn định về mặt nhân sự, nó sẽ gọi chính mình là “chúng ta”. Khi phải đột ngột mở rộng để ứng phó với tình huống khẩn cấp, nó sẽ gọi chính mình là “Tất cả những người có hiểu biết ở đây”. Đứng từ bên ngoài, nếu các em chỉ mong có chân trong trật tự ấy, các em sẽ gọi nó là “cái hội ấy” hoặc “họ” hoặc “x và hội của anh ta” hoặc “hội kín” hoặc “Vòng Trong”. Nếu đang được cân nhắc để đưa vào hội, ta sẽ không gọi nó bằng tên gì hết. Bàn về hội với người đứng ngoài rồi cũng chỉ khiến chính ta cảm thấy ta cũng đang đứng ngoài. Và hoạ có điên ta mới nhắc tên hội ấy trong lúc trò chuyện với người đã sẵn đứng trong hội, với người mà sẽ chiếu cố ta nếu cuộc trò chuyện này cứ diễn ra suôn sẻ.
Tôi tả còn vụng, nhưng tôi tin các em đều nhận ra cái mà tôi đang nói đến. Không cứ phải phục vụ trong quân đội Nga hay quân đội nào hết, các em đều đã chứng kiến hiện tượng Vòng Trong này rồi. Ở trường nội trú, các em phát hiện ra, về cuối kỳ học đầu tiên, rằng ngay trong ký túc mình đang sinh sống là một vòng tròn như thế. Rồi khi đã leo lên và đến gần với vòng tròn ấy rồi, các em có khi lại phát hiện ra một vòng tròn khác, sâu hơn nữa bên trong. Bản thân vòng tròn này lại vẫn chỉ nằm bên rìa của một Vòng Tròn Trường khác, một Vòng Tròn Trường gồm các nhân vật tai to mặt lớn mà các vòng tròn ký túc chỉ là vệ tinh thôi. Có thể Vòng Tròn Trường này còn có liên lạc gì đó với Vòng Tròn Các Thầy nữa kia. Tức là các em đang bóc dần từng lớp trên củ hành tây. Và ở đây nữa, ở trường đại học này mà các em đang theo học: tôi có lầm không nếu cho rằng, ở đúng giây phút này và ngay trong khán phòng này đang tồn tại một vài vòng tròn - hoặc chúng là các hệ thống độc lập, hoặc là các vòng tròn đồng tâm - mà mắt tôi không nhìn thấy được? Tôi đảm bảo với các em rằng, ở bất cứ bệnh viện, trường luật, giáo phận, trường học, doanh nghiệp hay trường đại học nào các em cập bến sau khi tốt nghiệp, cũng sẽ tồn tại các Vòng Tròn này - các vòng tròn mà Tolstoi gọi là các hệ thống thứ hai, không thấy ghi.
Những điều trên đã quá hiển nhiên rồi; chỉ có điều tôi không chắc các em có thấy điều tôi sắp sửa nói đây cũng hiển nhiên tương tự hay không. Tôi tin rằng một trong những nhân tố chủ đạo của đời người vừa là ham muốn được ở trong Vòng Tròn đang hiện diện quanh đời ta, vừa là nỗi sợ bị bỏ ngoài vòng tròn ấy. Điều này đúng với mọi lứa tuổi, từ thời ấu niên cho đến khi rất cao niên rồi; ở mọi thời kỳ lịch sử, nó ít nhất sẽ đúng với nhiều người, thậm chí ở một số thời kỳ nó còn đúng với tất cả. Một hình thái của ham muốn này thực chất đã được văn học xử lý rất kĩ: đó là sự hợm hĩnh. Văn học hư cấu thời Victoria có đầy những nhân vật đến phát điên vì muốn bước vào cái vòng tròn mang tên Xã Hội Thượng Lưu. Đương nhiên chúng ta phải hiểu “Xã Hội Thượng Lưu” theo đúng nghĩa của nó: xã hội ấy thực chất chỉ là một trong hàng trăm Vòng Tròn và do đó thói hợm hĩnh chỉ là một hình thái của ham muốn được ở bên trong. Nhiều người tin mình không luỵ vào thói hợm (và quả thật không luỵ vào thói ấy) - nhiều người đọc các tác phẩm châm biếm tật hợm hĩnh trong sự bình tâm của con người cao thượng: nhưng chính họ có khi lại bị tiêu nuốt vì thèm muốn ở một hình thái khác. Họ có khi lại bị giày vò bởi ham muốn được bước vào một Vòng Tròn hoàn toàn khác, nơi họ miễn dịch với cám dỗ của đời sống thượng lưu. Với kẻ đang đau khổ vì bị bắt phải đứng ngoài một tổ nghệ sĩ hay tổ cộng sản nào đó, thì dẫu là lời mời của một bà quận chúa đi nữa cũng không an ủi anh ta được bao nhiêu. Tội nghiệp chưa: anh ta không muốn những đại sảnh đèn sáng tưng bừng, không muốn sâm banh hay nghe kể xấu về các nhà quý tộc, các ông bộ trưởng. Cái anh ta muốn là cái khác kia: một gác hay một căn phòng vừa nhỏ vừa thiêng liêng, những cái đầu chụm vào nhau, làn khói thuốc và ý thức ngọt ngào rằng chúng ta - đám bốn, năm người đang châu đầu bên cái lò này - là những người thật sự biết. Thường ham muốn này che giấu chính mình giỏi tới mức ngay cả khi nó được thoả mãn, chúng ta cũng chưa nhận ra mình đang hưởng những khoái lạc từ sự thoả mãn đó. Một người không chỉ thuyết phục vợ, anh ta còn thuyết phục bản thân, rằng công việc vất vả đến nỗi anh phải ở lại văn phòng hay trường học sau giờ để xử lý một công việc quan trọng - công việc mà anh đã trót vướng phải vì chỉ có anh, một anh Ất anh Giáp nào đó cùng hai người nữa là biết công việc thực sự vận hành như thế nào. Nhưng có phải thế đâu. Việc sau giờ ấy là việc chán mớ đời; có gì thú vị đâu khi Smithson Phệ kéo anh ta ra một góc và thì thầm “Anh ơi, phải để anh giám khảo kỳ thi tới thôi” hoặc “Charles với tôi nhất trí với nhau là anh phải có chân trong uỷ ban ấy”. Chán mớ đời … ừ, nhưng đáng sợ hơn biết bao nhiêu nếu phải đứng ngoài, đúng không? Mới thật mệt mỏi, mới thật thiếu lành mạnh làm sao khi mất toi chiều thứ Bảy; nhưng rảnh rỗi chiều thứ Bảy chỉ vì chúng ta không quan trọng thì còn tồi tệ hơn biết bao lần!
Freud thì sẽ cho rằng đây là ẩn ức tình dục được nguỵ trang. Nhưng biết đâu thực tế lại hoàn toàn ngược lại: biết đâu bao nhiêu người đã chẳng mất trinh vì tôn thờ Venus thì ít mà vì cám dỗ của các hội nhóm thì nhiều. Bởi dĩ nhiên rồi, khi lang chạ đang là mốt, thì những người trinh bạch sẽ là những kẻ đứng ngoài. Họ đang không biết thứ gì đó mà những người khác biết. Họ chưa được kết nạp. Còn về những vấn đề nhẹ nhàng hơn thì chẳng kể nữa: số người cũng vì lý do tương tự mà hút điếu thuốc đầu tiên hay uống say lần đầu tiên hẳn cũng lớn lắm.
Giờ tôi sẽ đưa ra một phân biệt. Tôi không cho sự tồn tại các Vòng Trong là điều xấu đâu. Có các vòng tròn này là điều không tránh khỏi. Thảo luận riêng tư là thứ phải có, và nếu tình bạn có nảy sinh giữa những người làm việc cùng nhau thì đó cũng không phải điều xấu. Thậm chí bản thân sự nảy sinh tình bạn ấy còn là điều tốt. Hơn nữa, ở bất cứ tổ chức nào cũng vậy, trật tự chính thức có lẽ không thể trùng khớp với cơ chế vận hành trên thực tế của tổ chức ấy. Nếu những người khôn ngoan nhất, năng nổ nhất luôn giữ các chức vụ cao nhất thì hai trật tự này có thể trùng khớp. Nhưng vì điều kiện này thường không được thoả mãn, cho nên chắc chắn có nhiều người tuy giữ chức vụ cao nhưng thực ra lại là gánh nặng, trong khi nhiều người tuy giữ chức vụ thấp hơn nhưng lại đóng vai trò quan trọng hơn là cấp bậc và thâm niên của họ dễ khiến ta lầm tưởng. Theo đó thì hệ thống thứ hai, hệ thống không thấy ghi, tất yếu phải phát sinh thôi. Nó là thứ cần thiết; thậm chí tôi không cho nó là một “điều xấu bất đắc dĩ” đâu. Tuy nhiên khao khát được bước vào Vòng Trong lại là một câu chuyện khác. Một thứ có thể là trung tính, nhưng ham muốn dành cho nó lại là thứ nguy hiểm. Như Byron ngày xưa đã nói
Ôi của thừa kế đúng là của ngon ăn
thật là của trời cho, khi bà cô mãi mãi nằm.
