2. Phân tâm học và phê bình văn học - Tiểu luận đọc ở Westfield College, 1941
Đôi khi tôi không thể tự ngăn tôi nghĩ rằng lối nghĩ kiểu Freud thực chất là một trường phái của thói vờ vịt và đạo mạo giả vờ. Chúng ta “bị sốc” trước diễn giải của họ ư? Chỉ vì ghê tởm thu mình trước các ham muốn bản thân mà chúng ta cự tuyệt cách kiến giải họ đưa ra đó sao? Tôi thấy thật vớ vẩn. Đương nhiên tôi chỉ nói được cho giới tính và tầng lớp của tôi; và tôi phải công nhận là các quý bà thành Vienna từng tham vấn Freud, nếu không phải là những bà trong trắng thì cũng là những bà ngốc nghếch hơn thứ người như tôi. Nhưng tôi tự tin khẳng định rằng, trái với những gì lý thuyết trên dự đoán, không những tôi mà bất cứ người nào tôi gặp cũng không lên cơn tởm lợm đến mức co rụt lại khi chúng tôi đối diện với kiểu hiện tượng tình dục như trên. Đây tôi không nói chuyện luân lý nhé. Dĩ nhiên là đứng trước một số hướng suy nghĩ hay một số hành động nhất định, một người có thể có đầy đủ lý do để ngăn chặn chúng. Nhưng đây là chuyện khác xa với phản ứng kinh hãi. Thậm chí một người như thế còn run rẩy đợi đến một ngày kia khi anh ta bị sốc thật sự, khi một tia sáng (bây giờ chưa rọi đến) sẽ cho anh ta thấy rằng cái mà giờ này vẫn là bình thường và quen thuộc với con người tự nhiên của anh ta, lại thực chất là tối tăm, tối tăm trong bản chất. Đương nhiên, các thói biến thái của ấu niên sẽ thuộc về một phạm trù khác hẳn với các bản năng bình thường của người lớn. Nhưng đến như các thói biến thái ấy cũng chưa chắc đã gây sốc cho chúng ta như nhiều người khẳng định. Thái độ của chính Freud trước các ham muốn biến thái trên há lại không giống một cử chỉ được ông diễn trước bàng quan thiên hạ hay sao? Ông vẫn chưa ý thức đầy đủ rằng với chúng ta, chẳng có gì gây kinh ngạc một khi nó là một phần của chúng ta rồi. Suum cuique bene olet …[1] Tôi đã bình thản ngắm nguyên một chiếc móng tay của tôi tàn rồi rụng - thứ mà nếu tôi chứng kiến ở người khác thì tôi hẳn đã rợn người. Ở đây cũng thế, chúng ta không phải vì bị sốc mà đi đến cự tuyết lý thuyết phân tâm về thi ca. Thậm chí trong chúng ta không hề có một lo lắng mơ hồ hay một sự ngần ngại khó đặt tên nào. Cảm giác của chúng ta, chính xác mà nói, là thoái trào, là bực dọc. Ở đây không phải là ta vén tấm rèm hoa và phát hiện con bọ đuôi kìm đằng sau; mà là vén tấm rèm lên, mong sẽ tìm thấy một chái nhà chưa phát hiện nhưng lại chỉ phát hiện một cánh cửa dẫn vào phòng ăn vốn đã quen thuộc. Muốn diễn đạt đúng cảm nghĩ lúc bấy giờ, ta không thể dùng câu “Không phải cái này!” Muốn cho đúng thì phải dùng câu “Ôi, có thế thôi à?”
Đương nhiên, đại khái mà nói, chỉ vì một phát hiện gây thất vọng thôi thì từng đó chưa đủ đưa đẩy chúng ta đến kết luận rằng phát hiện ấy sai. Nhưng ở riêng vấn đề này thì có, bởi cái ta đang bàn là ham muốn, thoả mãn và bất mãn. Nếu ta thất vọng vì chỉ tìm thấy tình dục trong khi ta còn muốn một cái gì hơn nữa, thì cái hơn nữa ấy hẳn cũng mang một giá trị nào đó chứ? Nếu ta thấy có chút mất mát khi đánh đổi toàn bộ khu vườn để nhận về có cơ thể người nữ mà thôi, thì rõ ràng khu vườn không chỉ có giá trị nguỵ trang mà nó còn thêm một điều gì đó tích cực vào lạc thú của chúng ta. Cứ cho là cái đứng sau khu vườn thực chất là cơ thể đàn bà đi; nhưng chính vì việc loại bỏ khu vườn đã làm giảm giá trị trải nghiệm đọc, cho nên phải nhìn nhận rằng hình ảnh cơ thể người nữ đã có thêm sức mạnh nhờ được liên hệ với khu vườn. Lấy khu vườn đi, chúng ta không chỉ vén bỏ tấm màn, mà loại bỏ nhiều trang sức. Đối diện với cái được cho là nguyên tác (cơ thể đàn bà), chúng ta vẫn thích bản dịch hơn - và từ đó, bất cứ tay phê bình nào cũng phải kết luận rằng bản dịch có những giá trị của riêng nó. Có lẽ không nên dùng cụm từ “thích hơn”. Chúng ta muốn cả hai. Thi ca không phải là thứ thay thế được thoả mãn tình dục, và lạc thú tình dục cũng không thay thế được thi ca. Và nếu vậy thì lạc thú của thi ca không thể nào chỉ là lạc thú tình dục được nguỵ trang. Bét nhất nó cũng phải là lạc thú tình dục cộng thêm một thứ khác, và chúng ta muốn thứ khác ấy vì giá trị mà nó độc lập có.
Giờ tôi muốn hướng sự chú ý của quý vị về một mảng bằng chứng mà mọi người thường bỏ qua. Romance of the Rose [Truyện bông hồng] thoạt đầu tưởng như một ví dụ minh hoạ lý tưởng cho học thuyết tượng trưng của Freud, bởi trong đó chúng ta không chỉ đọc thấy một mảnh vườn mà về một nụ hồng nữa - cái mà trong suốt nửa thứ hai của bài thơ sẽ mang đúng “nghĩa” mà Freud hẳn muốn. Thế nhưng quy trình ở bài thơ này lại đi hoàn toàn ngược lại. Tác giả và độc giả khởi đầu bằng cách hướng sự chú ý vào chất liệu tình ái, rồi sau đó lại cố tình diễn đạt nó bằng biểu tượng. Biểu tượng không che giấu, cũng không được dùng với dụng ý che giấu: chúng phơi bày ra. Truyện Romance này có thể là bằng chứng cho thấy vườn và nụ hồng là các biểu tượng xuất sắc để ám chỉ những thứ Freud đã đề cập. Thế nhưng tại sao biểu tượng được sử dụng cơ chứ? Rõ ràng là vì loài người, khi so sánh trải nghiệm luyến ái với vườn và hoa, còn có một động cơ nào đó bên cạnh việc che giấu; là vì trải nghiệm luyến ái, khi được so sánh như vậy, sẽ trở nên thú vị hơn; là vì trải nghiệm ấy vay mượn sức hấp dẫn từ hoa, chứ không phải ngược lại. Tình huống này rất hay gặp. Ở nhiều bài ai ca thể hiện bộc trực ham muốn tham lam và không hề lý tưởng hoá của mình, chính Donne cũng phát hiện ra rằng ông có thể nâng tâm bài thơ bằng cách so sánh người tình của mình với trái đất hoặc với một phong cảnh nào đó. Burns nói rằng tình yêu của ông như một bông hồng, hồng thắm. Các hiện tượng này, nếu nhìn ẩu thì tưởng là bằng chứng củng cố quan điểm của Freud, nhưng thực chất lại bác bỏ nó. Nếu suy nghĩ về tình ái ở Romance vay mượn sức hút thi từ từ khu vườn, thì tại sao khu vườn ở Paradise Lost lại phải vay mượn sức hút thi từ từ suy nghĩ về tình dục? Ở tầng ý thức, tình dục không muốn che giấu, nó muốn trang sức cho mình bằng các hình ảnh vay mượn từ vườn cây vườn hoa. Và đã là đồ trang sức thì tự nó đồ trang sức phải đẹp. Một chuỗi hạt trai được đeo lên cổ người đàn bà vì ta thấy ngọc trai đẹp. Nếu ta thấy chỉ có đàn bà là đẹp thôi, ta sẽ không làm đẹp cho họ nữa. Sẽ không tồn tại một chất liệu nào cho ta làm việc đó.
Nói từng ấy là đủ đánh dạt các môn đệ của Freud và cứu lấy văn học. Muốn lý giải chính các biểu tượng mà họ khăng khăng là được văn học sử dụng, chúng ta phải đi đến kết luận cho thấy loài người quan tâm đến nhiều thứ chứ không chỉ tình dục. Kết luận này mới chỉ là thắng lợi mở đầu thôi. Một khi đối phương thừa nhận rằng niềm vui đọc chúng ta có được từ chương Bốn của Paradise Lost là một kết hợp; trong đó không chỉ có sở thích tình dục ẩn giấu mà có cả vui thú với vườn tược, thì không ai còn có thể nói một cách tiên nghiệm là trong kết hợp trên tỉ lệ giữa hai yếu tố là bao nhiêu. Ngay cả khi ai đó chứng minh được ham muốn tình dục ẩn giấu chiếm 90 còn mối quan tâm dành cho vườn tược chỉ là 10, thì cái 10 ấy vẫn là lĩnh vực của riêng phê bình văn học. Là bởi cái 10 ấy là cái phân biệt bài thơ này với bài thơ khác, trong khi cái 90 còn lại chỉ là một tiếp diễn đơn điệu bên dưới mọi hoạt động đọc của chúng ta và chẳng cho chút cơ sở nào để vạch ra những phân biệt (mà chúng ta trên thực tế có vạch ra) giữa buồn tẻ và tươi mới, nhàm chán và hấp dẫn, xấu xí và tốt đẹp. Chúng ta phải nhớ rằng, theo quan điểm của Freud, câu chuyện về con rồng hái trái táo ban cho sự bất tử ở tận cùng thế giới, với giấc mơ mình đang hí hoáy viết thì ngòi bút đâm toạc tờ giấy, thực chất chỉ là một câu chuyện. Nhưng với tư cách văn chương thì chúng không phải là một đâu.
Vừa rồi là các luận cứ tôi dùng để chống lại lý thuyết phân tâm về văn học ở hình thái cực đoạn nhất của lý thuyết ấy. Nhưng bên cạnh hình thái cực đoan này còn có một cách lý giải nhân bản và văn minh hơn rất nhiều cho myth và các hình ảnh. Đây là lý giải mà Jung đã đưa ra; học thuyết của ông đã được cô Bodkin và ông Tillyard trình bày lại dưới ánh sáng phê bình mà tôi đọc thì thấy cuốn lắm. Thậm chí tôi còn đôi lần ăn nói theo lý thuyết ấy. Ta có thể gọi nó là học thuyết về các Hình Ảnh hay Mô Hình Nguyên Mẫu.
Jung cho rằng[2] bên cạnh vô thức cá nhân, còn có một vô thức tập thể chung cho cả loài người, thậm chí (ở mức độ nào đó) chung cho toàn bộ giới động vật. Vì phổ quát như thế, cho nên vô thức tập thể này đã định sẵn các phản ứng mà tinh thần hay tâm hồn chúng ta đưa ra khi nó đứng trước những tình huống phổ quát nhất. Vì nó rất nguyên thuỷ, nên vô thức này là vô thức tiền-logic. Phản ứng của nó không thể diễn đạt bằng suy nghĩ, mà bằng hình ảnh. Các myth, hoặc ít nhất là các myth lớn và lâu đời, là những hình ảnh mà chúng ta mót được từ vô thức tập thể này. Cách mà các myth này cảm động cũng ta - sự cảm động mà Jung rõ ràng đã trải nghiệm ở mức rất cao - được ông giải thích như sau.
“Nếu tinh thần trên-cá-nhân này tồn tại thì bất kể thứ gì được dịch sang ngôn ngữ hình ảnh của nó sẽ được phi cá nhân hoá. Và một khi chúng đã đi vào miền ý thức của ta thì với ta chúng có giá trị phi thời gian. Nỗi buồn không còn là của tôi, mà buồn đây là của thế giới. Không còn nỗi đau riêng lẻ của cá nhân, mà một nỗi đau không đi kèm cay đắng, một nỗi đau hiệp một cả loài người. Ích lợi của những điều này với chúng ta là thứ không cần chứng minh nữa.”[3]
Các bạn sẽ hiểu ngay là Jung, khi viết câu trên, đang tập trung vào các phản ứng tập thể (được biểu đạt bằng các myth bi tráng) khi con người đứng trước những tình cảnh đau thương. Để hoàn thành luận cứ của ông, chúng ta nên thêm một lời giải thích tương đương cho các myth vui vẻ. “Đây không phải niềm vui riêng tôi, mà là niềm vui của thế giới rồi”, đại loại thế.
Điểm đáng nói nhất về lý thuyết này là phản ứng mạnh mẽ mà nó khơi gợi trong người nghe. Chưa cần xét giá trị khoa học của nó làm gì vội: có người vừa nghe mà đã bị đẩy ra ngay. Họ thấy như đang bị đám ác điểu dẫn dụ, bị các nhà thần bí thôi miên; họ đứng lưng chừng giữa sợ hãi và khinh bỉ. Họ cố gắng bằng mọi giá phải đứng ngoài vòng tròn phép thuật, phải trung thành với các hệ mỹ học hiện đại, ý thức về vị thế của mình và tự lấy mình làm cơ sở cho mình. Những người khác thì bị dẫn dụ ngay, một cách đột ngột không kém. Bao nhiêu nỗi chờ đợi nửa ý thức, nửa vô thức từng hình thành trong họ khi họ đứng trước tác phẩm nghệ thuật lớn, giờ đây như được thoả mãn. Trái tim họ đứng về phía lý thuyết này trước khi khối óc họ kịp xem xét nó. Tôi phải nói luôn: cứ tính khí tôi mà xét, tôi thuộc về loại thứ hai, nhưng nhờ giáo dục mà tôi đã học cách thông cảm một chút với nhóm thứ nhất. Nhờ được dạy bảo và rèn luyện, tôi đã học cách không vội vàng kết luận về giá trị khoa học của tiểu luận “Mình and the Earth” của Jung. Nhưng tôi phải nhìn nhận ngay: dẫu thất bại về mặt khoa học đi nữa thì đây sẽ vẫn là một áng văn xuất sắc.
Và điều này sẽ đưa ta đến điểm quan trọng nhất: phân tâm chính phân tâm học - nói không ngoa là như vậy. Đương nhiên, phép siêu phân tích này cũng nên bị giới hạn như Freud đã đặt giới hạn cho phân tích của ngài về huýt sáo. Tôi sẽ không động đến “những người thật sự biết khoa học”, mà chỉ chạm đến số đông những người bình thường đọc sách phân tâm một cách sốt sắng và chịu ảnh hưởng của thứ sách ấy. Không nghi ngờ gì nữa: với những người ấy, bản thân phân tâm học giúp họ thoả mãn nhiều nhu cầu cảm xúc rất lớn. Tôi vừa phát biểu lý thuyết của Jung theo ngôn ngữ trung tính nhất và ít khơi gợi nhất tôi tìm được. Giờ chúng ta hãy xem nó xuất hiện ở hình thức nào trong tiểu luận “Mind and the Earth” nhé.
“Chúng ta cần xem xét những khởi đầu và cơ sở của thần trí, những thứ đã bị chôn sâu từ thuở xa xưa không ai nhớ nữa … cần trả lời câu hỏi chưa ai ngờ tới, “Liệu vô thức có giấc mơ của riêng nó không?” … có lần ra được kết quả của những quá trình thâm sâu hơn, vô thức hơn nữa không (nếu được)? … phiêu lưu quá … cái thần trí này, thần trí cao tuổi này … nhà duy lý có thể cười, nhưng có gì đó sâu bên trong chúng ta đang cựa quậy … Những hình nền ở xa, những ý niệm cổ xưa nhất … được truyền lại từ thời xa mờ của quá khứ … Tôi đã nhận thấy, dù tôi cho phép lý trí nắm bắt những điều này, song chúng không hề hao hụt đi giá trị của mình. Trái lại, sự nắm bắt đó không những giúp chúng ta cảm nhận, mà còn giúp ta hiểu ý nghĩa rộng lớn của các hình ảnh ấy … Điều Faust nói không hề trống rỗng “Các mẹ! Các mẹ! Nghe mới thật lạ làm sao”.
Xin đừng ngờ tôi đang cười cợt Jung. Thú thực, phản ứng tức thời của tôi với các chi tiết trên chỉ có thể được diễn đạt bằng câu “Huy hoàng thay!” Agnosco veteris vestigia flammae![4] Cái gì đó mờ xa, được chôn giấu ở dưới sâu từ thời cổ xưa, cái gì đó trước nay cựa quậy bên dưới bề mặt đang bước vào sự sống, và cuối cùng cũng xuất hiện. Tôi đồng cảm với chàng Schliemann, người tin rằng mình tìm được hài cốt của Agamemnon, đức vua của loài người. Tôi đồng cảm với Collingwood, người tìm thấy trong các truyện Arthur vài tiếng vọng của dăm sự kiện có thật trong quá khứ u minh của lịch sử Britain. Lòng tôi ở cùng Asia trong Hồi Bốn vở Prometheus; nó theo giấc mơ nàng đi xuống, đi xuống tận hang Demogorgon. Lòng tôi ở cùng Wordsworth khi ông xa xuống thật sâu, bước vào những miền mà “tầng trời của các tầng trời chỉ là tấm màn che đậy”; ở cùng với Alice, cô bé tìm thấy cánh cửa đằng sau tấm rèm mà em không bước qua được song lại dẫn đến khu vườn đẹp. Tôi đồng cảm với chính tôi ngày xưa, hồi tôi còn bé và mơ về căn phòng bỏ quên, căn phòng chưa ai khám phá. Tâm tình tôi khế hiệp với những người tin người Britain là hậu duệ Israel, với các môn đệ của Bacon và các sử gia nghiên cứu Atlantis, với các pháp sư thời Phục Hưng và những ai đi tìm thượng nguồn sông Nile. Tức là tôi khoái món này lắm. Nhưng tôi muốn nói thế này: thuyết minh của Jung về “các hình ảnh nguyên thuỷ” tự nó lại đánh thức một hình ảnh nguyên thuỷ về mạch nước đầu tiên, và Archetypal Patterns của cô Bodkin[5] tự nó lại là một “hình ảnh nguyên mẫu” có sức mạnh vô cùng.
Các bạn nhận ra hình ảnh ấy là gì rồi. Đây là Nguyên Tắc về sự Tìm Lại, đây là Isis Mang Mạng Che, Cánh Cửa Bị Khoá, đây là hình ảnh về mất và tìm lại được. Các môn đệ của Freud đã viện dẫn sự tò mò tình dục tuổi ấu niên để giải thích hình ảnh này - và tôi quả đã từng thấy Alice và cánh cửa giấu kín được giải thích theo cách này. Nhưng chúng ta không cần bận tâm đến họ. Có thể sự tò mò ấy, trong cuộc đời mỗi chúng ta, là hiện thân sớm nhất của hình ảnh này. Thế nhưng về sau chúng ta đã học cách yêu thích nó ở các hình thái vừa sinh động vừa đỡ hiển nhiên hơn, bởi cơn khát mà nó khơi dậy trong ta không thể đáp ứng được bởi “những khe nước đã cạn” ấy nữa. Quả thật, hình ảnh này sẽ tất yếu là hiện thân cho nhiều đặc tính phổ quát trong trải nghiệm tôn giáo, tri thức, thẩm mỹ và tình dục của chúng ta.
Sự có mặt của hình ảnh nguyên thuỷ trong quy trình phân tâm giải thích được tại sao phân tâm lại được ưa chuộng đến thế; đến như phân tích của Freud cũng đánh thức hình ảnh này. Về khía cạnh này, quả thật phân tâm học đã chữa lành nhiều vết thương mà chủ nghĩa duy vật gây ra. Nhìn chung, cứ khi nào chúng ta tin sắp sửa bước vào một chiều sâu vô tận của hiện thực thì chủ nghĩa duy vật cho ta đi thêm vài phân nữa để rồi bắt gặp một bức tường. Phân tâm học cho ta chút chiều sâu đã mất: vẫn còn nhiều thứ ẩn giấu sau bức tường nữa. Thế nên những ai đã nếm biết nó đều thấy bị cướp mất điều gì nếu chúng ta cố giằng nó ra khỏi họ.
Chính khả năng cảm động lòng người của tiểu luận trên là một bằng chứng cho thấy Jung đã đúng khi ông cho rằng một số hình ảnh, bất luận chúng hiện thân trong chất liệu nào, có sức mạnh kích thích đặc biệt với tâm trí con người. Câu nào ông viết cũng góp phần chứng minh điều này. Nhưng đồng thời chúng ta thận trọng với lý giải của Jung; là bởi có nhiều cơ sở cho thấy luận cứ của ông thuyết phục không phải vì lý lẽ của ông thuyết phục, mà là vì những cảm xúc mãnh liệt nó khuấy động. Phải chăng Jung đã đưa tinh thần chúng ta vào một trạng thái; ở trạng thái ấy, tính chất mờ mịt, xa xôi, được chôn giấu từ lâu và huyền bí của bất cứ điều gì cũng tưởng chừng là đủ để giải thích cho hiện tượng “máu xông” khi chúng ta đứng trước myth lớn?
Để xét điểm này, ta hãy diễn xuôi nó bằng một thứ văn điềm tĩnh. Chúng ta muốn biết tại sao một số hình ảnh lại gây nhiều kích thích. Jung trả lời: Vì chúng là những hình ảnh cổ xưa; vì khi nghiền ngẫm các hình ảnh ấy, chúng ta cũng đang làm điều mà các tổ phụ tiền sử của chúng ta từng làm. Tôi chỉ thấy một điều thế này. Một hình dung trong đó chúng ta thực hiện điều này là một hình dung gây nhiều kích thích, cũng giống như bao hình dung về thời cổ xưa. Thế nhưng hình dung hay ý niệm này không nhất thiết phải thường trực trong đầu một người vào khoảnh khắc mà anh ta phản ứng với một myth. Có thể anh ta còn chưa đọc về lý thuyết của Jung; anh ta có khi còn tin mình đang ngâm ngợi một thứ gì đó rất mới. Có thể anh còn không thắc mắc myth này đã được bao nhiêu tuổi. Nhưng anh sẽ phản ứng với myth đó. Nếu Jung nói đúng, thì một người phản ứng được với myth không phải do anh ta mường tượng bản thân đang thực hiện những gì mà các tổ tiên xa xưa từng thực hiện. Lý do có phản ứng ấy thực chất nằm ở việc anh ta thực hiện những điều đó, bất kể anh có ý thức về việc này hay không. Nhận ra rằng chúng ta đang tái hiện hành vi tiền sử khi phản ứng với myth: đây là một suy nghĩ gây kích thích, gây ấn tượng. Thế nhưng ngoài nó ra thì không có bằng chứng nào cho thấy việc tái hiện hành vi tiền sử tự nó có gì gây kích thích hay gây ấn tượng. Khi triển khai các chức năng động vật cấp thấp nhất, chúng ta cũng tái hiện các hành vi cổ xưa nhất đó thôi. Khi gãi ngứa, chúng ta là một với các cha ông tiền-Adam; và dù tôi không hề có ý xem thường những khoái lạc của cái gãi thật sự đã ngứa, tôi vẫn thấy chúng rất khác khoái lạc của một bài thơ hay. Đương nhiên là ngay cả việc gãi ngứa cũng sẽ trở thành thơ nếu chúng ta chọn suy ngẫm về tính chất cổ xưa của hành vi này; nhưng bấy giờ khoái lạc mà ta thu được không phải là khoái lạc của việc gãi (tức οἰκεία ἡδονή), mà là khoái lạc của một suy ngẫm vừa có tính thơ vừa có tính lịch sử. Tương tự, như tôi thấy, Jung vẫn chưa giải thích được tại sao ta vui sướng khi nghiền ngẫm về các hình ảnh nguyên thuỷ: ông mới chỉ diễn đạt được niềm vui sướng ấy thôi. Ông còn diễn đạt niềm vui sướng được mang lại bằng một hình ảnh nguyên thuỷ cụ thể[6]; tuy nhiên sự vui sướng ấy vẫn cần được giải thích, cũng như bao nhiêu khoái lạc hay vui sướng khác thôi. Nỗi buồn của ta là một phần của nỗi buồn thế giới: ở vào một số tâm trạng nhất định thì đây là một hình dung gây xúc động. Tuy nhiên không phải vì nhiều người trước ta đã từng bị đau răng mà cái răng của ta sẽ bớt đau đi được.
Tôi không trả lời được câu hỏi Jung đặt ra. Tôi chỉ có thể nói - và đến đây tôi lại cho phép mình lạm dụng một hình ảnh nguyên thuỷ - rằng bất luận người ta có đào sâu đến đâu, có thăm dò bằng những cây thước dài nhường nào, hay đi xa bao nhiêu vào hoang mạc, thì sự huyền hoặc của các hình ảnh nguyên thuỷ vẫn thâm sâu hơn, nguồn cội của chúng vẫn ở xa hơn, hang ổ của chúng vẫn kín giấu hơn và suối nguồn của chúng vẫn khó tìm hơn họ tưởng. Bởi nếu không thì tại sao tôi và mọi người vẫn còn được phép viết về chủ đề này?
[1] Ai cũng thấy rắm mình thơm.
[2] Contributions to Analytical Psychology, H. G. và C. F. Baynes dịch (Kegan Paul, London, 1928), “Mind and the Earth,” tr. 27 et seq. (NC)
[3] Jung, op. cit., tr. 108.
[4] Tôi nhận ra ngọn lửa tự ngàn xưa.
[5] Archetypal Patterns in Poetry. Maud Bodkin (London, Oxford University Press, 1934).
[6] Tức là làm điều mà các tổ phụ ta thường làm.
