favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

2. Hoa huệ tàn - Bài đăng tờ Twentieth Century, 1955

Tôi hẳn đã không trả lời ông Allen dài dòng đến thế (cả hai chúng tôi đều không phải những nhân vật đủ quan trọng để tôi phải nói dài đến vậy) nếu tôi không cho rằng cuộc thảo luận này sẽ dẫn đến một điều còn hệ trọng hơn nữa. Điều hệ trọng này, giờ tôi sẽ triển khai. Ông Forster lo lắng vì ông sợ chế độ thần quyền. Nếu ông nghĩ một chế độ thần quyền mai đây sẽ được thiết lập ở nước Anh hiện đại thì cá nhân tôi cho rằng ông hoang tưởng mất rồi. Nhưng tôi phải nói rõ một điều: vạn nhất ngày nào đó tôi thấy một chế độ thần quyền có thể sẽ thiết lập, tôi sẽ lo lắng không thua gì ông Forster hết. Tôi hoàn toàn tán thành với cách ngôn (mà ông đã mượn từ một ki-tô hữu khác): “Mọi quyền lực đều sa đoạ”. Tôi thậm chí còn đi xa hơn. Quyền lực càng đưa ra những khẳng định lên giời thì nó càng tọc mạch, áp bức và bất nhân. Thần quyền là thứ quyền lực xấu nhất trong các quyền lực. Mọi quyền lực chính trị, trong trạng thái tốt nhất đi chăng nữa, cũng chỉ là một cái xấu bắt buộc phải có. Và nó đỡ xấu nhất khi chúng ta dành cho nó sự chuẩn thuận nhỏ bé nhất, đời thường nhất, khi nó thoả lòng xem mình như một thứ có ích hoặc tiện lợi mà thôi, khi nó chỉ đặt ra cho mình những mục tiêu có giới hạn. Bất cứ yếu tố siêu nghiệm hay tâm linh, hay thậm chí nặng tính luân lý nào trong chương trình của nó, cũng sẽ là một yếu tố nguy hiểm. Yếu tố ấy sẽ tạo động lực cho nó can thiệp vào đời sống riêng tư của chúng ta. “Hỡi gã thợ giày, hãy chuyên tâm vào khuôn giày của anh đi”. Vì lý do này nên tôi thấy học thuyết về Quyền Lực Thánh Thần của thời Phục Hưng thực chất là chế độ quân chủ bị tha hoá. Ý Chí Tập Thể của Rousseau là chế độ dân chủ bị tha thoá. Các học thuyết huyền bí về chủng tộc là sự tha hoá của dân tộc tính. Tôi công nhận, thậm chí nhấn mạnh, rằng thần quyền là sự tha hoá tồi tệ nhất, mặc dù tôi không thấy chúng ta đứng trước nguy cơ đó. Cái mà tôi nhận diện được là một nguy cơ tuy đỡ xấu xí hơn một bậc, nhưng vẫn xấu xí theo cùng một cách. Tôi gọi nó là Tinh Hoa Trị; đây không phải là chế độ cai trị của các vị thánh, mà là của χαρίεντες, của venustiores, của Hotel de Rambouillet, của các Wits, của đám Polite, của các “Souls”, các “Apostles”[1], của những người Tinh Tế, của tầng lớp có văn hoá, của những người Đã Kết Nạp, hoặc một cái tên tân thời nhất. Tôi sẽ cho thấy tầng lớp này sẽ hình thành ra sao.

Các tầng lớp xã hội cũ đã tan rã. Có hai hệ quả. Một mặt, vì đa số người ta (như Aristotle đã nhận xét) không muốn bình đẳng với bao người khác, cho nên mọi người sẽ tụ lại với nhau thành các hội nhóm để thấy mình đứng trên số đông: đây là những tổ quý tộc tự phong, không chính thức. Những người có văn hoá đang tụ thành nhóm ngày càng lớn. Ta hãy lưu ý đến bình dân, thuật từ xã hội mà họ áp dụng cho những người không đồng ý với mình. Ta cũng hãy lưu ý điều ông Allen đã nói: nhiều người tuy nổi lên chống lại hoặc rời bỏ tầng lớp trí thức, song không hề chối bỏ phẩm chất trí thức mà chỉ khẳng định mình không phải “các nhà trí thức”. Họ không che giấu phẩm chất của mình mà chỉ không đồng ý với việc bị xếp vào một tầng lớp. Mặt khác - điều này tất yếu thôi - một tầng lớp cai trị mới đang hình thành: đây là tầng lớp Quản Lý. Sự liên hiệp của hai nhóm này - một bên là tổ quý tộc không chính thức và tự phong, bao gồm những người có văn hoá, với bên kia là các nhà cai trị của tầng lớp quản lý mới - sẽ đưa chúng ta đến chế độ Tinh Hoa Trị.

Hai nhóm này đang liên hiệp với nhau rồi, bởi giáo dục ngày càng được sử dụng làm phương tiện để tiếp cận tầng lớp quản lý. Và dĩ nhiên là về mặt nào đó, đây là phương tiện tiếp cận thích hợp: chúng ta không muốn nhà cai trị là những kẻ đần độn. Tuy nhiên giáo dục cũng đang dần có một ý nghĩa mới. Nó muốn và có thể gây một ảnh hưởng mà giáo dục (ngoại trừ giáo dục dòng Tên) chưa từng có với học sinh.

Ảnh hưởng thứ nhất, đó là ngày nay học trò mong manh hơn trước thầy giáo. Ngày càng có nhiều em xuất thân từ các gia đình thương gia và thợ thuyền vốn có ít hoặc không hề có sách vở trong nhà. Người học trò ngày nay gần như chưa bao giờ có thời gian một mình. Cỗ máy giáo dục gắp lấy em từ khi còn rất nhỏ và tổ chức toàn bộ cuộc sống của em. Nó loại bỏ những phút một mình và những lạc thú diễn ra mà không có giám sát từ bên ngoài. Những giờ đọc sách không bị ai chỉ bảo, thanh tra, thậm chí những giờ đọc lén lút; những giờ ngâm ngợi, những giờ “nghĩ thật lâu, thật lâu” mà nhờ đó các thế hệ may mắn hơn đã phát hiện ra văn chương, thiên nhiên và chính bản thân mình - tất cả đã thành dĩ vãng. Nếu một Traherne hay Wordsworth sinh phải thời nay, anh ta sẽ được “rèn” từ khi chưa đầy mười hai tuổi. Tức là học sinh thời nay là đối tượng lý tưởng cho những người thầy không thoả lòng với việc dạy một môn học không thôi mà còn muốn nhào nặn ra một tính cách. Các em là một thứ đất nặn không tự bảo vệ được mình. Vạn nhất (vì đã là bản tính thì sẽ khó dời) em có sức chống cự sự nhào nặn này, người ta sẽ có biện pháp làm việc với em. Tôi sẽ nói điểm này sau.

Thứ hai, tính chất của dạy học cũng đã thay đổi. Về mặt nào đó, nó đã thay đổi theo hướng tốt. Nó đòi hỏi nhiều hơn từ người thầy; đổi lại, nó làm cho công việc của thầy thú vị hơn. Dạy học đã trở thành một công việc gần gũi và nhiều tính thâm nhập hơn. Không những đảm bảo sao cho học trò đã đọc và nhớ văn bản, nó còn muốn dạy cho em cách cảm thụ văn bản đó. Vì mục tiêu này thoạt đầu nghe rất hữu lý nên sẽ ta sẽ có vẻ khắt khe nếu hục hặc với nó. Nhưng đúng là ở nó có một mối nguy. Ngày nay ai cũng cười vào đề thi thời xưa, vốn chỉ đặt các câu hỏi về bối cảnh và các thứ đại loại thế; họ đặt câu hỏi: “Một đề thi như thế thì có ích gì cho một em học trò?” Nhưng đòi hỏi tờ đề ấy giúp ích cho em học trò thì cũng như đòi cây nhiệt kế phải làm sao sưởi ấm được căn phòng. Đọc văn bản là việc giúp ích cho đứa trẻ; và chúng ta ra đề như thế là để kiểm tra nó đã đọc hay chưa. Chính vì bài kiểm tra ấy không bắt đứa trẻ phải tạo ra hoặc giả vờ có một phản ứng cảm thụ, nên nó lại cho em tự do để phát triển một cách tự động và riêng tư thứ cảm thụ mà em có thể phát triển, và em sẽ phát triển sự cảm thụ đó như một hoạt động ngoài giờ không bị chấm điểm. Cảm thụ là chuyện của riêng em với Virgil hoặc với Shakespeare. Mười trường hợp thì đến chín là không có gì xảy ra. Thế nhưng khi cảm thụ xảy ra (và chắc chắn đôi khi nó đã xảy ra) thì sự cảm thụ ấy là thật. Đó là cảm thụ phù hợp với tuổi và tính cách đứa trẻ; không phải kỳ trân dị thú gì, mà là một sinh vật phát triển lành mạnh trên thổ nhưỡng và khí hậu tự nhiên của nó. Nhưng một khi chúng ta thay thế các bài thi cũ rích và khô khan bằng các câu hỏi thuộc về “phê bình thực hành”, tình thế liền thay đổi. Đứa trẻ sẽ không được điểm cao (có nghĩa là về lâu về dài, nó sẽ không leo được vào tầng lớp quản lý) trừ phi nó đưa ra được đúng thứ phản ứng và đúng phương pháp phân tích vừa ý thầy. Cùng lắm, em học trò này cũng chỉ được rèn cho khả năng đoán trước các câu trả lời và học trước một phương pháp vốn không phù hợp với lứa tuổi của em. Trong trường hợp xấu nhất, em sẽ trau dồi được kỹ năng bắt chước các câu trả lời chính thống - một kỹ năng chẳng có gì khó lắm. Bởi trẻ con thì hầu hết đều giỏi bắt chước. Đây, còn anh còn em nhé: các bạn dạy chưa hết một kỳ mà bọn trẻ con trong khối đã biết rõ “trả lời thầy râu xồm mắt lồi thế nào là êm”. Ngày xưa bọn trẻ cũng biết trả lời thế nào “là êm” thôi, nhưng “êm” ấy là câu trả lời dành cho các câu hỏi yêu cầu thông tin. Muốn trả lời hai câu hỏi ấy, chỉ có hai đường: một là học, hai là gian lận.

Tình hình sẽ không tệ đến thế nếu câu trả lời của trò nào cũng phải khớp với câu trả lời của thầy nấy. Chúng ta thậm chí đã bỏ sau lưng giai đoạn đó rồi. Ở đâu đó (tôi chưa truy ra) hẳn còn có một văn phòng trung ương của các nhà truyền bá văn hoá, được giao trách nhiệm phát hiện những kẻ đi lệch chuẩn. Ít nhất cũng phải có một ai đó gửi tờ rơi cho các thầy, mỗi tờ in tầm chục bài thơ và chỉ ra những bài nào các thầy phải dạy cho học trò thích, và thích dựa trên cơ sở nào. (Thật là xấc xược! Những ông thầy như Boyer và Mulcaster sẽ đối xử với những tờ rơi này thế nào thì chúng ta biết rồi đấy.)

“Dưới chế độ đang hình thành, chỉ giáo dục mà thôi sẽ không đặt con người ta vào tầng lớp cai trị được.” Ý nghĩa của câu này không chỉ là nếu ai đó không nắm được một thứ kiến thức nào đó, không đạt đến được một năng lực trí tuệ nhất định, anh ta sẽ bị gạt bỏ. Nếu chỉ thế thôi thì cũng vẫn là phải chăng. Nhưng nó có thể dẫn đến một hệ quả khác; thậm chí đã dẫn đến rồi. Đó là người ta sẽ không thể bước vào tầng lớp đó mà không trở thành - hoặc không thể bước vào mà không khiến cho thầy mình tin là mình đã trở thành - một loại người nhất định, một người có các phản ứng thích hợp với các tác giả thích hợp. Tức là chúng ta chỉ có thể bước vào bằng cách trở thành có văn hoá (theo nghĩa hiện đại của từ này). Phải phân biệt tình cảnh này với một tình cảnh khác, trước đây đã xảy ra nhiều. Đa số các tầng lớp cai trị, chẳng chóng thì chầy và chẳng nhiều thì ít, sẽ phải học lấy văn hoá và bảo trợ cho các môn nghệ thuật. Nhưng khi điều này xảy ra, văn hoá là thứ kết quả từ vị thế của tầng lớp cai trị đó; nó là một đặc quyền, một thú xa xỉ của tầng lớp này. Còn tình huống mà chúng ta đang đối mặt là một tình huống gần như ngược lại. Được tham gia vào tầng lớp cai trị sẽ là phần thưởng của văn hoá. Và thế là chúng ta đến với Tinh Hoa Trị.

Điều này đâu chỉ có nhiều khả năng xảy ra; nó đã được lên kế hoạch và tuyên bố rồi đấy chứ đâu. Ông J. W. Saunders đã chẳng trình bày nó trong một bài báo xuất sắc nhan đề “Thi ca thời Quản Lý” (Essays in Criticism, iv, 3, tháng Bảy 1954). Trong bài báo ấy, ông đối diện với thực tế là các nhà thơ hiện gần như chỉ được đọc bởi các nhà thơ khác, và ông  tìm giải pháp. Đương nhiên, ông không khuyên đám thi sĩ nên ra tay khắc phục hiện trạng này, bởi toàn bộ văn hoá của thời chúng ta đã sẵn mặc định rằng bất cứ khi nào các nghệ sĩ và khán giả mất kết nối thì lỗi nằm ở bên khán giả hết. (Tôi lại chưa từng đọc cái tác phẩm vĩ đại chứng minh học thuyết quan trọng này.) Cách khắc phục, theo ông Saunders, là chúng ta phải cung cấp cho các thi sĩ một khán giả bắt buộc - một đặc quyền mà người cuối cùng được hưởng (theo tôi nhớ) là hoàng đế Nero. Ông giải thích cách thực hiện điều này. Chúng ta sẽ tuyển “người điều phối” bằng quá trình giáo dục; thành công trong thi cử là con đường dẫn vào tầng lớp cai trị. Do đó, cái ta cần biến thành xương sống của nền giáo dục không chỉ là thơ, mà còn cả “một lĩnh vực tri thức mà sự đọc thơ với óc phê phán có thể dung dưỡng”. Tức là môn phê bình văn học thực hành hoặc một thứ đại loại thế, áp dụng lên các nhà thơ hiện thời, sẽ trở thành một môn học bắt buộc. Trượt môn này là sẽ bị loại khỏi tầng lớp quản lý. Nhờ đó, các thi sĩ sẽ có được các độc giả bắt buộc. Mỗi em trai, mỗi em gái đều đứng trước hai lựa chọn: “Một là đọc các nhà thơ mà chúng ta, những người có văn hoá, đã phê chuẩn, và nhắc lại đúng những điều chúng ta nhận xét về họ. Hai là làm “prole”, dân đen.” Và (để nói nốt điểm trên kia) điều này cho ta thấy cách mà một chế độ Tinh Hoa Trị sẽ xử lý thiểu số các em học trò có thị hiếu riêng và không cam tâm làm đất sét mà thôi. Các em sẽ chịu điểm thấp. Ta sẽ đá các em khỏi cây thang giáo dục từ khi các em còn đứng ở bậc thấp. Các em sẽ biến mất, hoà vào dòng dân đen.

Cách làm này còn dẫn tới một lợi ích nữa. Không chỉ nhất thời mang đến cho thi sĩ một khán giả bắt buộc, chúng ta còn đảm bảo được rằng triều đại văn chương đang trị vì sẽ trị vì gần như mãi mãi. Là vì trong số những kẻ bị hất khỏi chiếc thang giáo dục sẽ có luôn những loại người gây phiền hà; chính những loại này, vào các thời trở về trước, lại thường hay khởi xướng các phong trào mới, trường phái mới. Giá như ở thời họ tồn tại một chế độ tinh hoa trị vững vàng, thì những chàng Chaucer, Donne, Wordsworth và Coleridge trẻ tuổi sẽ bị xử đẹp. Và thế là lịch sử văn chương như từ xưa đã có sẽ chấm dứt. Con người văn chương, vốn bao đời là một con thú hoang, sẽ trở thành một con vật thuần hoá.

Tôi đã cho thấy một chế độ Tinh Hoa Trị có thể hiện thực hoá ra sao. Để kết thúc, tôi sẽ giải thích vì sao tôi thấy nó không có gì hay ho cả.

Có văn hoá không phải là một tính chất hữu ích trong việc định nghĩa tầng lớp cai trị. Lý do là bởi nó không cho người ta tư cách cai trị. Những phẩm chất chúng ta cần ở nhà cai trị - lòng nhân, sự liêm khiết về tiền bạc, trí khôn thực tiễn, sự chăm chỉ, những thứ đại loại thế - không xuất hiện ở những người có văn hoá nhiều hơn bất cứ loại người nào khác.

Xét như điều kiện cho phép người cai trị người, có văn hoá và thánh thiện là hai điều kiện dở như nhau. Kiểu có văn hoá này có thể dễ tha thứ hơn kiểu ngoan đạo kia hoặc ngược lại; nhưng tất cả đều thảm hoạ như nhau. Một bên là kiểu người “tốt tuốt” - loại thanh niên nhu nhược chưa bao giờ biết chống lại hay vượt lên các lề thói ngoan đạo và các bậc tôn trưởng trong gia đình. Sự nhu thuận của anh ta làm đẹp lòng cha mẹ, đẹp lòng các bậc láng giềng có ảnh hưởng và cả lương tâm anh ta nữa. Anh ta không biết đời mình đã bỏ lỡ những điều gì; anh ta lấy đó làm thoả lòng. Còn ở bên kia là một thanh niên rất linh động. Với anh ta, thơ là một thứ gì đó đã được “lên chương trình” để chờ được “chấm”. Anh ta sung sướng khi làm giỏi việc này; và nhờ làm giỏi như thế mà anh ta tiến vào tầng lớp cai trị. Anh ta cũng chẳng biết mình đã bỏ lỡ điều gì. Anh ta không biết thơ còn có mục đích nào khác mục đích anh đã biết. Và anh lấy đó làm thoả lòng.

Cả hai loại người này đều đáng thương, và cả hai sẽ có những phút vô cùng xấu xí. Cả hai có thể để lộ ra tính ngạo mạn, nhưng mỗi anh sẽ ngạo mạn một kiểu; bởi anh này thì đã thành công nhờ vâng lời và dồn nén bản thân, còn anh kia lại thành công nhờ chiến thắng liên tiếp qua các màn trình diễn có tính thi cử. Để đặt tên cho sự kiêu căng ranh mãnh và bợ đỡ của anh thứ nhất, ta có thể dùng từ “smug” [tự đại] của ông Allen (lại càng hay nếu chúng ta tận dụng được một chút sắc nghĩa ngày xưa của từ này). Tính từ tôi dành cho trường hợp còn lại sẽ là “swaggering” [bặm trợn]. Theo những gì tôi đã mắt thấy tai nghe, đây là thứ tự đại thô bạo, hiếu chiến, ưa gây tổn thương. Nó đòi hỏi người ta phải khuất phục và nó đòi hỏi như thế đến không cùng. Nó thù ghét và luôn ngờ rằng kẻ khác dám không đồng tình với mình. Nếu người tốt tuốt kia tẩm ngẩm tầm ngầm, rón rén, ư ử và đôi khi cào như con mèo, thì kẻ đối lập với anh ta trong hàng ngũ những người có văn hoá sẽ quàng quạc như con gà tây nổi đoá. Mà có thể cả hai loại này còn khó chữa hơn là kẻ giả tạo thuần tuý. Ta có thể mường tượng một kẻ giả hình biết ăn năn và sửa đổi; nếu không, hắn có thể bị lột mặt nạ và vô hiệu hoá. Nhưng ai mang đến sự ăn năn, ai lột được mặt nạ những kẻ không thèm giả vờ, những kẻ không biết trên đời có cái gọi là thật, những kẻ sở dĩ không biết rằng mình là thứ không thật vì chúng không biết có thứ thật trên đời?

Đến đây - điểm cuối cùng - thì những lý lẽ tôi dùng để chống lại thần quyền hay tinh hoa trị cũng là một thôi. “Hoa huệ khi tàn còn thối hơn cỏ dại”: hứa hẹn của các nhà cai trị cao xa bao nhiêu thì sự thống trị của họ càng dễ tọc mạch, thày lay và thứ mà họ nhân danh để cai trị sẽ càng bị ô uế bấy nhiêu. Những thứ cao xa nhất lại là những thứ có rễ bám mong manh nhất trong bản chất con người. Biến sự thánh thiện hay văn hoá thành moyen de parvenir [đường tiến thân] chính là cách để loại bỏ chúng khỏi thế giới. Xin các ông chủ để yên ít nhất hai thứ này. Xin hãy chừa ra chút không gian để cái tự nhiên, cái không mua bán được, cái tuyệt đối riêng tư, còn có thể tồn tại được.

Theo tôi, “rút lui khỏi niềm tin vào văn hoá” như ông Allen nói thì vẫn chưa đích đáng. Tôi không muốn rút lui; tôi muốn tấn công; muốn nói là nổi loạn cũng được. Tôi viết là để kích động những người khác nổi loạn. Như tôi thấy, vấn đề ở đây không liên quan gì đến khác biệt giữa người Ki-tô và những người được gọi là “nhân bản”. (Cái tên “nhân bản” này hơi dở, bởi bản thân “nhân bản” trong nhiều năm tháng đã từng có một nghĩa hoàn toàn khác và thực sự ích dụng.) Xin đừng ai đi lạc ra khỏi đề; tôi tin nhiều người vô thần, nhiều người bất khả tri cũng nâng niu cùng những thứ tôi nâng niu. Viết những lời này là tôi viết cho họ đây. Tôi xin nói với họ: “niềm tin vào văn hoá” sẽ bóp chết những gì tôi và họ nâng niu, trừ phi chúng ta ra tay bóp chết nó trước. Chúng ta không có thì giờ để chần chừ đâu.

 

[1] Đây là tên của các hội nhóm tinh hoa (về chính trị hay nghệ thuật) từng có trong lịch sử.

Thêm vào giỏ hàng thành công