favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

1. Hoa huệ tàn - Bài đăng tờ Twentieth Century, 1955

Trong bài “Cambridge Number” đăng trên tạp chí Twentieth Century (1955), ông John Allen đã đặt câu hỏi vì sao nhiều người lại “cố chứng tỏ rằng họ không phải trí thức, rằng họ không hề có văn hoá” đến vậy. Tôi tự tin tôi biết câu trả lời, và tôi sẽ đưa hai trường hợp tương tự để dọn đường cho câu trả lời ấy.

Chúng ta đều biết những người giãy nảy khi nghe phải từ refinement, “nhã”, khi nó được dùng như một từ thể hiện ý khen ngợi của người đời. Đôi khi, để thể hiện là không thích từ này, những người này cố tình đánh vần nó thành refanement, ngụ ý rằng từ này phổ biến nhất ở những cái mồm ăn nói thô tục một cách bóng bẩy. Dù tán thành sự giãy nảy này hay không, tôi nghĩ tất cả chúng ta đều hiểu nguồn cơn của nó. Người giãy nảy ấy cảm thấy rằng tố chất trí óc và hành vi được người ta gọi là nhã sẽ khó xuất hiện nhất ở những người nhắm đến và nói nhiều về sự thanh nhã. Thực chất, khi những người thật sự nhã không cư xử hùng hổ, không khạc nhổ, chộp giật, lấn lướt, chửi bới, khoe mẽ hay thách thức người khác, họ không hẳn là đang tuân thủ một lý tưởng nào về sự tao nhã cả. Họ không coi các mô thức hành xử trên là có thể xuất hiện ở một con người; vạn nhất chúng xuất hiện thì sự rèn luyện và trí hiểu biết góp phần làm nên khái niệm thanh nhã đích thực sẽ lập tức loại bỏ chúng như những loại hành vi không thể chấp nhận được. Chúng sẽ bị loại bỏ mà không cần phải dựa vào bất cứ lý tưởng nào về hành xử, cũng như chúng ta loại quả trứng thối mà không cần biết tác động của nó lên dạ dày người là gì. Nhã[1] ở đây [theo nghĩa bị ghét] thực chất là cái tên đặt cho một kiểu hành vi bề ngoài. Nếu xuất phát từ trong, nó không còn là nhã nữa. Thậm chí nó sẽ không thành hình, không phải là một đối tượng của ý thức nữa luôn. Nó vắng mặt ở đúng nơi nó được nhắc đến nhiều nhất.

Tôi sẽ đưa ví dụ tương đương thứ hai, mặc dù nêu ví dụ này tôi có đôi điều miễn cưỡng. Tuy nhiên nó là ví dụ sẽ giúp chúng ta sáng tỏ, tôi không thể gạt đi được. Mộ đạo là từ rất hiếm gặp trong Tân Ước và sách vở của các nhà tư tưởng thần bí. Lý do đơn giản lắm. Những thái độ và hành vi mà chúng ta gom lại dưới cái tên mộ đạo lại gần như chẳng dính dáng gì tới mộ đạo hay tôn giáo thật sự cả. Người có mộ đạo, người tin kính, là người hướng sự chú ý của mình lên Chúa và lên những người xung quanh theo như cách mà mối quan hệ giữa họ và Chúa đòi hỏi. Vì thế, một người đang sống một cách có đạo lại không hề nghĩ đến mộ đạo. Anh ta không có thì giờ để nghĩ về nó. Mộ đạo là cái tên mà chúng ta hoặc bản thân anh ta - khi đã thực hiện xong công việc của kẻ sống có đạo - đặt cho hoạt động mà anh ta đã làm. Nó là cái tên đặt cho hoạt động khi người ta đứng ngoài hoạt động ấy.

Đương nhiên, những người khinh bỉ hai từ nhã mộ đạo cũng có thể đang khinh bỉ chúng vì những động cơ không ra gì. Có thể họ muốn cho chúng ta ấn tượng rằng họ mới thật là những người có giáo dục, những người thánh thiện. Họ xem những cuộc bàn tán về nhã hay mộ đạo là triệu chứng của sự thô tục hoặc sự vô đạo thật ra đang ẩn bên dưới. Họ tránh các triệu chứng này cho xa để người ta đừng nghĩ họ có bệnh - dẫu ngờ thôi cũng không. Nhưng cũng có nhiều người thật lòng nghĩ (và tôi thấy họ nghĩ đúng) rằng những cuộc bàn tán kia không chỉ là triệu chứng mà còn là một nguyên nhân gây ra căn bệnh. Sự bàn tán ấy chỉ tổ gây cản trở cho chính những phẩm chất được bàn tán. Nó phá hỏng các phẩm chất ấy ở nơi mà chúng đã xuất hiện, nó ngăn trở sự sinh sôi của các phẩm chất ấy ở nơi mà chúng còn chưa sinh sôi.

Văn hoá thuộc về đúng cái tập hợp các từ nguy hiểm và gây khó xử này. Nó có thể bao gồm nhiều nghĩa khác, nhưng chắc chắn một nghĩa được bao hàm trong nó là sự vui hưởng sâu sắc và chân thật mà người ta có được từ văn học và các nghệ thuật khác. (Dùng chữ “vui hưởng”, tôi không muốn sa đà vào vấn đề đã được bàn đến quá nhiều, tức vai trò của khoái lạc trong trải nghiệm các loại hình nghệ thuật của con người. Ý tôi là frui, không phải delectari, cũng như khi ta nói một người “hưởng” sức khoẻ tốt, “hưởng” một món điền sản.) Tôi chắc chắn điều này: là khi một người đang tận hưởng Don Giovanni hay vở Oresteia theo nghĩa này, anh ta không nếm xỉa gì đến văn hoá hết. Văn hoá ư? Chả liên quan! Cũng như nói ai béo hay thông minh tức là nói anh ta béo hay thông minh hơn phần đông mọi người, nói ai đó có văn hoá cũng là nói anh ta có văn hoá hơn đa số. Theo nghĩa đó, có văn hoá sẽ đưa ta đến những so sánh, những phân loại, nó khiến ta nghĩ đến đời sống của ta giữa xã hội. Nhưng thử hỏi những thứ này có liên quan gì đến chiếc tù và như cất tiếng khi bức tượng tiến vào, đến Clytaemnestra thét câu “Now have you named me aright?”[2]Howard’s End, ông E. M. Forster đã mô tả xuất sắc một cô gái đang lắng nghe bản giao hưởng. Cô không hề nghĩ đến văn hoá gì hết, cũng không nghĩ về “Âm Nhạc”, thậm chí cô còn chẳng nghĩ về “bản nhạc này”. Cô nhìn thế giới qua âm nhạc mình nghe. Văn hoá, cũng như sùng đạo, là cái tên áp từ bên ngoài cho những hoạt động mà bản thân chúng không nếm xỉa gì đến văn hoá hết và thậm chí còn bị phá hoại nếu chúng chú ý vào văn hoá.

Ý tôi không phải là chúng ta không bao giờ được đứng từ ngoài mà nói về các hoạt động này. Nhưng với những thứ vừa quý giá vừa dễ hư hoại, chúng ta cần thảo luận một cách thận trọng, thậm chí càng ít thảo luận càng tốt. Như tôi thấy, nếu cứ không thôi nói và nghĩ về văn hoá, nhất là văn hoá như một thứ đáng ghen tị, một thứ mang cho người ta nhiều giá trị hoặc nhiều trọng vọng, chúng ta sẽ gây phương hại cho chính những lạc thú mà nhờ có chúng văn hoá mới được chúng ta trân trọng. Nếu khuyến khích mọi người và chính mình phải nghe, xem và đọc các tác phẩm nghệ thuật lớn chỉ vì đây là việc làm có văn hoá, chúng ta sẽ kích động đúng những yếu tố đáng ra phải bị kìm hãm trước khi ta hưởng thụ được bất cứ nghệ thuật nào. Chúng ta đang kích động ham muốn phát triển bản thân, ham muốn nổi trội, ham muốn nổi loạn (với một nhóm) và ham muốn hoà tan (với một nhóm khác). Chúng ta đang kích động lên một đống cảm xúc khác; bất luận các cảm xúc ấy là hay hay dở thì chúng cũng là một mối phân tâm gây mù loà và tê liệt đối với mọi môn nghệ thuật.

Đến đây nhiều người sẽ cãi lại. Họ cho rằng văn hoá ở đây không trỏ vào những sự “tận hưởng” kia mà thôi; nó bao gồm toàn bộ bản lĩnh trí tuệ mà các trải nghiệm tận hưởng ấy gây dựng được (sau khi các trải nghiệm ấy đã phản ứng qua lại với nhau và được chúng ta nghiền ngẫm) để chúng ta lấy đó làm vốn liếng. Với một số người, từ này sẽ bao trùm luôn cả đời sống xã hội tinh tế và mở mang sẽ phát sinh ở các hội nhóm, nơi các thành viên có chung bản lĩnh trí tuệ này. Nhưng rồi cách kiến giải này cũng dẫn về vấn đề cũ. Tôi có thể mường tượng một con người, cuộc đời anh ta đầy những tận hưởng như thế, và sự tận hưởng này gây dựng cho anh ta thói quen trí tuệ nói trên. Nhưng có một điều kiện: anh ta không được đến với nghệ thuật với dụng tâm đạt được những điều ấy. Những người đọc thơ để nâng tầm trí tuệ sẽ chẳng bao giờ nâng tầm được trí tuệ của mình bằng cách đọc thơ; vì rằng những lạc thú thật sự phải đến một cách tự động, tự do và không phục vụ một mục đích nào ngoài nó hết. Các thần thơ sẽ không chấp nhận hôn nhân vì lợi ích. Còn cái bản lĩnh trí tuệ ai cũng thèm khát kia, nếu có đến thì nó phải đến như một sản phẩm phụ mà người ta không truy cầu. Ý định biến nó thành mục tiêu khiến ta nhớ tới lời tâm sự chết người mà Goethe đã nói cùng Eckermann: “Trong các cuộc tình hồi trai trẻ, cái tôi nhắm đến là cách nào để mình cao đẹp hơn.” Phần đông chúng ta, tôi nghĩ, có thể đáp lại thế này: dẫu tin là một cuộc tình có thể khiến chàng trai trẻ cao đẹp hơn đi chăng nữa, chúng tôi chắc chắn là một cuộc tình, nếu xe kết vì mục đích ấy, sẽ không đạt được mục đích của nó. Bởi đương nhiên là nó có phải một cuộc tình đâu.

Về cá nhân là thế. Tuy nhiên những lời bênh vực cho các hội nhóm “có văn hoá” lại dẫn đến một câu hỏi gây khó xử. Có bằng chứng nào cho thấy văn hoá mang đến cho những người có văn hoá một đời sống xã hội tinh tế và mở mang không? Nhưng nếu “tinh tế” có nghĩa là “tinh trong các cuộc đối đầu có thật hay tưởng tượng”, chúng ta sẽ có một hướng trả lời. Horace từ xa xưa đã để ý rằng “thi sĩ là đám dễ hiềm lòng”. Cuộc đời và tác phẩm của các nhà phục cổ thời Phục Hưng, bút đàm đăng trên các tạp chí văn học trọng vọng nhất trong thế kỷ của chúng ta cũng thế: tất cả cho thấy các nhà phê bình và các học giả đều như nhau cả. Tinh, theo nghĩa này, không thể đi đôi với mở mang được. Thói tự đại thích ganh đua và dễ thù ghét chỉ làm cho đời sống xã hội nghèo nàn đi thôi. Sự tinh tế có lợi cho mở mang phải là sự tinh tế không cho phép một người làm tổn thương những người khác chứ không phải sự tinh tế khiến anh ta luôn dễ dàng thấy bị tổn thương. Soi vào kinh nghiệm với riêng cá nhân mình, tôi không thấy mối quan hệ nhân quả nào giữa sự tinh tế này và văn hoá cả. Tôi đã thấy sự tinh tế [tốt] ở những người không văn hoá. Ở những người có văn hoá, đôi khi tôi tìm thấy nó, đôi khi không.

Chúng ta thẳng thắn với nhau nhé. Tôi tự xem mình là một người có văn hoá, tôi cũng không muốn tự tay đốt nhà. Dẫu mọi người không cho tôi là có văn hoá đi nữa thì ít nhất tôi cũng đã sống giữa những người có văn hoá và không muốn hạ thấp các bạn tôi. Nhưng chúng ta đang tâm sự với nhau, tâm sự như ở nhà. Nói thẳng là hay nhất. Kẻ phản bội tầng lớp chúng ta thực chất không phải là kẻ đứng trong tầng lớp đó và nói về các khuyết điểm của nó, mà là kẻ tung hô thói tự đại tập thể của chúng ta. Tôi mừng vì thấy trong số chúng ta có những người đàn ông lẫn đàn bà đáng nể phục vì họ khiêm hạ, lịch thiệp, công bằng, kiên nhẫn trong tranh cãi và sẵn lòng đặt mình vào chỗ của người đối diện. Tôi may mắn đã biết họ. Nhưng phải thú nhận rằng đám chúng ta cũng có một tỉ lệ không kém bất cứ đám nào khác những kẻ bắt nạt, hoang tưởng, những kẻ hèn, đâm sau lưng, phô trương, trầm uất, nhu nhược và chán mớ đời. Thói thô lỗ thích biến mọi tranh luận thành cãi vã là một thói xấu không hiếm gặp ở chúng ta hơn so với tầng lớp ít học. Cái mặc cảm sôi sục (“nặng đòn” nhưng lại không “lì đòn”) khiến một người hễ bị chạm vào là chảy máu nhưng lại cào cấu người khác như mèo hoang, là một thói xấu dễ gặp ở chúng ta y như ở đám con gái còn đi học.

Nếu chưa tin, các bạn hãy làm một thử nghiệm. Hãy chọn lấy một người luôn ca ngợi lên đến giời khả năng biến đổi, gột rửa, khai phóng và khai hoá của văn hoá. Sau đó hãy hỏi người ấy về các thi sĩ, nhà phê bình và học giả khác, không phải như một tập thể mà là từng cá nhân, từng cái tên một. Chín trong mười trường hợp, anh ta sẽ chối bỏ ở tầng cá nhân đúng những gì anh ta đã công nhận ở tầng tập thể. Chắc chắn anh ta sẽ nêu được vài trường hợp và cho thấy ở các trường hợp ấy, văn hoá đã có tác dụng đúng như anh ta đã thổi phồng. Chúng ta có khi còn ngờ rằng biết đâu anh chàng này chỉ nêu tên được đúng một người. Từ những nhận xét của anh ta, chúng ta thật tự nhiên mà đi đến một kết luận: lời khen mà tầng lớp chúng ta chắc chắn giành được là lời khen mà Johnson ngày xưa đã dành cho người Ireland. “Họ là một dân thẳng thắn. Họ không bao giờ nói tốt về nhau cả.”

Trước câu hỏi liệu văn hoá có sản sinh được bất cứ phẩm chất nào giúp cho con người ta giao tiếp với nhau lịch thiệp hơn, trung thành hơn, thấu hiểu hơn và vui vẻ lâu bền hơn, chúng ta thiện chí lắm cũng chỉ giữ được một thái độ vô cùng ngờ vực. Khi Ovid nói văn hoá có thể “làm cách ứng xử của người ta mềm mại”, ông đang nịnh một ông vua có gốc gác man mọi. Nhưng dẫu văn hoá có các tác dụng này thật đi chăng nữa thì chúng ta cũng không nên trân trọng nó vì những tác dụng ấy. Bởi làm như vậy là chúng ta, một cách có ý thức và vị kỷ, đã sử dụng chúng làm phương tiện phục vụ những mục đích không hề liên quan, bất chấp thực tế là một khi được sử dụng như vậy chúng sẽ đánh mất khả năng mang lại đúng những mục tiêu ấy. Tôi thấy nhiều người cổ suý văn hoá là những người “impudent”, trơ trẽn, theo nghĩa từ nguyên của nó. Họ thiếu pudor, họ không có liêm sỉ ở đúng chỗ mà người ta phải có liêm sỉ. Họ cầm nắm những thứ quý giá và mong manh nhất với sự thô bạo của một người bán đấu giá, họ nói về những trải nghiệm một mình nhất, thu mình nhất của chúng ta như thể họ đang chào hàng máy hút bụi. Điều này được ông Allen tóm gọn trong bài đăng trên Twentieth Century trong cụm từ “đức tin vào văn hoá”. Một “đức tin vào văn hoá” tệ cũng như đức tin vào sự mộ đạo; cả hai cụm từ này đều hàm nghĩa quay lưng đi với đúng những thứ đích thực là văn hoá và là đời sống có đạo. Nếu được sử dụng như một từ bao trùm để gọi tên nhiều hoạt động rất quý giá thì “văn hoá” là từ chúng ta có thể cho phép. Nhưng văn hoá được thực thể hoá, được đứng riêng ra, biến thành một đức tin, một chính nghĩa, một ngọn cờ, một diễn đàn: văn hoá này không ai ngửi được. Đó là vì không một hoạt động tốt đẹp nào lại thực sự nếm xỉa đến đức tin hay chính nghĩa này hết. Văn hoá thực thể hoá thì cũng như quay trở về tôn giáo semitic hồi đầu vốn xem các tên gọi là thần linh luôn.

Giờ ta tiến thêm một bước nhé. Ông Allen than rằng chúng ta không chỉ thầm lặng lẻn ra ngoài cho đến khi giọng nói của những kẻ buôn văn hoá không lọt đến tai mình nữa. Chúng ta còn giao du bừa bãi, hoặc giả vờ giao du, với những người bình dân nhất trong đám bình dân và giả vờ có chung thú vui với họ. Tôi viện ra được nhiều trường hợp lắm. Tôi không biết AFN[3] là gì. Tôi không thích các hầm rượu, còn whisky theo kiểu ngày nay không hợp túi tiền, không hợp khẩu vị, cũng không hợp với hệ tiêu hoá của tôi. Nhưng tôi biết ông Allen đang muốn nói đến điều gì, và tôi nghĩ tôi giải thích được ý ông muốn truyền đạt. Cũng như trên, tôi sẽ bắt đầu bằng một ví dụ tương đương. Giả sử bạn đã ngồi cả tối với một đám thanh niên rất trẻ tuổi và hợm hĩnh không còn gì phải bàn. Suốt buổi, chúng giả bộ biết thưởng thức một cách tinh ý một thứ rượu porto thượng hạng, dù bất cứ ai tinh ý cũng nhìn ra được là nếu trước đây bọn này có uống porto thì porto ấy là thứ mua từ cửa hiệu tạp hoá. Thế rồi lại giả sử, trên đường về nhà, bạn đi ngang qua một quán trà tuềnh toàng và nghe thấy một bà nọ quàng boa lông vũ vừa liếm môi, vừa nói với một bà khác: “Chè ngon quá chị ạ. Uống tỉnh cả người.” Có phải là vào phút ấy, bạn nghe mà thấy như mình đang được thở thứ không khí sạch sẽ của sơn cước không? Bởi ít nhất ở đây có cái gì đó thật. Đây là một cái óc thật sự quan tâm đến cái nó tỏ ra quan tâm. Đây là lạc thú, đây là trải nghiệm không bị vấy bẩn, tự động và tự do, mà một người đón được từ suối nguồn. Con chó sống còn hơn con sư tử chết: đồng thể ấy, sau một bữa tiệc sherry, nơi các dòng thác văn hoá đã đổ nhưng không có đến một từ, một ánh mắt cho thấy niềm vui thú thực thụ với bất cứ nghệ thuật hay con người hay vật thể tự nhiên nào, lòng tôi sẽ xích lại gần với một em học trò ngồi trên xe buýt đọc Fantasy and Science Fiction, lòng em bé ấy hân hoan và em quên hết thế giới bên ngoài. Đó là vì ở đây tôi cũng thấy tôi đã gặp một thứ gì đó thật, có sự sống và không giả vờ; một trải nghiệm văn chương đích thực, tự do và tự động, không cầu lợi. Những người thật sự quan tâm đến một cuốn sách thôi, bất luận đó là cuốn sách gì, đến một ngày nào đó có thể quan tâm đến sách hay. Các khí quan dành cho việc cảm thụ đã có sẵn trong họ. Họ không bị bất lực. Mà dẫu mai sau cậu bé này không thích được món gì nặng đô hơn sách khoa học viễn tưởng, thì

“một đứa trẻ, khi đã đặt tình yêu vào đây,

sẽ được lợi lớn: bởi nó quên chính mình.”

Tôi thích con chó sống hơn con sư tử chết. Tôi thích con chó hoang còn hơn một con poodle hay con chó Bắc Kinh quá ngoan.

 

[1] Chữ “nhã” và “văn hoá” in nghiêng được Lewis dùng để chỉ nhã và văn hoá theo nghĩa đáng ghét.

[2] Một câu thoại mà Lewis có lẽ đã tự dịch. Phải chăng đó là câu “Các ngươi đã gọi ra tên thủ phạm chưa?” mà Clytemaestra nói với chorus?

[3] Nitơ axit amin tự do. Chỉ số của AFN ảnh hưởng đến dinh dưỡng cho men trong rượu bia.

Thêm vào giỏ hàng thành công