favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

2. Walter Scott Phát biểu ở Câu Lạc Bộ - Walter Scott ở Edinburgh, 1956

Đến đây, ta gặp một mâu thuẫn không thể hoá giải giữa quan điểm của Scott và quan điểm của các văn sĩ có ảnh hưởng thời nay. Các văn sĩ ấy sẽ trách Scott vì ông không nghe theo lương tri nghệ sĩ của mình; Scott thì sẽ khăng khăng ông đang nghe theo lương tri. Ông chỉ biết một lương tri thôi. Lương tri ấy dạy rằng có nợ và có thể trả nợ thì phải trả. Nếu ai đó tưởng tượng ra một nghĩa vụ khác - nghĩa vụ phải sáng tác tiểu thuyết hay - và cho phép nó ngồi lên cái nghĩa vụ thật rõ ràng và phổ biến về lòng lương thiện kia, Scott sẽ xem tưởng tượng của anh ta là mánh khoé thảm hại nhất để che giấu sự kiêu căng và biếng nhác, là ví dụ hàng đầu cho cái “cảm quan văn chương” hay “sự độc lạ vờ vĩnh” mà ông hết lòng hết dạ coi thường.

Đây là sự va chạm giữa hai thế giới khác biệt. Tôi có quyền phân xử cho hai bên ư? Có lẽ, như Curtius đã nói, “thế giới hiện đại đã đánh giá nghệ thuật cao quá cao”. Nhưng có lẽ thế giới hiện đại đã đúng; có lẽ các thời trước đã lầm to khi họ bắt nghệ thuật phải ưu tiên đời sống, bắt nghệ sĩ phải dùng tác phẩm của họ để răn dạy, làm đẹp cho thành quốc, làm thiêng liêng các lễ tiệc và cưới gả, làm hài lòng một mạnh thường quân, hay làm vui cho công chúng. Hoặc chúng ta có thể chọn một quan điểm trung dung: mọi tác phẩm nghệ thuật đều nghiêm túc, đều tự chúng là mục đích; nhưng một khi người nghệ sĩ nhận ra điều này thì nó lập tức biến mất, cũng như Eros bỏ chạy khi bị Psyche giơ đèn soi mặt. Nhưng bất luận quan điểm đúng là gì thì tôi vẫn chắc về hai điều sau. Một, nếu chúng ta đánh giá nghệ thuật cao quá thì chính nghệ thuật sẽ bị tổn hại. Khi đặt cái đáng ở bậc thứ nhì vào bậc cao nhất, chúng ta sẽ làm nó hư hỏng. Điều thứ hai: dẫu có nâng niu nghệ thuật như đúng giá trị của nó đi nữa, thì bên cạnh cái được, thế hệ chúng ta vẫn phải chấp nhận mất mát. Chúng ta sẽ đánh mất các nghệ sĩ giỏi giang nhưng hoang tàng và buông thả. Bởi nếu không phải tất cả thì ít nhất một số kiểu nghệ thuật sẽ tuôn chảy thuận lợi nhất từ những người xem công việc của mình như chuyện chơi thôi. Tôi không tài nào tưởng tượng được là sự năng nổ, thoáng đãng, phẩm chất khiến lòng người thoải mái ở Dickens hay Chaucer hay Cervantes, lại có thể tồn tại song song với kiểu lương tri văn chương tự vấn mà ta thấy ở Pater hay Henry James. Ở đâu đó, Lockhart đã nhận xét rằng Scott “tận hưởng thay vì lao lực tài năng của mình”. Chúng ta có thể đang tiến đến thời đại mà các tác giả không thể làm điều này nữa. Điều này có thể dẫn đến cái được, nhưng chắc chắn sẽ dẫn đến cái mất.

Lẽ tự nhiên là điều này khiến tôi nghĩ về văn phong của Scott. Rất dễ để nói rằng đến như người thợ viết cũng nhìn ra cả nghìn đoạn văn nên sửa ở các tiểu thuyết Walter Scott. Không gì tệ hơn câu văn kể Mannering ngước lên trời và thấy các hành tinh xoay vòng trên đầu mình, “mỗi hành tinh xoay vòng trên quỹ đạo sáng thứ ánh sáng nước chảy”. Có lẽ đây chỉ là ngoại lệ; nhưng cái dở tràn lan khắp nơi là cấu trúc đa âm, rườm lời, thậm chí diêm dúa trong văn kể và văn tả của Scott. Nhưng thoại của ông là thứ hoàn toàn khác. Hãy để Andrew Fairservice, Baillie, Davie Deans hay Jonathan Oldbuck, thậm chí Julia Mannering mở miệng mà xem: chúng ta sẽ thấy ngay sự dồn dập và sắc nhọn, sự sống và tính cụ thể. Thú vị nhất là ở Gurnal, chúng ta thấy Scott dùng với chính mình cả cách hành văn đã khiến ta gớm ghiếc lẫn lối hành văn đã chinh phục chúng ta.

Ông nói rằng tin vợ mất là “melancholy intelligence”, tin thảm (15 tháng Năm 1826). Nghe như trái lê xoè![1] Scott dùng chữ melancholy mới vụng làm sao; ông mới thật biết phá hoại chữ ấy, để rồi những văn cảnh cần đến nó sẽ không sử dụng nó được nữa. Ở đây chúng ta cũng không cần chối chữa bằng cách cho rằng Phu nhân Scott không phải là mối tình lớn của chồng bà. Bà là tình yêu lớn của đời ông, thế nhưng cụm từ trên vẫn mờ nhạt và lười biếng đến nỗi nó không diễn tả được nỗi khổ sâu sắc mà cái chết của bà gây ra cho ông. Nhưng chỉ đến ngày hôm sau, Scott đã không cho phép ai hồ nghi nỗi thống khổ ấy qua những lời lẽ truyền đạt được chính xác tính chất và mức độ của nó: “Tôi không biết phải làm gì nữa với phần suy nghĩ mà suốt ba mươi năm nay tôi dành cho bà ấy” (16 tháng Năm, 1826). Như tôi thấy, trải nghiệm trong mất mát (bất kể mất mát đó là gì) - việc chúng ta từng ngày từng giờ cứ trải suy nghĩ mình ra trên một lối mòn quen thuộc mà quên mất những tấm rào chắn từ nay sẽ chặn đứng nó, cũng như nỗi bất lực cứ trở đi trở lại để làm mới không chỉ vết buồn mà cả niềm ngỡ ngàng của ta trước vết buồn đó - trải nghiệm ấy chưa được ai truyền đạt chân thực đến vậy.

Đây, còn một ví dụ nữa. Ngày 18 tháng Mười Hai 1825, Scott đối mặt với khả năng phải bán Abbotsford. Ông viết: “Nhớ lại bao nhiêu đất rừng tôi đã trồng, bao nhiêu lối đi tôi đã nắn, tất cả từ nay phó cho người lạ tìm đến làm vui và kiếm lợi, là đủ để kéo tôi ra khỏi những phút vui vẻ nhất và làm tôi choàng tỉnh … Chó của tôi cứ đợi cùng đi chơi mà hoài công.” Đương nhiên những câu văn này hay hơn “melancholy intelligence” trên kia. Thế nhưng từ ngữ ở đây cứ vô hồn một cách kỳ lạ. Sau đoạn ấy, Scott chừa ra một khoảng trắng trong bản thảo; và sau đó mới là những con chữ được viết trong vô thức của bậc thầy diệu nghệ: “Rồi tôi thấy chân mấy con chó bấu lên đầu gối tôi”.

Hiện tượng này cứ lặp đi lặp lại trong Gurnal. Chúng ta thấy, song song với nhau, một bên là cách hành văn mà Scott quen dùng cho văn tự sự, còn bên kia là một văn phong khác nhạy cảm hơn rất nhiều. Giá như được ông vận dụng thường xuyên hơn, văn phong ấy hẳn đã đặt ông vào một địa vị cao hơn nhiều lắm. Trong các tiểu thuyết của Scott, cách hành văn ấy gần như không xuất hiện ở đâu hết, trừ thoại và nhất là phương ngữ. Xét từ góc độ văn pháp, Wandering Willie ăn đứt người đã sáng tạo ra anh ta; đến như cái xắc đeo hông của Willie thôi cũng chứa nhiều nhạc điệu hơn là trong cả con người ông quan toà Walter Scott[2]. Vào những phút xuất thần của mình, Julia Mannering còn nhiều sắc sảo hơn nhà văn đã sáng tạo ra chị.

Tôi tìm được hai lý do để giải thích cho văn phong sáo mòn và kém cỏi của Scott; có một lý do mang tính địa phương, và một lý do mang tính lịch sử. Giáo sư Nichol Smith là người đầu tiên kể với tôi rằng sự sính cách nói nhiều âm tiết vốn là căn bệnh đã tràn lan ở Scotland kể từ thời Henryson. Ông kể rằng thời trẻ, ở chính thành phố này đây, ông đã tham gia một hội tranh biện mà ở đó, các sinh viên mỗi khi đứng lên nói là lại “homologate the sentiments of the previous speaker”[3]. Thế nhưng vào thời Scott, tật này cũng chỉ là một hình thức trở nặng của một căn bệnh, căn bệnh ấy vốn đã tràn lan và bám sâu vào đảo quốc này. Chúng ta không được vì một số ít cây viết giỏi và giàu cá tính như Lamb, Hazlitt và Landor mà quên mất rằng hồi đầu thế kỷ mười chín tiếng Anh đang ở trong trạng thái phù nề như thế nào. Người ta ưa cái trừu tượng hơn cái cụ thể. Ngôn từ xa mặt đất nhất là ngôn từ được yêu thích nhất; người ta dùng personage [nhân vật] hay individual [cá nhân] thay cho man; dùng female [người nữ] thay cho woman [người đàn bà]; dùng monarch [vị quân chủ] thay cho king [vua]. Vậy nên mới có chuyện Wordsworth, ngay cả trong thơ, vẫn còn dùng những cụm từ như itinerant vehicle [phương tiện đi lại], female vagrant [người nữ lang thang], và casual refreshment [thức ăn bình thường]. Phải thú nhận là gần như lúc nào Scott cũng gọi thức ăn là refreshment[4], và ông là người đã góp công làm hỏng từ refreshment vốn có tiềm năng trở thành tuyệt vời đó.

Tức là khi xét đến văn phong, ta thấy Scott đã sống trong một thời kỳ không may; năng lực thật sự của ông chỉ thể hiện được ở thoại, và đây là chỗ chúng ta phải nhượng bộ. Tuy nhiên ta không cần nhượng bộ quá nhiều. Chính những khuyết điểm trong phong cách tự sự của Scott cũng có mặt tốt của nó. Tiêng leng reng vui tai của các diễn đạt đa âm (ở những chỗ mà cú pháp và từ vựng xuôi duỗi thì may thay nhịp điệu câu lại nhiều sức sống), rồi thì cảm giác không câu kiểm, nhịp đi gãy gọn, giàu sinh lực - tất cả đều khiến chúng ta cảm thấy việc đọc sẽ là một hành trình vui thú. Tiếng leng keng của bộ yên ngựa đưa ta vào tâm trạng của ngày nghỉ, và “có ngựa hay và một người đánh xe có nghĩa” (như Scott hứa ở Waverley, V), ta tung tăng cùng Scott, lòng thấy thoả mãn vô cùng.

Nhưng dẫu người ta chê văn phong của Scott hay những cốt truyện thường khiên cưỡng của ông như thế nào đi nữa, những lời lẽ của họ không thể làm lu mờ vinh quang trong căn cốt của bộ Waverley. Vinh quang đó, theo tôi, gồm có hai phần.

Thứ nhất, các tiểu thuyết Waverley tạo ra một cảm thức lịch sử mà ngày nay chúng ta đã coi là cảm thức tự nhiên có. Chúng ta thậm chí còn trách Scott vì đã mang đến cảm thức này. Đương nhiên, Scott vướng nhiều lỗi về sử, ông thậm chí còn lợi dụng những tưởng tượng sai lầm về lịch sử. Nhưng ông là người đầu tiên dạy cho chúng ta biết cảm nhận về thời đại. Những công dân thành Troy ở Chaucer chỉ là những con người của thời trung đại. Người La Mã trong Shakespeare thực chất là người thời Elizabeth. Các nhân vật ở Otranto rõ ràng là người đồng thời với Walpole; rõ ràng đến nỗi ta không thấy họ đáng tin nữa. Nhưng, ở tác phẩm nào cũng thế, Scott chính là người nhắc nhở rằng chúng ta rất khác biệt với ông cha mình. Ông là người tiên phong làm điều này; trong cách thức của ông còn nhiều thiếu sót, nhưng ông quả thật là người tiên phong. Khẳng định này dựa trên một thẩm quyền có vị thế cao. Thẩm quyền ấy là Hiệu trưởng Trinity College, Giáo sư Trevelyan, người đã chỉ cho tôi thấy sự khác biệt giữa Decline and FallHistory của Macaulay. Ông nói rằng Gibbon đã viết như thể mọi Hoàng đế La Mã, mọi tù trưởng người Goth, mọi ẩn sĩ ở Thebaid, đều là những con người của thế kỷ mười tám. Nhưng Macaulay thì luôn nhắc nhở chúng ta về sự khác biệt giữa thời mà ông mô tả với thời của chính ông. “Tôi nghĩ sở dĩ có khác biệt này,” ông Hiệu trưởng nói tiếp, “là bởi giữa Gibbon và Macaulay đã có các tiểu thuyết Waverley.” Một khi điều này được nói ra, tôi ngay lập tức thấy nó là một sự thật hiển nhiên. Và nếu điều này đúng, thì chăm chăm vào các lầm lẫn về lịch sử của Scott cũng giống như hạ thấp Columbus chỉ vì ông không vẽ được trọn vẹn tấm bản đồ châu Mỹ. Giống Columbus, Scott thuộc vào hàng các nhà khám phá vĩ đại. Ngày nay, nếu ý thức của chúng ta về các thời kỳ lịch sử đã sắc sảo đến nỗi khác biệt giữa các thập niên với chúng ta còn lớn hơn khác biệt giữa các thế kỷ với tổ tiên ta ngày xưa, thì ý thức đó, dù hay dù dở, chính là nhờ công của Scott.

Thứ hai, các tiểu thuyết Waverley là hiện thân của cùng những phẩm chất vô ngần quý giá mà trên kia tôi đã cho thấy là cũng thể hiện ở Gurnal. Chúng có thể thiếu nhiều phẩm chất mà các tiểu thuyết kể từ đó đến nay đã có thêm; thế nhưng chúng chứa đựng những phẩm chất mà không thời nào lại cần đến cho bằng thời của chúng ta. Các tiểu thuyết ấy có sự ngay ngắn trong cốt cách. Có đôi chỗ làu bàu, nhưng không có chỗ nào bị thổi phồng. Yếu kém vặt vãnh không bao giờ bị thổi lên thành tội lỗi to lớn, muộn phiền nhỏ mọn không bị đưa lên thành những bi kịch giả vờ. Mọi thứ đều đúng mực. Hãy thử tưởng tượng một bên là Dickens, bên kia là George Moore, xem họ sẽ xử lý Effie Deans như thế nào. Sau đó, bạn hãy quay về với Scott mà hít thở cái không khí phải chăng của ông.

Đến đây tôi phải dừng lại thôi. Có thể các bạn thấy tôi tập trung hơi nhiều vào lỗi lầm nhưng lại hơi ít vào ưu điểm của tác giả vĩ đại này. Nhưng tôi làm thế vì tôi đang đứng giữa các bạn hữu của Scott đấy. Ở đây thôi tôi mới dám nói về những lỗi lầm của một người tôi yêu quý. Mà ngày nay Scott có ít bạn hữu thật. Các hậu bối của lứa chúng tôi không thoải mái trong sự hiện diện của Scott. Có anh còn nói rằng, ở The Heart of Midlothian, Scott đã hiểu lầm chính truyện của mình. Câu chuyện rõ ràng cho thấy khi nữ chính từ chối làm chứng dối, động cơ thật sự của nàng “hẳn phải nằm ở” sự ghen tức của nàng với nhan sắc người chị ruột. Sách là do sư tử viết, nhưng điểm sách thì lại do chó rừng chấp bút. Tuy vậy chúng ta chẳng cần cay cú làm gì. Biết đâu đến ngày nào đó chúng ta lại chẳng từ vực thẳm này leo lên, cũng như Scott từng nói: “Kiên nhẫn nào. Cứ tráo bài đi.” Mà dẫu tình hình không bao giờ khá lên đi chăng nữa, dẫu cảnh man rợ mà chúng ta đang rơi vào sẽ là căn bệnh sau cùng, là cỗ giường hấp hối của nhân loại, thì chúng ta cũng đừng trách cứ những nạn nhân của căn bệnh ấy. Chúng ta hãy dùng đúng những lời của Scott: “Tôi nghiệp những con chó ấy. Chắc cũng có nỗi khổ riêng.” Quả thật là họ có nỗi khổ riêng.

 

[1] Tên một dụng cụ tra tấn.

[2] Scott từng làm quan toà ở Scotland.

[3] Nghĩa là “hưởng ứng tinh thần của người nói đi trước tôi”. Tác giả có lẽ muốn nói rằng các sinh viên Scotland này đã dùng một từ dài và hiếm gặp - homologate - thay cho một từ ngắn hơn và thường thấy hơn.

[4] Nghĩa là đồ ăn hay thức uống - nhất là thức uống - để người dùng tẩy trần hoặc giải khát, tăng lực.

Thêm vào giỏ hàng thành công