favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

CHƯƠNG II

Lá thư.

Người nhân viên mang thư đến không mảy may để ý tới bộ dạng luộm thuộm sáng nay của hắn. Anh ta chỉ nhìn hắn từ chân mày trở lên lúc trao thư. Tại sao mọi người trong khách sạn phải phí phạm sự nhã nhặn cho hắn? Họ nắm hắn trong lòng bàn tay. Người nhân viên biết mình đang trao cho hắn, cùng với thư, một hóa đơn tiền thuê phòng. Wilhelm cố vẻ mặt như mình chẳng liên can gì tới những thứ ấy. Nhưng tình hình thật tệ. Để thanh toán hóa đơn, hắn buộc phải rút tiền từ tài khoản môi giới ra, và tài khoản đó đang bị dòm ngó vì mỡ lợn rớt giá. Theo số liệu của Tribune, giá mỡ lợn vẫn thấp hơn hai mươi điểm so với năm ngoái. Có chính sách trợ giá của chính phủ. Wilhelm không biết cách nó hoạt động nhưng thừa biết nông dân đang được bảo hộ và Ủy ban Chứng khoán vẫn để mắt đến thị trường, do đó hắn tin giá mỡ lợn sẽ tăng trở lại và chưa quá lo lắng. Nhưng trong lúc chờ đợi, bố hắn đã có thể trả giúp tiền phòng khách sạn. Sao ông ta không làm chứ? Thật là một lão già ích kỷ! Ông ta thấy con trai mình đang khốn khó; ông ta có thể giúp hắn dễ dàng thế kia. Điều đó sao mà với ông ấy thật là cỏn con, nhưng đối với Wilhelm mới to lớn làm sao! Trái tim của lão già ấy ở đâu? Wilhelm nghĩ, có lẽ trước đây mình đã quá đa cảm mà phóng đại sự tử tế của ông ta cuộc sống gia đình ấm áp gì gì đó. Có lẽ điều đó chưa tồn tại bao giờ.

Trước đó không lâu, bằng thái độ niềm nở và dễ chịu thường lệ, bố hắn bảo, "Chà, Wilky, sau bao nhiêu năm, cuối cùng chúng ta cũng lại sống chung dưới một mái nhà."

Wilhelm đã vui trong chốc lát. Cuối cùng hai người họ cũng sẽ nói chuyện về ngày xưa. Nhưng hắn cũng phòng vệ trước những lời bóng gió. Có phải ý bố hắn là, "Sao mày lại ở đây trong khách sạn với tao mà không ở nhà tại Brooklyn với vợ và hai đứa con mày? Mày đâu phải là kẻ goá vợ hay độc thân. Mày đem hết mọi rối rắm của mày đến với tao. Mày còn muốn tao làm gì với chúng đây hả?"

Thế nên, Wilhelm hơi tần ngần trước lời nói ấy một lát, rồi đáp, "Hai mươi sáu cái mái nhà. Đã bao nhiêu năm rồi nhỉ?"

"Bố định hỏi con đấy."

"Lạy chúa, bố ơi, làm sao con biết. Có phải vào năm mẹ mất không? Đó là năm nào nhỉ?"

Câu hỏi bật ra cùng cái chau mày ngây thơ trên gương mặt màu táo Golden Grimes nâu vàng. Đó là năm nào nhỉ? Làm như thể mình không hề biết chính xác đến tận giờ phút, tháng năm mẹ mình từ trần.

"Có phải là năm một chín ba mốt không nhỉ?" bác sỹ Alder nói.

"Ồ, thế à?" Wilhelm nói. Và để che giấu nỗi buồn và sự châm biếm của câu hỏi đó, hắn rùng mình căng thẳng, lắc đầu và nhanh chóng đưa tay lên hai đầu cổ áo mình.

"Con biết không?" bố hắn nói. "Đáng lẽ con nên nhớ mới phải. Trí nhớ của một ông già thì đâu có đáng tin. Bố chỉ chắc nó là vào một ngày mùa đông. Năm một chín ba hai phải không?"

Vâng, đúng ngày ấy. Wilhelm dặn mình không nên nói gì nữa. Nếu ta hỏi ông già kia ngày kết thúc kỳ nội trú, ông ta sẽ nói trúng phóc. Chẳng quan trọng gì xé chuyện ra cho thêm to. Chớ có cãi với bố mình. Hãy lấy làm thương hại cho sự sai sót của những người già.

"Con nghĩ là tầm năm một chín ba bốn, bố à," hắn trả lời.

Nhưng bác sỹ Alder ngẫm nghĩ. Tại sao con ác ma vẫn chẳng chịu đứng yên cho bọn họ nói chuyện? Hắn cứ xốc túi quần lên xuống và xoay chân qua qua lại lại. Một chuỗi động tác thừa thãi mà hắn sắp làm. Wilhelm có thói quen đưa chân tới lui như thế, những lúc vội vàng bước vào nhà, hắn chùi luôn giày lên thảm.

Và Wilhelm bảo, "Đó là khởi đầu của một sự kết thúc, đúng không bố?"

Nhưng bác sĩ Adler ngẫm nghĩ. Tại sao con ác ma vẫn chẳng chịu đứng yên cho bọn họ nói chuyện? Hắn cứ xốc túi quần lên xuống và xoay chân qua lại. Một ngọn núi tật thừa thãi mà hắn đang trở thành. Wilhelm có thói quen đưa chân tới lui như thế, y hệt lúc, vội vàng bước vào nhà, hắn phải chùi giày trên tấm thảm lau chân trước.

Rồi Wilhelm bảo, "Đúng, đó là khởi đầu của một sự kết thúc, đúng không bố?"

Wilhelm thường làm bác sĩ Adler sững sờ. Khởi đầu của sự kết thúc? Ý hắn có thể là gì hắn đang câu dẫn chuyện gì? Kết thúc của ai? Kết thúc của đời sống gia đình? Người đàn ông lớn tuổi bối rối nhưng sẽ không để Wilhelm có cửa để dẫn ông tới những lời phàn nàn của hắn. Ông đã nhận ra rằng không nên lao vào những thử thách kỳ lạ của Wilhelm. Thế nên, ông chỉ thiện chí tán đồng, bởi ông là một bậc thầy xử thế. "Đó là một nỗi bất hạnh khủng khiếp cho tất cả chúng ta."

Ông nghĩ, Việc gì hắn phải phàn nàn với ta về cái chết của mẹ hắn?

Họ đứng đối mặt nhau, mỗi người đều lặng thầm tuyên bố theo cách riêng của mình. Điều đó là: đúng, không phải, khởi đầu của sự kết thúc kết thúc nào đó.

Không ý thức được điều gì lạ trong việc mình làm, bởi hắn làm thế suốt, Wilhelm đã bóp tắt đầu lửa điếu thuốc và vứt tàn vào túi áo khoác, nơi có rất nhiều tàn thuốc khác. Và khi hắn nhìn về phía người bố, ngón út tay phải hắn bắt đầu giật giật, run run; về điều đó chính hắn cũng không ý thức.

Nhưng Wilhelm vẫn nghĩ nếu mình đặt hết tâm trí vào, hắn có thể có cách cư xử hoàn hảo, thậm chí còn khác biệt và tinh tế hơn bố mình. Dù chất giọng có hơi đặc và nặng nó gần như thành ngọng nghịu khi hắn bắt đầu lặp lại cùng một cụm từ nhiều lần trong nỗ lực loại bỏ âm thanh đặc đó hắn vẫn có thể nói trôi chảy. Nếu không thì hắn đã chẳng bao giờ thành một nhân viên bán hàng giỏi. Hắn cũng tự nhận mình là một người biết lắng nghe. Khi nghe ai đó nói, môi hắn mím lại và đôi mắt ân cần suy tư đảo quanh. Hắn sẽ sớm chán và bắt đầu thở ngắn, thở to, thở ngao ngán và thiếu kiên nhẫn, và hắn sẽ nói, "Ồ vâng… vâng… vâng. Tôi không thể đồng ý hơn." Khi hắn buộc phải bất đồng, hắn sẽ tuyên bố, "À, tôi không chắc lắm. Tôi thực sự không nhìn nhận nó theo cách đó. Tôi đang phân vân về chuyện ấy." Hắn sẽ không bao giờ cố ý làm tổn thương cảm xúc của bất kỳ ai.

Nhưng khi nói chuyện với bố, hắn rất dễ mất kiểm soát. Sau bất kỳ câu chuyện nào với Adler, Wilhelm thấy bất mãn khó tả, và sự bất mãn ấy đạt đến mãnh liệt khi họ bàn đến chuyện gia đình. Bề ngoài là gợi cho ông già nhớ tháng nhớ ngày, nhưng thực ra hắn muốn nói với ông ấy rằng, "Khi mẹ mất thì ông như chim sổ lồng. Ông muốn quên bà. Ông cũng chẳng muốn dính dáng gì đến Catherine. Tôi cũng thế. Ông chẳng lừa được ai đâu" hắn cố để chuyện này trôi đi, nhưng tên già kia thì không. Cho đến cuối cùng thì hắn vẫn bị bỏ chơ vơ giằng xé, còn bố hắn thì gần như bất động.

Và rồi một lần nữa Wilhelm tự bảo mình, "Nhưng đồ ngốc! Mày đâu phải trẻ con. Ngay cả hồi đó mày cũng đâu có trẻ con!" Hắn nhìn xuống phía trước thân thể to lớn, to lớn một cách sỗ sàng và hư hỏng của mình. Hắn bắt đầu mất dáng, bụng phệ ra, và hắn trông như con hà mã. Đứa con nhỏ nói ngọng gọi nó là "hè mẽ"; ấy chính là Paul bé bỏng. Và giờ đây, hắn vẫn đang vật lộn với người bố già của mình, chất chứa những oán giận xưa cũ. Thay vì tự thú, "Vĩnh biệt, tuổi trẻ! Ôi vĩnh biệt những ngày tháng huy hoàng, ngu ngốc, phung phí. Ta đã là thằng đại ngốc đến thế – và giờ ta vẫn vậy!"

Wilhelm vẫn đang trả giá đắt cho những sai lầm của mình. Margaret, vợ hắn, không chịu ly hôn, nên hắn vẫn phải chu cấp cho ả và hai đứa con. Ả thường xuyên đồng ý ly hôn, nhưng rồi lại suy đi tính lại và đặt ra những điều kiện mới khó khăn hơn. Không tòa án nào lại trao cho ả số tiền mà hắn đã trả. Một lá trong xấp thư hôm nay, như hắn biết thừa, là của ả. Lần đầu tiên hắn gửi về một tấm séc ghi ngày hẹn trả trong tương lai, và ả đã phản đối. Ả cũng gửi kèm hóa đơn tiền bảo hiểm giáo dục của lũ trẻ, đến hạn vào tuần tới. Mẹ vợ Wilhelm đã mua những hợp đồng bảo hiểm này ở Beverly Hills, và từ ngày bà mất hai năm trước, hắn phải đóng các khoản phí. Sao bà ta cứ chõ mũi vào chuyện của mình thế hả? Chúng là con của hắn, và hắn vẫn chăm sóc chúng và sẽ luôn làm thế. Hắn đã từng dự định lập một quỹ ủy thác. Nhưng đó vẫn chỉ là kế hoạch dựa trên những kỳ vọng trước đây. Giờ đây, vì vấn đề tài chính, hắn phải suy nghĩ lại về tương lai. Trong lúc đó, những hóa đơn vẫn còn đó chờ thanh toán. Khi nhìn thấy hai con số được đục gọn ghẽ trên thẻ, hắn nguyền rủa cái công ty ấy và mấy thứ thiết bị máy tính IBM của chúng. Trí óc và trái tim hắn nghẹn ứ vì giận dữ. Ai ai cũng được cho là phải có tiền. Các công ty cho rằng điều ấy là dĩ nhiên. Họ cho đăng những bức ảnh đám tang trên tạp chí và dọa cho mấy con mồi nhát gan sợ hãi, rồi đục ra mấy cái lỗ nhỏ xíu, và khách hàng sẽ thức trắng đêm nghĩ cách kiếm ra tiền để nạp vào cho bọn chúng. Họ thấy hổ thẹn khi không có nó. Họ cũng không thể làm một công ty vĩ đại thất vọng được, và thế là họ phải vắt óc kiếm tiền. Ngày xưa người ta đi tù vì nợ, còn ngày nay thì tế nhị hơn. Chúng khiến việc không có tiền trở thành nỗi nhục và bắt mọi người phải làm việc.

Và Margaret còn gửi gì thêm cho hắn nữa đây? Hắn dùng ngón cái xé toang phong bì, lòng thề rằng nếu lại là hóa đơn, hắn sẽ gửi lại tất cả cho ả. Thật may, không còn. Hắn đút những tấm thẻ đục đầy lỗ vào trong túi quần. Không lẽ Margaret không biết rằng hắn đã hết đường? Dĩ nhiên rồi. Theo bản năng, ả nghĩ đây là một cơ hội cho mình, và ả đang dồn hết mọi thứ lên đầu hắn.

Hắn bước vào căn phòng ăn được điều hành theo phong cách Áo - Hung tại khách sạn Gloriana. Nơi đây được vận hành như một cơ sở châu Âu. Các loại bánh ngọt thuộc hàng tuyệt hảo, đặc biệt là bánh strudel. Hắn thường dùng bánh strudel táo và cà phê vào buổi chiều.

Ngay khi bước vào, hắn thấy cái đầu nhỏ bé của bố mình trong góc có ánh nắng ở phía xa, và nghe thấy giọng nói chính xác của ông ta. Với một vẻ mặt hiểm nguy kỳ quặc, Wilhelm băng qua phòng ăn.

Bác sĩ Adler thích ngồi ở một góc nhìn ra Đại lộ Broadway xuôi xuống sông Hudson và New Jersey. Bên kia đường là một quán cà phê tự phục vụ siêu hiện đại với những cây cột khảm đá vàng và tím. Trên tầng hai, một trường dạy thám tử tư, một phòng thí nghiệm nha khoa, một phòng tập giảm cân, một hội cựu chiến binh và một trường dạy tiếng Hebrew cùng chia sẻ không gian. Người đàn ông lớn tuổi đang rắc đường lên dâu tây của mình. Những vòng tròn sáng nhỏ xíu được tạo ra bởi cốc nước trên tấm khăn trải bàn trắng, bất chấp ánh nắng hơi mờ đục. Đó là đầu mùa hạ, cửa sổ dài được mở lật vào trong; một con bướm đêm đậu trên tấm kính; lớp vữa trét đã vỡ và lớp men trắng trên khung cửa chảy xệ đầy nếp nhăn.

"Này, Wilky," người đàn ông lớn tuổi gọi đứa con trai chậm chạp của mình. "Con chưa gặp ông Perls hàng xóm của chúng ta phải không nhỉ? Ông ấy sống ở tầng mười lăm đấy."

"Xin chào," Wilhelm nói. Hắn không chào đón người lạ mặt này; hắn lập tức bắt đầu soi mói lão. Ông Perls mang một cây gậy nặng với đầu chống kiểu nạng. Tóc nhuộm, vầng trán hẹp những thứ đó không phải là lý do để thành kiến. Cũng không phải lỗi của ông Perls khi bác sĩ Adler đang tận dụng lão, vì không muốn dùng bữa sáng một mình với con trai. Nhưng một giọng nói cộc cằn hơn trong Wilhelm cất lên, chất vấn, "Cái tên cá trích mặt mày tơi tả này với mái tóc nhuộm, hàm răng cá và bộ ria rỉ nước kia là ai vậy? Lại là một ông bạn Đức khác của bố. Ông ta nhặt những gã này ở đâu thế? Thứ trên răng lão là gì? Tao chưa từng thấy mão răng nào nhọn hoắt thế. Chúng là thép không gỉ, hay một loại bạc nhỉ? Làm sao mà một khuôn mặt người lại có thể ra nông nỗi này. Ọe!" Chằm chằm nhìn bằng đôi mắt xám cách xa nhau, Wilhelm ngồi xuống, tấm lưng rộng khom dưới chiếc áo khoác thể thao. Hắn chắp tay trên bàn với hàm ý van nài. Rồi hắn bắt đầu dịu đi một chút đối với ông Perls, bắt đầu từ hàm răng. Mỗi chiếc mão răng kia đại diện cho một cái răng đã bị mài đến tận tủy, và nếu ước tính nỗi đau của một người về răng miệng chiếm hai phần trăm tổng số, cộng thêm việc lão chạy trốn khỏi nước Đức và nguồn gốc có thể có của những nếp nhăn co giật trên mặt lão, không nên nhầm lẫn với những nếp nhăn khi lão cười, thì quả là một gánh nặng không nhỏ.

"Ông Perls từng là nhà buôn bán đồ dệt kim," bác sĩ Adler nói.

"Đây là cậu con trai làm nghề bán hàng mà anh kể với tôi phải không?" ông Perls hỏi.

Bác sĩ Adler đáp, "Tôi chỉ có một đứa con trai. Một đứa con gái. Nó từng là kỹ thuật viên y tế trước khi lấy chồng – chuyên gây mê. Có thời gian nó giữ một vị trí quan trọng ở Mount Sinai."

Ông ta không thể nhắc đến con cái mà không khoe khoang. Theo ý kiến của Wilhelm, chẳng có gì nhiều để khoe cả. Catherine, giống Wilhelm, cao lớn và tóc vàng. Cô đã lấy một phóng viên tòa án, người cũng gặp khá nhiều khó khăn. Cô cũng lấy một cái tên nghệ danh  Philippa. Ở tuổi bốn mươi, cô vẫn nuôi tham vọng trở thành họa sĩ. Wilhelm không dám mạo muội chỉ trích tác phẩm của em gái. Nó chẳng tác động gì nhiều đến hắn, hắn nói, nhưng mà hắn cũng đâu phải là nhà phê bình. Dù sao thì, hắn và em gái thường xuyên bất hòa và hắn không thường xuyên được xem tranh của cô. Cô làm việc rất chăm chỉ, nhưng có đến năm mươi ngàn người ở New York với màu vẽ và cọ, người nào chơi luật người ấy. Đó là toà Babel trong hội họa. Hắn không muốn đi sâu vào chuyện này. Chốn nào lại chẳng hỗn loạn

Bác sĩ Adler nhận thấy Wilhelm sáng nay trông đặc biệt xộc xệch và cũng có vẻ không được nghỉ ngơi, mắt hắn đỏ viền vì hút thuốc quá nhiều. Hắn thở bằng miệng và rõ ràng là rất phân tâm, đảo đôi mắt đỏ ngầu một cách man rợ. Như thường lệ, cổ áo khoác của hắn vẫn dựng đứng lên như thể hắn vừa phải ra ngoài trời mưa. Khi đi làm, hắn có chỉnh tề một chút; còn không thì hắn buông thả và trông thật tệ hại.

"Có chuyện gì thế, Wilky, tối qua con không ngủ à?"

"Không được nhiều lắm."

"Con lạm dụng quá nhiều loại thuốc  đầu tiên là thuốc kích thích rồi đến thuốc ức chế, thuốc giảm đau theo sau bởi thuốc hồi sức, cho đến khi cơ thể tội nghiệp của con không biết chuyện gì đã xảy ra. Rồi thì luminal không thể khiến người ta ngủ được, và Pervitin hay Benzedrine cũng không thể đánh thức họ. Trời ơi! Những thứ này trở nên nguy hiểm chẳng khác gì thuốc độc, thế mà ai ai cũng đặt hết niềm tin vào chúng."

"Không, bố, không phải do thuốc đâu bố. Con không quen với New York nữa. Đối với một người New York gốc như ta, điều đó thật kỳ lạ, phải không? Ban đêm trước đây đâu có ồn ã như bây giờ, và mọi thứ nhỏ nhặt đều là một áp lực. Như luật đỗ xe luân phiên. Bố phải chạy ra ngoài lúc tám giờ để dời xe. Và bố có thể để nó ở đâu? Nếu bố quên dù chỉ một phút, họ sẽ kéo xe đi. Rồi một tên ngốc nào đó nhét tờ rơi quảng cáo dưới cần gạt nước kính chắn gió và bố lên cơn đau tim cách đó một dãy nhà vì nghĩ mình đã bị phạt. Khi bố thực sự bị phạt, bố không thể cãi được. Bố không có cơ hội nào trước tòa và thành phố thì chỉ muốn thu ngân sách."

"Nhưng trong nghề của anh, anh cần phải có một chiếc xe, phải không?" ông Perls bảo.

"Chỉ có Chúa mới biết thằng điên nào lại muốn có một chiếc trong thành phố nếu không cần nó để kiếm sống."

Chiếc Pontiac cũ của Wilhelm đang đỗ trên phố. Trước đây, khi được thanh toán chi phí công tác, hắn luôn gửi nó vào ga ra. Giờ đây, hắn sợ dời xe khỏi Riverside Drive vì sợ mất chỗ, và hắn chỉ dùng nó vào những ngày thứ Bảy khi đội Dodgers đấu ở Ebbets Field để đưa các con trai đi xem trận đấu. Chủ nhật vừa rồi, khi Dodgers ra khỏi thành phố, hắn đã đi thăm mộ mẹ mình.

Bác sĩ Adler từ chối đi cùng. Ông ta không chịu nổi cách lái xe của con trai. Hễ quên, Wilhelm lái hàng dặm ở số hai; hắn hiếm khi đi đúng làn, không bật đèn tín hiệu cũng chẳng để ý đèn giao thông. Nệm ghế trên xe Pontiac của hắn bẩn thỉu vì dầu mỡ và tro tàn. Một điếu thuốc cháy dở trên gạt tàn, một điếu trên tay, điếu thứ ba trên sàn xe cùng với những tấm bản đồ, báo cũ và chai Coca-Cola. Hắn mơ màng sau tay lái, hoặc tranh cãi và khua tay múa chân, và do đó vị bác sĩ già không chịu đi cùng xe với hắn.

Wilhelm bực tức từ nghĩa trang quay về vì băng ghế đá giữa phần mộ mẹ và bà ngoại đã bị tụi lưu manh xô nhào rồi rồi đập nát. "Mấy thằng oắt con ngày càng khốn kiếp," hắn mắng. "Nghĩ sao mà nện búa tan nát cái ghế. Cứ để tao bắt được một đứa bọn mày đi!" Hắn muốn bố mình chi tiền mua ghế mới, nhưng bố hắn tỏ ra lạnh tanh. Ông bảo khi chết sẽ chọn cách hỏa táng.

Lão Perls bảo, "Đâu có trách được tại sao anh không ngủ được ở cái chốn này." Lão chỉnh giọng mình cho chói lên như thể bị một chút nặng tai. "Anh biết cái cô Parigi dạy âm nhạc bên kia không? Chúa ơi, họ làm cho cái khách sạn này đầy rẫy những thứ kỳ khôi. Cái cô người Estonia cùng bầy chó mèo đấy ở tầng nào thế nhỉ? Đáng lẽ người ta phải tiễn cô ta đi lâu rồi mới phải."

"Họ chuyển cô ta xuống mười hai rồi," Adler đáp.

Wilhelm gọi bữa sáng kèm một chai Coca-Cola. Hắn lặng lẽ mò mẫm trong túi áo khoác đầy phong thư được hai viên thuốc. Những tờ giấy bị cầm nắn nhiều nên mỏng và ỉu đi. Sau tờ giấy ăn, hắn nốc một viên an thần Phenaphen và một viên Unicap, nhưng không qua được cặp mắt tinh nhạy của ông bác sỹ già, "Wilky, con uống thuốc gì đó?"

"Vitamin thôi mà." Hắn bỏ đầu lọc thuốc lá sang gạt tàn bàn đằng sau vì biết bố mình không ưa mùi thuốc. Rồi uống Coca-Cola.

"Anh uống thứ đó vào buổi sáng đó hả, sao không uống nước cam?" lão Perls bảo. Lão cảm nhận được nếu giễu nhại con trai Adler một chút thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến thâm tình của hai người mấy.

"Caffeine kích thích hoạt động của não bộ," người bác sỹ già nói. "Cũng như hệ thống hô hấp."

"Chỉ là thói quen lúc còn chạy xe đường dài thôi, chẳng có gì sất," Wilhelm nói. "Nếu bố lái xe lâu thì nó sẽ ảnh hưởng tới não, dạ dày và mấy thứ khác thôi."

Bố hắn giải thích, "Wilky từng làm cho tập đoàn Rojax. Trước khi chấm dứt liên hệ thì nó từng là đại diện phân phối khu đông bắc cho một mặt hàng trong một thời gian dài."

"Vâng," Wilky bảo. "Cháu ở đó cho đến khi chiến tranh kết thúc." Hắn hớp Coca-Cola và nhai nước đá, nhìn mọi người xung quanh với lòng từ bi rộng rãi, dao động và kiên nhẫn. Nữ phục vụ đặt trước hắn hai quả trứng luộc.

"Cái tập đoàn Rojax ấy sản xuất gì vậy?" Lão Perls hỏi.

"Thiết bị trẻ em. Bàn ghế nhỏ, thú lắc, dụng cụ tập thể dục, xe trượt, xích đu, bập bênh các thứ."

 

Thêm vào giỏ hàng thành công