CHƯƠNG VI
Lúa mạch đen vẫn tăng trong lúc họ ra ngoài ăn trưa. Còn mỡ lợn vẫn giữ nguyên hằng giá.
Họ ngồi ở tiệm cà phê có mặt tiền dát vàng. Bên trong và bên ngoài cùng một kiểu thiết kế. Đồ ăn trông thật xa xỉ. Những con cá nguyên con như một bức tranh được đóng khung bởi những củ cà rốt, và xa lát trông như một quả đồi hay kim tự tháp Mexico; những lát chanh, hành tây và củ cải đỏ trông như mặt trăng, mặt trời và những vì tinh tú. Những miếng bánh phủ một lớp kem dày tầm ba mươi xen ti mét, bên dưới cốt bánh căng phồng lên như thể ai đó đã nướng nó trong giấc mơ của mình.
"Cậu ăn gì?" Tamkin nói.
"Ít thôi. Tớ đã ăn sáng nhiều quá rồi. Tớ sẽ kiếm bàn. Mang cho tớ ít sữa chua, bánh bích quy và một tách trà. Tớ không muốn phí thời gian vào chuyện ăn trưa."
Tamkin nói, "Nhưng cậu phải ăn."
Tìm một bàn trống vào lúc này không phải dễ. Những người già khe khẽ tán chuyện phiếm khắp nơi. Những bà cụ cùng mái tóc vuốt ngược, quét mascara, nhuộm màu xanh lam, đánh phấn mắt và đeo trang sức hóa trang, và nhiều người trong số sẽ nhìn chằm chằm về phía bạn với một biểu cảm xa lạ, như thể bạn không thuộc về lứa tuổi của họ. Lẽ nào không còn những bà cụ đáng kính đan khăn hay trông con cháu nữa ư? Bà Wilhelm từng mặc cho hắn bộ đồ thủy thủ, và để hắn nhún nhảy trên đầu gối mình, thổi cháo cho hắn và nói, "Thưa Ngài Đô đốc, Ngài phải ăn." Nhưng quá muộn mằn rồi mới nhớ lại thì được gì?
Wilhelm đi kiếm chỗ, bác sỹ Tamkin đi theo cùng với một khay đầy ứ đĩa và cốc. Thịt hầm Yankee, cải bắp tím, khoai tây, một miếng dưa hấu lớn, và cốc cà phê. Wilhelm thậm chí còn không thể nuốt miếng sữa chua. Lồng ngực hắn vẫn còn đau nhói. Ngay lập tức, Tamkin lôi hắn vào một cuộc thảo luận dài. Y làm vậy hòng nhốt giữ và ngăn không cho Wilhelm bán lúa mạch đen – hay khơi dậy lại vị trí đã mất khi y làm cho Wilhelm tức giận với lời nói về tính cách điên? Hay thực sự y không hàm ẩn ý định gì?
"Tớ nghĩ cậu đắn đo quá nhiều về chuyện vợ và bố cậu sẽ nghĩ sẽ nói gì. Chuyện đó quan trọng lắm à?"
Wilhelm đáp, "Một người có thể sẽ trở nên chán ghét mình sau khi đã cố gắng để sửa sang bản thân anh ta. Tớ không thể tốn thêm nửa quãng đời còn lại để phạm lại những lỗi lầm cũ nữa."
"Tớ tin rằng bố cậu đã nói tớ rằng ông ta có một khoản tiền để lại cho cậu."
"Cũng có thể ông ta có gì đó."
"Nhiều lắm à?"
"Ai mà biết," Wilhelm cảnh giác nói.
"Cậu nên tính đến chuyện mình sẽ làm gì với nó."
"Khi có được gì đó suy nghĩ tớ trở nên nhu nhược. Nếu tớ có gì đó."
“Một chuyện như thế thì cậu nên tính toán cho kỹ. Phải đầu tư đúng cách,” Tamkin nói, rồi bắt đầu hé lộ những toan tính của mình – kiểu đầu tư dây chuyền, trong đó bạn mua trái phiếu, dùng trái phiếu ấy làm vật thế chấp để mua tiếp thứ khác, và nhờ vậy thu về mười hai phần trăm lợi nhuận an toàn trên số vốn của mình. Wilhelm không theo kịp hết. Tamkin nói tiếp: “Nếu bây giờ ông ta để lại gia sản cho cậu dưới hình thức một món quà thì cậu không phải đóng thuế thừa kế nữa.”
Wilhelm cay đắng đáp: “Cái chết của bố tớ sẽ xóa sạch mọi thứ khác trong đầu ông ấy. Ông bắt tớ cũng phải nghĩ đến chuyện đó. Rồi ông ghét tớ vì ông thành công. Khi tớ tuyệt vọng – dĩ nhiên tớ nghĩ đến tiền. Nhưng tớ không muốn có điều gì xấu xảy ra với ông. Tớ không muốn ông chết, thật đấy.” Đôi mắt nâu của Tamkin lóe lên ánh sắc sảo. “Cậu không tin đâu. Có thể điều này chẳng liên quan đến tâm lý học. Nhưng tớ nói thật lòng danh dự. Đùa là đùa, nhưng tớ không đùa về những chuyện như thế. Khi ông ấy chết, tớ sẽ bị cướp mất một thứ gì đó – tớ sẽ chẳng còn người cha nào nữa.”
"Cậu có yêu bố cậu không?"
Wilhelm nắm ngay lấy điểm đó. “Dĩ nhiên, dĩ nhiên là tớ yêu ông ấy. Bố tớ. Mẹ tớ…” Khi hắn nói ra điều đó, như có một lực kéo sâu thẳm bật dậy từ chính tâm hồn mình. Giống như lúc một con cá giật dây câu – ta cảm nhận rõ luồng sinh khí vùng vẫy trong lòng bàn tay. Một sinh thể bí ẩn nơi tầng sâu dưới nước, bởi cơn đói thúc đẩy, đã cắn câu và vội giãy thoát, vùng vẫy, quằn quại. Wilhelm không bao giờ thấy rõ được thứ gì đã khuấy động trong lòng hắn. Nó không hiện nguyên hình, mà tan biến.
Và Tamkin – kẻ gieo rối cho trí tưởng tượng – bắt đầu kể, hay có thể là bịa, về một quá khứ kỳ lạ của cha y. “Ông là một ca sỹ tuyệt vời,” y nói. “Ông bỏ lại năm đứa con chúng tớ để đi theo một nữ ca sĩ opera soprano. Tớ chẳng bao giờ trách ông, ngược lại, còn khâm phục cách ông sống trọn với nguyên tắc của mình. Tớ cũng từng muốn làm như thế. Vì bất hạnh thay, đến một độ tuổi nào đó, não bộ ta bắt đầu chết dần từ ngoài vào.” (Đúng, đúng thế! Wilhelm nghĩ) “Hai mươi năm sau, khi tớ đang làm thí nghiệm ở hãng Eastman Kodak, Rochester, tớ tình cờ gặp lại ông. Và ông có thêm năm đứa nữa.” (Không, sai rồi! Wilhelm nghĩ) “Ông khóc, ông cảm thấy xấu hổ. Tớ chẳng có gì chống lại ông. Chỉ là thấy lạ lùng thôi.”
“Bố tớ cũng trở nên xa lạ với tớ,” Wilhelm nói, giọng trầm xuống, và hắn bắt đầu chìm vào suy tưởng. Người ông ấy từng là, giờ đã đi đâu mất? Hay chính mình đã từng là con người đó? Catherine – chính cô em gái ruột của hắn – giờ còn chẳng buồn nói chuyện với hắn nữa. Có lẽ điều khiến bố hắn quay lưng không phải chỉ là rắc rối của hắn, mà là sự rối loạn tận gốc bên trong hắn. Mọi thứ vượt khỏi sức chịu đựng. Những tàn tích của một đời, và chồng lên đó là hỗn độn – đêm đen, lộn xộn, cũ kỹ. Liệu có dễ dàng hơn cho cha, khi hai người chia tay mà chẳng còn thân thiện? Có lẽ ông nên làm thế bằng cơn giận – “Ta nguyền rủa mày, đồ bất hiếu!” Và rồi, Wilhelm mơ hồ tự hỏi: Tại sao ông ấy – hay bất kỳ ai – lại cần phải động lòng trắc ẩn với mình? Tại sao mình lại cảm thấy cần được thương hại? Chắc hẳn đó chỉ là tâm trí trẻ con trong hắn – cái niềm tin ngây ngô rằng, chỉ cần ta cần, người khác sẽ sẵn lòng cho.
Rồi Wilhelm nghĩ đến hai đứa con trai của mình, nghĩ về cách hắn xuất hiện trước mặt chúng và chúng sẽ nghĩ gì về hắn. Lúc này, may mà hắn còn có bóng chày làm cái cớ. Nhưng khi hắn đến đón chúng, đến Ebbets Field, hắn như không còn là chính mình nữa. Hắn trưng ra một bộ mặt tử tế, nhưng trong lòng lại có cảm giác như vừa nuốt một nắm cát khô. Ngôi nhà vừa lạ lẫm vừa thân quen, gượng gạo một cách thảm hại; con chó Scissors nằm ngửa lăn lộn, sủa và rên ư ử. Wilhelm làm ra vẻ như chẳng có gì bất thường, nhưng trong lòng hắn nặng trĩu, rã rời. Trên đường đến Flatbush, hắn sẽ nghĩ ra mấy chuyện tiếu lâm về Pigtown và Charlie Ebbets ngày xưa cho tụi nhỏ, cùng những hồi ức về các ngôi sao cũ, nhưng trong lòng vẫn nặng nề vô cùng. Chúng đâu biết hắn thương chúng đến dường nào. Không. Nghĩ đến việc Margaret xúi chúng chống lại cha khiến hắn đau nhói. Ả muốn hủy hoại hắn, trong khi vẫn đeo bộ mặt nhân từ. Ở Roxbury, hắn phải đi giải thích với vị linh mục, người chẳng hề cảm thông. Họ chẳng cần biết cá nhân là ai, luật lệ mới là trên hết. Olive nói rằng nàng sẽ lấy hắn ngoài Nhà thờ khi hắn ly dị vợ. Nhưng Margaret không chịu buông tha. Cha của Olive là một ông già tử tế, bác sĩ chỉnh xương, và ông hiểu rõ mọi chuyện. Cuối cùng ông nói, “Nghe này, tôi phải khuyên bảo Olive. Nó hỏi ý tôi. Suốt đời tôi vốn khá phóng khoáng, nhưng con bé còn phải sống ở thành phố này.” Đến lúc đó Wilhelm và Olive đã gặp nhiều rắc rối, nàng bắt đầu sợ hãi những ngày tháng hắn ở Roxbury, nàng nói vậy. Hắn run rẩy vì sợ làm tổn thương cô gái nhỏ bé, xinh đẹp, nước da ngăm mà hắn say mê. Mỗi khi nàng tỉnh dậy muộn vào sáng Chủ nhật, nàng lại bật khóc vì sợ đến lễ muộn. Hắn vội giúp nàng kéo bít tất, chỉnh lại váy áo, đội mũ với đôi tay run rẩy; rồi hấp tấp lái xe chở nàng đến nhà thờ, đi lì trong số hai, vừa lái vừa xin lỗi, vừa trấn an nàng. Nàng xuống xe cách nhà thờ một đoạn để tránh điều tiếng. Dẫu vậy, nàng vẫn yêu hắn, và đã sẵn sàng cưới hắn nếu hắn ly dị được vợ. Nhưng chắc chắn Margaret đã đánh hơi thấy. Margaret bảo rằng hắn thật ra không hề muốn ly hôn; hắn sợ điều đó. Hắn khóc lóc van xin, “Lấy hết mọi thứ anh có đi, Margaret. Hãy để anh đến Reno. Em không muốn tái hôn sao?” Không. Ả vẫn đi với những gã đàn ông khác, nhưng lại lấy tiền của hắn. Ả sống chỉ để hành hạ hắn.
Bác sỹ Tamkin nói với Wilhelm, "Bố cậu ghen tị với cậu đấy."
Wilhelm cười, "Với tớ ư? Cười chết mất."
"Dĩ nhiên. Đàn ông với nhau ai lại không ghen tị với những thằng bỏ vợ."
"Ô," Wilhelm kinh miệt. "Nói đến vợ này vợ nọ thì ông ta chẳng cần ghen tức gì với tớ."
"Vâng, vợ cậu cũng ghen tị nốt. Cô ta nghĩ là, Hắn đã tự do và giờ thì cặp gái trẻ. Cô ấy già chưa?”
"Không hẳn," Wilhelm nói, nói đến vợ con làm hắn buồn. Hai mươi năm trước, trong một bộ áo len dạ màu xanh da trời, một chiếc mũ vải mềm may cùng loại vải – hắn có thể thấy ả hiện ra. Hắn cúi cái đầu vàng hoe của mình xuống quá vành mũ, nhìn gương mặt mộc mạc, trong trẻo của ả, đôi mắt tràn nhựa sống động đậy, mũi nhỏ nhắn, xương quai hàm đẹp đẽ, khắc khổ vừa vặn với khuôn mặt. Đó là ngày trở lạnh, nhưng hắn vẫn nghe được mùi gỗ thông trong nắng, trên hẻm núi hoa cương. Ngay phía nam Santa Barbara, chốn đó.
"Ả bốn mấy tuổi," hắn đáp.
"Tớ đã cưới một con ma men," Tamkin nói. "Nghiện rượu đến cuồng. Tối nào đi ăn ngoài cũng đều bất thành vì nàng sẽ lẻn vào trong nhà vệ sinh nữ rồi thoắt biến vào bar. Tớ bảo với nhân viên pha chế không nên phục vụ nàng. Nhưng tớ yêu nàng đậm sâu. Nàng là người phụ nữ nhiệt thành nhất trong những chuyến lưu lạc của tớ."
"Giờ cô ta đang ở đâu thế?"
“Chết đuối,” Tamkin nói. “Ở Provincetown, Cape Cod. Chắc chắn là tự tử. Nàng vốn như vậy – có khuynh hướng tự hủy. Tớ đã cố gắng hết sức để chữa cho nàng. Bởi vì,” Tamkin nói, “thiên chức thật sự của tớ là làm người chữa lành. Tớ bị thương tổn. Tớ chịu đựng vì nó. Tớ muốn thoát khỏi những căn bệnh của người khác, nhưng không thể. Nói cho đúng thì, bản thân tớ chỉ là kẻ vay mượn chính mình. Tớ thuộc về nhân loại.”
Nói dối! Trong lòng Wilhelm gào lên. Nói dối trắng trợn. Y bịa ra một người phụ nữ, giết cô ta và gọi mình là người chữa lành, và tự làm mình tha thiết đến nỗi trở thành một con cừu xấu cốt. Y là một con quỷ nhỏ bành trướng và đi dối gạt với đôi chân thối. Một bác sỹ! Một bác sỹ thì nên tắm rửa cho kỹ. Y tưởng mình đang tạo ra một ấn tượng lóng lánh và ý nhị nhắc nhở ta nên ngả mũ khi y kể về chính mình; và y nghĩ mình tưởng tượng giỏi, nhưng y không, và cũng chẳng thông minh cho đặng.
Vậy cớ gì mình ngồi đây với y và đưa y bảy trăm đô vét túi? Wilhelm nghĩ.
Ôi, hôm nay là ngày phán xét. Đây là một ngày, hắn nghĩ, dù muốn hay không, hắn cũng sẽ nhìn thật kỹ vào sự thật. Hắn thở nhọc và chiếc mũ méo mó chụp xuống gương mặt vàng hoe sậm sẫm, sưng phù. Vẻ lỗ mãng. Tamkin là một kẻ lang băm, và hơn nữa y đang tuyệt vọng. Và hơn nữa, Wilhelm luôn biết rõ điều đó về hắn. Nhưng sâu thẳm trong lòng hắn dường như đã tự nhủ rằng Tamkin suốt ba bốn mươi năm đã vượt qua bao tình thế khó khăn, hẳn y cũng sẽ vượt qua cơn ác mộng này và đưa hắn, Wilhelm, đến nơi an toàn. Và Wilhelm nhận ra chính hắn đang cưỡi trên lưng Tamkin. Nó khiến hắn cảm thấy như đã nhấc hẳn chân khỏi mặt đất và cưỡi trên người đàn ông kia. Hắn lơ lửng giữa không trung. Để Tamkin bước đi từng bước.
Bác sỹ, nếu y thực sự là bác sỹ, chẳng trông có vẻ lo lắng. Nhưng gương mặt y vốn chẳng có nhiều biểu cảm. Luôn miệng nói về những cảm xúc tự phát và sự cởi mở tiếp nhận, những xung lực tự do, vậy mà y lại vô cảm như cái gối cắm kim. Khi câu thần chú thôi miên của y thất bại, cái môi dưới to bè khiến y trông ngốc nghếch. Sự sợ hãi lóe lên trong mắt y, đôi lúc, yếu ớt đến mức khiến người ta phải thương hại y. Một hai lần Wilhelm đã thấy ánh mắt ấy. Như một con chó, hắn nghĩ. Có lẽ giờ y chẳng trông thế, nhưng vẫn rất lo lắng. Wilhelm biết, nhưng không thể thừa nhận công khai. Bác sỹ cần chút thời gian, chút khoảng trống. Không nên dồn ép y lúc này. Thế nên Tamkin cứ tiếp tục kể những câu chuyện của mình.
Wilhelm tự nhủ, mình đang trên lưng y – lưng y. Mình đã đặt cược bảy trăm đô, nên không còn làm gì khác ngoài cầm lấy dây cương. Mình phải đi cùng với y. Quá muộn rồi. Mình không thể thối lui được nữa.
"Cậu biết không," Tamkin nói, "lão mù Rappaport kia – lão ấy gần như là không thấy gì được nữa – là một trong những người có tính cách tuyệt vời nhất nơi đây. Chỉ cần cậu có thể khiến lão kể thật. Thì hấp dẫn lắm. Lão ta từng kể tớ nghe chuyện này. Cậu hay nghe tới những người có hai vợ cùng cuộc sống bí mật của họ. Nhưng lão không che giấu ai bất cứ điều gì, một bô lão hoàn toàn bình thường. Giờ để tớ kể cậu nghe chuyện lão. Lão có hai gia đình, riêng biệt và ở cách xa nhau, một ở Williamsburg và cái còn lại thì ở Bronx. Hai bà vợ biết nhau. Bà ở Bronx trẻ hơn; nay chắc tầm bảy mươi. Lúc nào lão mệt với bà này thì qua bà kia ở. Trong lúc đó lão làm chủ việc kinh doanh thịt gà ở New Jersey. Một bà vợ thì có bốn đứa con, bà kia sáu. Chúng đều đã trưởng thành, nhưng chưa bao giờ được gặp những anh chị em cùng cha khác mẹ của mình và họ cũng chẳng muốn. Tất cả tên bọn họ liệt đầy một trang danh bạ."
"Tớ tin không nổi," Wilhelm nói.
"Chính lão kể tớ nghe mà. Và cậu biết gì nữa không? Khi còn thị lực, lão đọc rất nhiều, nhưng chỉ toàn là sách của Theodore Roosevelt. Lão có một bộ ở từng nơi lão sống, và nuôi nấng con cái theo những cuốn sách ấy."
"Làm ơn," Wilhelm nói. "Đừng mớm cho tớ những thứ như thế nữa, được chứ? Làm ơn đừng…"
"Kể cậu nghe chuyện này," Tamkin nói với vẻ phiêu diêu thôi miên của y, "tớ có lý do cả. Tớ muốn cho cậu thấy cách một số người tự phóng thích được mình ra khỏi cảm giác tội lỗi bệnh hoạn và sống một cuộc đời theo đúng bản năng. Bẩm sinh, những đứa con biết cách làm cho bố chúng cảm thấy tội lỗi. Đó là sự hủy diệt đặc biệt mà những người đàn bà gửi tới chồng họ như lời nguyền. Như thể cô ta nói, 'Trừ khi tôi cho phép, anh sẽ không còn được là một người đàn ông nữa.' Nhưng đàn ông như ông bố quá cố của tớ hay lão Rappaport đáp ngay, 'Đàn bà, ngươi là thứ chi trong cuộc đời ta.' Cậu đã không thể làm vậy. Trường hợp của cậu lần lữa giữa hai điều. Cậu muốn đi theo sự khác biệt của mình, nhưng vẫn lo lắng quá nhiều. Lấy ví dụ, các con trai cậu…"
"Dừng lại đi," Wilhelm nói, chân dậm xuống nền. "Một điều duy nhất! Đừng mang con tôi vào. Tha cho chúng."
"Tớ chỉ định nói tốt hơn là chúng không nên vào những xung động trong gia đình."
“Tôi bị tước mất các con của mình.” Wilhelm cắn môi. Giờ thì đã quá muộn để quay đầu. Cơn thống khổ ập đến với hắn. “Tôi cứ trả và trả. Tôi chẳng bao giờ được gặp chúng. Chúng lớn lên không có tôi. Ả khiến chúng giống y như ả. Ả nuôi dạy chúng để sau này trở thành kẻ thù của tôi. Làm ơn, đừng nói về chúng nữa.”
Nhưng Tamkin nói, “Tại sao cậu lại để cô ta làm mình khổ đến thế? Như vậy là đi ngược với mục đích ban đầu khi cậu rời bỏ cô ta. Đừng chơi theo luật của cô ấy. Giờ thì, Wilhelm, tớ đang cố làm điều gì đó tốt cho cậu đây. Tớ muốn nói rằng đừng có cưới sự đau khổ. Nhiều người làm thế đấy. Họ kết hôn với nó, cùng ăn cùng ngủ, y như vợ chồng. Và khi họ được vui, thì lại nghĩ rằng mình đã ngoại tình.”
Nghe đến đây, dù đang khổ sở thế nào, Wilhelm vẫn phải thừa nhận rằng trong lời của y có quá nhiều điều đúng. Ừ, Wilhelm nghĩ, đau khổ là kiểu sống duy nhất mà con người chắc chắn có, và nếu họ thôi khổ, họ sợ chẳng còn gì cả. Hắn biết điều đó. Lần này, kẻ giả mạo kia thật sự biết mình đang nói gì.
