CHƯƠNG V (2)
Một ánh nhìn lạ kỳ thoáng hiện trên gương mặt Wilhelm – đôi mắt hắn tròn mở, môi trên khẽ nhướng. Hắn nghiêng người ra phía trước, lặng đi trong cơn ngẫm nghĩ – và khi người ta ở trong trạng thái như thế, cảm thấy cả nhân loại đều bị ruồng bỏ, thì sẽ nhận ra rằng đó chỉ là một chuyện nhỏ nhặt. Bởi bên ngoài đó còn có một thân thể lớn lao hơn, nơi mà con người không thể tách rời. Ly nước phai đi. Ta không thể từ giản số a, giản số b mà vươn tới phức số x, phức số y; cũng như chuyện đồng ý hay phản đối về ly nước chẳng còn quan trọng. Ở sâu bên dưới những chi tiết ấy, cái mà Tamkin gọi là linh hồn đích thực sẽ cất lên tiếng nói giản dị, dễ hiểu với mỗi người. Nơi ấy, những người cha và những người con trai đều là chính họ, còn ly nước chỉ là một vật trang trí; nó vẽ lên khăn bàn một vòng sáng chói; nó là khuôn miệng của thiên thần. Ở đó, sự thật sẽ được sẻ chia cho tất cả, còn hỗn độn chỉ là – chỉ là tạm thời thôi, Wilhelm nghĩ.
Ý niệm về thân thể lớn lao ấy đã nảy ra trong đầu hắn vài ngày trước, dưới quảng trường Times, khi hắn vào trung tâm thành phố để mua vé xem bóng chày thứ Bảy (trận đấu kép[1] ở sân Polo Grounds). Hắn đi qua một hành lang ngầm – nơi hắn luôn ghét cay ghét đắng, và giờ lại càng ghét hơn bao giờ hết. Trên những bức tường chen chúc quảng cáo, hắn thấy vài dòng chữ viết bằng phấn: “Đừng phạm tội nữa,” và “Đừng ăn thịt lợn.” Và trong đường hầm ấy – tối tăm, nóng nực, ngột ngạt – nơi ánh sáng làm méo mó mọi khuôn mặt, biến chúng thành những tạo hình kỳ quặc với mảnh mũi, con mắt, hàm răng rời rạc, thì đột nhiên, thật bất ngờ, một niềm yêu thương bao la dành cho tất cả những con người bất toàn và méo mó kia bừng dậy trong lồng ngực Wilhelm. Hắn yêu họ. Tất cả – không trừ ai – hắn yêu họ nồng nàn. Họ là anh chị em ruột thịt của hắn. Hắn cũng bất toàn, cũng khập khiễng như họ, nhưng điều đó còn có gì khác biệt đâu khi họ cùng hòa trong ngọn lửa tình yêu ấy? Và khi bước đi, hắn bắt đầu thì thầm: “Ôi những người anh, những người chị của ta ơi,” – cầu phước lành cho họ, cũng như cho chính mình.
Nên bao nhiêu ngôn ngữ có còn quan trọng không, miêu tả cái ly nước bằng cách nào có còn là vấn đề hay không? Hay vấn đề là chỉ một sau thôi, hắn chẳng còn thấy gì gọi là tình cảm anh em một nhà với thằng cha nhượng lại vé?
Ngay trong buổi chiều hôm đó, Wilhelm đã chẳng còn giữ được chút cảm giác nhân ái nào như trước. Cơn xúc cảm ấy là gì chứ? Như thể con người mang trong mình sẵn cái năng lực đó, rồi đôi khi buộc phải trút nó ra, một cảm xúc tự phát, vô cớ mà ai cũng có thể trải qua. Nó cũng chỉ là một trong vô số hiện tượng điên rồ chốn tàu điện ngầm – như một lần bốc đồng vô nghĩa với người xa lạ nào đó. Nhưng hôm nay, vào ngày định mệnh này, hắn cố gắng nhớ lại, tự nhủ: Phải quay về với cảm giác ấy. Đó là manh mối đúng đắn, có thể giúp mình níu lại điều lớn lao nhất. Một cái gì đó rất lớn. Có thể là... sự thật.
Người đàn ông lớn tuổi ngồi bên phải hắn, lão Rappaport, gần như mù hẳn, cứ mải hỏi Wilhelm: “Lúa mì tháng Mười Một giá thế nào rồi, cậu? Cho tôi luôn cả đậu nành tháng Bảy nhé.” Mà khi hắn nói xong, lão chẳng bao giờ cảm ơn, chỉ buông gọn: “Được rồi,” hay “Xong,” rồi quay đi, cho đến khi lại cần hỏi tiếp. Lão già lắm, già hơn cả bác sỹ Adler – theo lời Tamkin, hồi trẻ từng là Rockefeller của ngành thịt gà, và đã về hưu với một gia sản đồ sộ.
Wilhelm luôn có một cảm giác kỳ lạ về ngành công nghiệp thịt gà – có gì đó lạnh sống lưng. Dọc đường hắn vẫn thường thấy những trại gà nằm rải rác, những dãy nhà gỗ lụp xụp giữa cánh đồng bỏ hoang, chẳng khác nào nhà tù. Đèn trong đó thắp sáng suốt đêm để đánh lừa lũ mái tội nghiệp đẻ thêm trứng. Rồi đến công đoạn giết mổ. Sau đó, khi quây đống lồng gà chất chồng, chỉ trong một tuần, những núi xác ấy có thể cao hơn cả Everest hay ngọn Thủy Thanh. Máu sẽ đỏ cả Vịnh Mexico, còn phân gà, chất thải axit, sẽ thiêu đốt cả mặt đất.
Rappaport bao nhiêu tuổi rồi nhỉ? Những vết chàm tím đã in sâu trên mũi, vành tai lão xoắn lại như lõi bắp cải. Dưới cặp kính dày cộp, đôi mắt mờ đục, khói xám.
“Đọc tôi giá đậu nành đi, cậu nhóc,” lão bảo. Wilhelm làm theo. Hắn nghĩ lão có thể cho mình vài chiêu, vài lời khuyên, hay gợi ý gì đó về Tamkin. Nhưng không. Lão chỉ ghi chép gì đó lên mảnh giấy, rồi nhét vào túi, chẳng cho ai nhìn thấy mình viết gì. Wilhelm nghĩ: Đó hẳn là kiểu người trở nên giàu có nhờ tàn sát hàng triệu sinh mạng nhỏ bé – lũ gà con đáng thương. Và nếu có một kiếp sau, hẳn lão sẽ phải trả lời cho từng cái chết ấy. Mà nếu thật có đời sau, thì mọi người đều sẽ phải trả lời. Mà nếu thật có đời sau – thì lũ gà ấy, có lẽ, sẽ được yên thân.
Ôi! Những điều sáng nay hắn làm kỳ thực ngốc nghếch làm sao. Phù!
Cuối cùng, lão Rappaport cũng để lại trong Wilhelm một vài ấn tượng. Lão hỏi hắn đã có người giữ ghế ở hội đường cho lễ đền tội chưa.
"Chưa," Wilhelm nói.
"Thế thì cậu phải nhanh lên thì mới mong cầu được Yiskor cho bố mẹ cậu. Cậu sẽ lỡ mất đấy."
Và Wilhelm nghĩ, Vâng, mình định sẽ đọc kinh một lần cho mẹ. Mẹ hắn đã từng theo Giáo phái Cải cách. Bố hắn không mang tôn giáo. Ở nghĩa trang hắn đã phải trả tiền cho một gã để đọc kinh tiễn mẹ. Gã đứng giữa những bia mộ và muốn được bo thêm tiền cho bài El molai rachamin. "Bởi Chúa lòng lành," Wilhelm đoán nghĩa nó là như thế. B'gan Aden - "Ở Thiên Đường." Vừa nói theo nhịp, họ vừa hô ra, B'gan Ay-den. Băng ghế vỡ cạnh phần mộ khiến hắn ước có thể làm được gì đó. Wilhelm hay khấn nguyện theo cung cách của mình. Hắn không tới hội đường nhưng ít nhất, trong những hồn mình hắn vẫn thể hiện những sự sùng kính nhất định. Giờ hắn tư lự, Trong mắt bố mình là một người Do Thái lạc loài. Ông không thích những gì mình làm. Chỉ có ông ta mới là người Do Thái đích thực. Dẫu bạn có là gì, bạn cũng sẽ biến thành một kẻ ngoài cuộc.
Lão Rappaport cắn lấy điếu thuốc rồi phả ra những làn khói nhẹ, và tấm bảng, như một bầy ong điên, ro ro chạy.
"Vì lão đã làm trong ngành kinh doanh thịt gà nên tôi nghĩ lão sẽ đầu tư vào trứng, phải không, Quý ông?" Wilhelm, với tiếng cười ấm áp lẫn hụt hơi, tìm cách để thu hút ông lão.
"Ồ. Ừa. Chung thủy chứ hả?" Rappaport già bảo. "Ta nên bám lấy chúng. Ta đã sống quá lâu giữa tụi gà. Dường như sắp trở thành chuyên gia sinh lý cho gà. Khi một con mái ấp trứng, cậu phải nói được trứng là trống hay mái. Không dễ đâu. Cậu cần phải trau dồi kinh nghiệm dài, rất dài. Cậu nghĩ nó là một trò đùa ư? Cả ngành công nghiệp ngả theo nó. Vâng, giờ thì ta đặt một lệnh đơn trứng. Hôm nay cậu chơi gì?"
Wilhelm lo lắng nói, "Mỡ lợn. Lúa mạch đen."
"Bán? Mua?"
"Mua rồi."
"Ừm," lão già nói. Wilhelm không thể kết luận được gì bằng cách cư xử đó. Nhưng dĩ nhiên ta cũng không thể mong đợi rằng lão sẽ tự mình làm rõ ý mình ra được. Đó không phải dấu hiệu tỏ vẻ muốn cho ai đó thông tin. Quặn lên trong ao ước, hắn mong lão Rappaport sẽ cho mình một ngoại lệ. Chỉ lần này thôi! Vì nó rất hệ trọng. Lặng lẽ, bằng một loại tập trung cách cảm, hắn cầu xin lão nói ra lời gì đó để cứu vớt mình, cho hắn một dấu hiệu đơn điệu nhất. "Ôi, xin hãy giúp – giúp tôi với" hắn gần như nói ra. Giá như Rappaport nhắm một bên mắt, hoặc nghiêng đầu qua một bên, hoặc giơ tay lên chỉ một cột trên tờ giấy hay một con số trong xấp giấy của lão. Đó là gợi ý! Một gợi ý!
Một lớp tàn thuốc dài hoàn hảo vương lại trên điếu xì gà, làn hơi trắng tỏa ra trên lá cuốn với những lằn gân và vị nồng nhạt dần. Không ai để ý tới nó, trong vẻ đẹp của mình, bởi người đàn ông quá già. Bởi vì nó đẹp đẽ. Wilhelm cũng đã ngơ đi.
Đoạn Tamkin bảo hắn, "Wilhelm, nhìn cú nhảy vọt của lúa mạch mà xem."
Lúa mạch đen vừa nhảy lên ba điểm lúc họ căng thẳng chăm chú vào bảng; lẫy khóa lật liên hồi, đèn nhấp nháy.
"Một điểm rưỡi nữa. Chúng ta sẽ bù được khoản lỗ mỡ lợn," Tamkin nói. Y đưa hắn xem những tính toán của mình ghi lên lề tờ Times.
"Tớ nghĩ ta nên rút lui thôi. Thua ít cũng được."
"Rút bây giờ ư? Không đời nào."
"Tại sao? Tại sao chúng ta lại chờ tiếp?"
"Vì," Tamkin nói với một nụ cười gần như ngạo nghễ, "cậu phải giữ tinh thần thép khi giá trị chứng khoán bắt đầu nhảy số. Giờ là lúc cậu cần phải làm gì đó."
"Tớ sẽ bán ra ngay khi nó được chút giá."
"Không, không phải là nên loạn trí lên như thế. Tớ biết rõ cách thể chế hoạt động, những phiên ở Chicago. Nguồn cung lúa mạch đen tháng Chạp đang thiếu. Nhìn xem, lại thêm một phần tư điểm nữa kia. Chúng ta cứ cầm nó cho chắc thôi."
"Tớ không còn thú đánh cược nữa," Wilhelm nói. "Cậu không thể thấy an toàn khi nó tăng quá nhanh như vậy được. Rất có thể rồi nó sẽ sụt xuống nhanh thôi."
Khô khốc, như thể đang phải dỗ một đứa trẻ, Tamkin nói với vẻ kiên nhẫn đã cạn kiệt:
“Nghe này, Tommy. Tớ đã chẩn đoán đúng. Nếu cậu thực sự muốn bán, tớ sẽ ra lệnh bán. Nhưng đây là sự khác biệt giữa trạng thái khỏe mạnh và bệnh lý. Người khỏe mạnh là kẻ khách quan, không đổi ý từng phút, và biết thưởng thức yếu tố rủi ro. Nhưng tính cách như thế không phải là bệnh hoạn. Còn tính cách điên loạn thì…”
“Khỉ thật, Tamkin!” Wilhelm bật gắt, giọng nghẹn lại. “Bỏ ngay đi. Tớ không chịu được nữa. Đừng lôi cái tính cách của tớ ra mổ xẻ. Đừng đem thêm những thứ đó vào đời tớ. Tớ nói rồi, tớ ghét kiểu đó lắm.”
Tamkin thôi, nhún nhường lại: “Ý tớ là,” y nói nhỏ nhẹ hơn, “cậu vốn không phải loại con buôn đâu – trong căn tính của cậu có nhiều nét nghệ sỹ hơn. Người buôn bán nằm trong khối cầu tiên tri của bản chất kinh tế. Và cậu, cậu cũng là một diễn viên nữa.”
“Dù tớ là loại gì đi nữa…” Một cơn giận yếu ớt nhưng nghẹn ngào dâng lên cổ Wilhelm. Hắn ho sặc, như thể bị cúm. Đã hai mươi năm rồi kể từ lần cuối hắn xuất hiện trước ống kính – chỉ một vai phụ thôi. Hắn thổi kèn túi trong bộ phim Annie Laurie. Annie đến để cảnh báo chàng Laird trẻ, nhưng hắn không tin, và gọi người thổi kèn tới để át tiếng cô. Hắn nhạo báng khi cô bấu chặt đôi bàn tay tuyệt vọng. Wilhelm, trong chiếc váy xếp ly, chân trần, thổi, thổi mãi – mà không một âm thanh nào vang lên. Tất nhiên nhạc đã được thu trước. Sau cảnh đó hắn phát ốm, cúm liệt giường, và mãi sau này vẫn đôi khi đau thắt lồng ngực.
“Cậu nghẹn à?” Tamkin hỏi. “Có lẽ cậu rối quá nên không suy nghĩ rõ ràng được. Cậu nên thử vài bài tập tư duy ‘Ở-Đây-và-Lúc-Này’ của tớ. Nó giúp cậu ngừng nghĩ về quá khứ, tương lai, và bớt rối loạn hơn đấy.”
"Ừ, ừ, ừ, ừ," Wilhelm nói, mắt dán vào lúa mạch tháng Chạp.
"Tự nhiên chỉ biết một điều, đó là hiện tại. Hiện tại, hiện tại, hiện tại bất diệt, như một làn sóng to lớn, khổng lồ, vĩ đại – đồ sộ, đẹp đẽ, sáng rỡ, đầy sự sống và cái chết, trèo tới thiên thai, đứng giữa giang hà. Cậu phải đi theo những thứ đang xảy ra, "ở-đây-và-lúc-này", sự huy hoàng…"
… Ngực nhói, hồi ức về Margaret trôi trước mắt. Margaret đã chăm nom hắn. Họ từng có hai phòng chứa đồ đạc, nơi sau đó đã phải trả lại. Ả ngồi bên giường và đọc sách cho hắn nghe. Hắn bảo ả đọc đã nhiều ngày, và ả đọc những câu chuyện, thơ ca, mọi thứ trong ngôi nhà. Hắn choáng váng, ngột thở khi cố rít lấy điếu thuốc. Họ bắt hắn mặc một chiếc áo vest bằng vải nỉ.
Đến đây nào, Nỗi Buồn!
Nỗi buồn ngọt ngào nhất!
Như đứa bé ta nuôi mi từ bầu sữa mình![2]
Tại sao hắn lại nhớ đến chuyện này. Tại sao?
"Cậu phải chọn lấy những thứ đang xảy ra, vào giây phút tuyệt đối hiện tại," Tamkin nói. "Và tự nhủ rằng ở-đây-và-lúc-này, ở-đây-và-lúc-này, ở-đây-và-lúc-này. 'Tôi đang ở đâu?' 'Hiện tại.' 'Đây là khi nào?' 'Lúc này.' Chọn lấy một vật thể hay một con người. Bất cứ ai. 'Ở-đây-và-lúc-này tôi thấy một con người.' 'Ở-đây-và-lúc-này tôi thấy người đàn ông. Ở-đây-và-lúc-này tôi thấy một người ngồi trên ghế.' Cứ lấy tớ làm ví dụ. Đừng để tâm trí mình chạy lung. 'Ở-đây-và-lúc-này tôi thấy một người mặc suit nâu. Ở-đây-và-lúc-này tôi thấy một chiếc áo nhung kẻ.' Cậu phải thu vùng nó lại, một vật một lần, và tránh cho trí tưởng tượng bươn tới phía trước. Trú ngụ chốn hiện tại. Quắp lấy từng giờ, từng phút, từng khắc."
Y đang thôi miên hay lừa dối mình đấy ư? Wilhelm mông lung nghĩ. Để cho tâm trí mình không còn muốn bán nữa? Nhưng nếu mình gỡ lại được bảy trăm đô la, rồi mình sẽ ở đâu?
Như thể đang khấn nguyện, mi mắt của hắn chùng xuống với những đường gân nổi lên, bong ra, trên đôi mắt đẹp đẽ của y, Tamkin nói. " 'Ở-đây-và-lúc-này tôi thấy một cái chiếc khuy. Ở-đây-và-lúc-này tôi thấy một sợi chỉ khâu lại chiếc khuy. Ở-đây-và-lúc-này tôi thấy sợi chỉ màu xanh. ' " Từng nhích một, y suy nghĩ cách để làm Wilhelm thấy nó giúp hắn bình tĩnh lại như thế nào. Nhưng Wilhelm nghe thấy tiếng Margaret đọc sách, có phần khiên cưỡng.
Đến đây nào, Nỗi Buồn!
. . . .
Ta nghĩ mình rồi sẽ bỏ mi đi
Và gạt mi,
Nhưng bây giờ ta yêu mi nhất thế gian.[3]
Đoạn bàn tay già nhăn nheo của lão Rappaport khẽ nhấn đùi hắn, và lão nói, "Lúa mì của tôi thế nào rồi? Tụi khốn nạn chắn hết mẹ đường nhìn. Tôi không nhìn được."
