Widmann
Như tôi còn nhớ, một sáng đẹp trời tháng Ba, tôi rời Thun, nơi tôi đang ở, để đi Bern, tới nhà Widmann. Ở tuổi hai mươi, người ta vẫn còn khá rồ dại. Chính vì vậy mà tôi đã mặc lên người một bộ trang phục giữa hè màu vàng rơm rất lếch thếch, đi đôi giày khiêu vũ nhẹ và đội một cái mũ cố tình thật xấu, dạn dĩ và ngu xuẩn, và chắc chắn là không có trên mình bóng của một cái cổ áo trông ra gì.
Ngày thật lạnh và hoang dã; trời phủ đầy những đám mây nhiều đe dọa; nhưng ít nhất, trên đường sạch sẽ. Tôi đi từ làng này sang làng khác, bước chân mềm dẻo, nhậm lẹ. Vì đấy là một sáng Chủ nhật, gần như không có người đi lại trên đường. Mưa khởi sự rơi thành các giọt nhỏ lạnh và buốt, nhưng ở tuổi hai mươi, người hẵng còn chưa hề giỏi ngoạc mồm kêu ca, và thời tiết ủ dột thì có quan trọng mấy với tôi đâu. Thế giới có vẻ u tối, thù địch và cứng rắn, nhưng tôi chưa từng bao giờ đồng ý với việc một cái gì đó khắc nghiệt tuyệt đối không hề vương một vẻ đẹp đặc biệt.
Trong một khu rừng lãnh sam im lìm, tôi nghĩ mình có thể treo lại một chút bước chân nghiêm ngắn, bất di bất dịch của mình. Gió gầm gào tít trên cao trong những tán lá. Đối với người cuốc bộ trẻ tuổi và văn nhân mới vào nghề, đấy là một âm nhạc. Tôi lấy sổ và bút từ túi áo ra và đứng đó, lắng nghe nhà hát của tự nhiên, tôi viết vài câu thơ hay hoặc dở, hồ hởi và thành công hoặc ủ rũ và hỏng. Rồi tôi lại cất bước, nhanh nhảu và vui tươi.
Vùn đất có màu vàng, nâu và xám; đây kia, có các nơi với sự rực rỡ trang trọng, nghiêm tục, lục sẫm. Vẻ đẹp thanh lịch, bề thế của vài tòa lâu đài cổ hay nhà ở nông thôn đầy sướng vui tự dâng tặng cho niềm ngưỡng mộ.
Quãng giữa trưa, tôi đến trước nhà Widmann và kín đáo bấm chuông ở cổng vườn, thế là một cô bé con chạy xuống và lao đến để mở cửa cho người mới tới và kẻ mới vào nghề. Cô có thể thông báo ai đây?
"Tôi có thể là ai đây nếu chẳng phải cái kẻ, cách đây không lâu, đã gửi những bài thơ đầu tiên của mình cho ông Widmann, người đã có lòng tốt lớn lao và đồ sộ là lấy từ đó bảy hoặc tám bài để đăng trong một phụ trương Chủ nhật lừng danh!"
Chính bằng cách đó hoặc gần như vậy mà tôi to gan hoặc táo tợn đáp lại. Con người kiều diễm trẻ trung tinh nghịch liền biến mất để vào thông báo tôi. Một lúc sau, tôi ở trước mặt Widmann, ông đón tiếp tôi đầy thân tình với những lời sau: "A, vậy ra đây là nhà thơ trẻ của chúng ta!"
Tôi thử thực thi một cái gì đó giống một cú cúi người. Thời ấy, tôi hẵng còn thiếu luyện tập và tuyệt đối không có một chút kinh nghiệm nào trong nghệ thuật của cúi mình cùng các cung cách tốt đẹp khác; hồi đó tôi vẫn là một thằng bé, không biết gì về những trò lịch thiệp. Mặt khác, việc trông thấy con người xuất chúng và bề thế gây cho cái kẻ vớ vẩn tôi đây biết bao nhiêu là rụt rè. Tuy nhiên, sự sống động cao quý của ông đã ngay lập tức truyền cho tôi lòng tin lớn nhất. Từ các nhân vật lớn nhiều cuốn hút tỏa ra một cái gì đó trấn an và nhiều cảm hứng. Tôi lấy lại được can đảm và vì đã bình tĩnh lại, tôi tìm được đủ loại lời lẽ mà ông có lòng tốt cùng sự hào phóng lắng nghe đầy dễ mến sự dạn dĩ và tuổi trẻ. Thậm chí những gì tôi nói có vẻ còn khiến ông quan tâm.
Chốc chốc, tất nhiên, ánh mắt ông lại dừng một thoáng trên dáng vẻ bề ngoài hết sức kỳ quái, lố lăng của tôi, thậm chí còn gần như hơi có chút độc đáo, nhìn thật kỹ trang phục và cách ăn vận, sự chỉnh trang đầy trâng tráo, hăng tiết, thứ quần áo nổi loạn, bướng bỉnh quỷ quái, đi ngược lại ở mọi phương diện các đòi hỏi nghiêm ngặt của mốt. Tuy nhiên ông làm như thế theo lối đầy dễ mến và không xúc động, như một ông hoàng, người, trong sự thanh thản và lớn lao của mình, không phút giây nào để cho mình bị quấy nhiễu hay làm phiền bởi những điều cỏn con.
Một con chó nằm trên tấm thảm; căn phòng bày ra chính hình ảnh của sự tiện nghi cao cấp. Sau khoảng nửa tiếng, may mắn làm sao tôi nảy ra cái ý theo đó cái ông kia có lẽ có việc hay hơn để làm so với chuyện gẫu với lũ chim non; vì lẽ đó, ở tư cách con người biết suy nghĩ, tôi cho là thích hợp nếu đứng dậy và từ biệt.
