Derek Brewer: Dẫn nhập The Canterbury Tales
Derek Brewer là một trong những học giả hàng đầu thế kỷ XX về nghiên cứu Geoffrey Chaucer. Dưới đây là phần dịch chương Dẫn nhập The Canterbury Tales của Derek Brewer trong An Introduction to Chaucer.
Các câu chuyện của Chaucer làm người ta nghĩ ngay đến Mười ngày của Boccaccio, nhưng cũng cả đến Nghìn lẻ một đêm: những tập hợp truyện ấy không chỉ gây hào hứng rất lớn (ta nhớ Shakespeare nợ các câu chuyện thời Trung cổ của Ý đến mức nào) mà còn ấn định khuôn mẫu (thậm chí, hoàn toàn có thể coi Montaigne là nhân vật thuộc truyền thống ấy, ít nhất là một phần): để chỉ nhắc tới một ví dụ, hãy nghĩ đến các “historiennes”, mấy bà già kể chuyện, trong 120 ngày Sodome của marquis de Sade.
Dẫn nhập The Canterbury Tales
- Derek Brewer
Dự định
The Canterbury Tales từ trước đến nay luôn luôn là tác phẩm được ưa chuộng nhất của Chaucer. Hiện nay còn khoảng tám mươi bốn bản chép tay hoàn chỉnh hoặc bản khuyết cùng sáu ấn bản in sớm; trong khi đó Troilus and Criseyde chỉ có khoảng hai mươi bản chép tay và ba ấn bản in sớm. Lý do không khó hiểu: Troilus dài, tinh vi, uyên bác và tráng lệ; còn The Tales ngắn, đa dạng hơn và thường mang sắc thái hài hước. Trong các tư liệu thời đầu, Troilus được nhắc đến nhiều hơn vì vẻ huy hoàng. Tuy nhiên chính The Tales mới là tác phẩm dễ chinh phục độc giả phổ thông hơn cả. Nó không đòi hỏi khắt khe; nó chứa đựng nhiều đoạn xuất sắc nhất của Chaucer và cho phép người đọc “nhảy cóc” tùy thích. Ở đó ai cũng có thể tìm thấy phần dành cho mình, và sự phong phú của nó dường không bao giờ cạn.
Kế hoạch ban đầu hết sức tham vọng. Dự định mỗi người hành hương trong khoảng ba mươi người sẽ kể hai truyện trong từng chặng đi và về. Tuy nhiên dự định ấy nhanh chóng bị thu hẹp: mọi dấu hiệu cho thấy Chaucer đã rút xuống còn mỗi người một truyện và sau cùng quyết định kết thúc tác phẩm bằng cảnh đoàn người đến Canterbury. Ông thậm chí còn bắt đầu hình dung Canterbury như một dạng “Tân Jerusalem” thế tục - nếu ta hiểu theo lời gợi ý của Giáo sĩ trong phần mở đầu truyện cuối cùng, truyện mà chính ông kể: không phải hư cấu, mà là một suy niệm tôn giáo kết thúc toàn bộ tác phẩm bằng đề tài Sám Hối. Chaucer quả thật đã hoàn thành The Canterbury Tales nhưng cái giá cho sự hoàn thành ấy là nhiều phần còn để ngỏ và chưa được trau chuốt. Ông liên tục chuyển hướng lúc kế hoạch ban đầu dần phát triển. Toàn bộ tác phẩm hiện ra như một sự hòa trộn hấp dẫn giữa phần hoàn chỉnh và phần chưa hoàn chỉnh; giữa cái đã định hình và cái đang chuyển động, đôi khi thiếu nhất quán. Một sự hòa trộn mang tinh thần Gothic và là điều mà các thể kỷ sau, đặc biệt là thế kỷ XX, dễ dàng hồi ứng.
Bản thảo
Có lẽ Chaucer đã để lại một cái hòm chứa đầy bản thảo, có truyện được xếp thành nhóm, có truyện đứng riêng. Chúng ta không còn giữ được những bản ghi ban đầu của ông, có thể từng được viết trên các bảng sáp mỏng, song bản thảo những bài thơ của ông hẳn là những tờ giấy hay da thuộc rời, được buộc thành các tập mỏng, mỗi tập chỉ gồm vài truyện. Khi đã hài lòng với phần mình viết, ông gửi chúng cho một người chép thuê chuyên nghiệp để chép lại gọn gàng thành một hay vài bản. Thế nhưng người chép thuê rất dễ mắc lỗi; vì thế khi bản sao được trả về ông lại phải tự mình sửa bằng cách dùng đá hoặc lưỡi dao cạo đi những chỗ sai, miệng không quên rủa thầm kẻ kia.
Adam thư lại,
Ví như còn đến phen ngươi phải chép lại
Boece hay Troilus lần nữa,
Thì dưới mái tóc dài kia, ắt phải sinh ghẻ lở,
Trừ phi ngươi chép cho trung thực theo bản ta đã định.
Bao phen trong một ngày, ta phải làm lại việc ngươi,
Phải sửa cho đúng, lại còn mài và cạo;
Thảy đều bởi sự cẩu thả và hấp tấp của ngươi mà ra.
Chaucer phổ biến thơ của mình theo hai cách: hoặc đọc thành tiếng, hoặc cho phép các bản chép tự do lưu hành. Bức minh họa tiền trang nổi tiếng của bản thảo Troilus and Criseyde vẽ chính Chaucer đang đọc thơ trước triều đình. Tuy nhiên như đã nói, bức tranh ấy không có tính hiện thực và được vẽ sau khi Chaucer qua đời; hơn nữa điều đáng chú ý là dường không có thêm bằng chứng nào ghi nhận những bài thơ dài từng được đọc tại triều đình, ngoại trừ lời kể của Froissart về việc ông đọc Meliador tại triều Gaston de Foix, thuộc miền Nam nước Pháp ngày nay. Có lẽ hình thức phổ biến hơn gần với “buổi đọc sách” của Criseyde, nơi sách được đọc trong nhóm nhỏ bạn bè, còn triều đình nói chung dường ưa chuộng âm nhạc và các ca khúc hơn. Phần lớn người ta nghe văn chương; chỉ một số ít, như Chaucer, đọc văn chương. Ngay cả khi bản thảo được lưu hành và sao chép, số người nghe vẫn vượt xa số người đọc. Một bản thảo được đọc cho đến khi mục nát. Đồng thời nó được chép lại, bởi cả người nghiệp dư lẫn chuyên nghiệp. Và một bản sao tồi có thể được chép từ một bản đã thất lạc vài trang, trong khi bản ấy lại vốn là bản sao tồi của một bản khác. Người chép sách phạm đủ loại sai sót: bỏ sót chữ, từ, dòng, trang; hiểu sai rồi chép sai; viết theo các phương ngữ khác nhau; thậm chí còn tự ý sửa những đoạn họ cho là sai hoặc không tán thành. Chính Chaucer cũng làm tình hình thêm phức tạp - như trường hợp The Tales - khi ông viết tác phẩm theo từng phần rời và suốt đời không bao giờ công bố nó như một chỉnh thể. Nhiều chỗ bất nhất có lẽ ông không nhận ra, hoặc không bận tâm; nhưng cũng có những chỗ hẳn ông sẽ bỏ nếu có dịp tu chỉnh toàn bộ.
Không bản thảo gốc nào của Chaucer còn tồn tại, trừ phi bản thảo của tác phẩm thiên văn The Equatorie of the Planetis là do chính ông viết - nhưng điều này cũng không giúp ích bao nhiêu vì đây là tác phẩm phi hư cấu. Những bản thảo hiện còn chỉ là hậu duệ của bản gốc, được truyền qua tay một số lượng không thể xác định những người chép; trong đó có vài người đã tự sắp xếp thứ tự các truyện trong The Canterbury Tales, thậm chí đôi khi còn thêm vào những câu thơ của mình. Những bản thảo sống sót qua lũ lụt, hỏa hoạn, trẻ nhỏ, kẻ phá hoại và kẻ thù của sách - kể cả những người yêu sách đến mức đọc chúng tới nát bươm - không nhất thiết là những bản tốt nhất. Vẫn còn nhiều điều chưa chắc chắn về niên đại sáng tác của các truyện khác nhau trong The Canterbury Tales. Song vào giai đoạn này, dấu ấn thiên tài của Chaucer nằm ở sự đa dạng hơn là quá trình phát triển tuyến tính. Niên biểu nội tại của các truyện về sau không có vai trò thiết yếu trong việc hiểu chúng.
Trình tự các truyện
Chaucer không sắp xếp các truyện theo bất cứ hệ thống ý nào mà chủ yếu theo mục đích tạo nên sự đa dạng. Toàn bộ tác phẩm giống một bản thảo tổng hợp Gothic - như sách của Thornton hay bản Auchinleck - nhưng điều đáng kinh ngạc là tất cả đều khởi nguồn từ một trí tuệ sáng tạo phong phú phi thường duy nhất.
Trình tự dự định của các truyện có thể được suy ra phần nào từ những tham chiếu nội tại đến các chặng của hành trình từ Southwark đến Canterbury dọc theo Con đường Hành hương. Giáo sư Skeat đã xác lập trình tự này trong ấn bản nay đã lỗi thời của ông; và vì đó là trật tự mà Chaucer rõ ràng hướng tới, nên ở đây cũng theo trật tự ấy. Tuy vậy, biên tập viên sớm nhất của Chaucer thực ra là người chép bản thảo Ellesmere nổi tiếng (hiện lưu giữ tại Thư viện Huntington, California), và thứ tự ông sử dụng có đôi chút khác biệt. Trình tự Ellesmere sau đó đã được Giáo sư Robinson áp dụng trong ấn bản của mình và được phần lớn các biên tập viên về sau tiếp nhận. Văn bản của Robinson, tuy chưa hoàn hảo, là văn bản được sử dụng ở đây; hệ thống đánh số của ông cũng được giữ nguyên, theo đó tác phẩm được chia thành mười “khối” hay nhóm truyện - trong đó có khối chỉ gồm một truyện duy nhất, dù có thể kèm theo phần dẫn trước và/hoặc sau. Những đoạn nằm giữa các truyện - vốn là các màn hài kịch hiện thực xuất sắc - nói chung được gọi là các đoạn nối (Links).
Chất liệu thô của các truyện
Chaucer có lẽ bắt đầu nghiêm túc triển khai ý tưởng về The Canterbury Tales vào khoảng năm 1386-1387 khi ông chuyển về sống tại Kent.
Ý tưởng gom các truyện thành từng nhóm vốn không mới. Ngay từ thời Cổ đại Hy-La đã có một mẫu mực lớn là Metamorphoses của Ovid. Sang thế kỷ mười bốn, ngày càng xuất hiện nhiều tuyển tập truyện được liên kết với nhau bởi một ý tưởng chung, hoặc được đặt trong một khuôn khổ duy nhất. Việc tập hợp các truyện thành từng nhóm không phải là điều mới mẻ. Ngay từ thời Cổ đại, ta đã có một ví dụ lớn là Metamorphoses của Ovid. Sang thế kỷ XIV, ngày càng xuất hiện nhiều tuyển tập truyện được liên kết với nhau bởi một ý tưởng chung hoặc được đặt trong một khung thống nhất. Khi ấy, Gower cũng đang viết một tập truyện theo mô hình tương tự, và Legend of Good Women của Chaucer là một ví dụ khác. Tập hợp truyện ngắn có lẽ là hình thức đặc trưng nhất của văn học thế kỷ 14. Hình thức này có thể tạo ra nhiều hiệu ứng văn chương khác nhau. Với một công chúng nghe - khác với người đọc - câu chuyện là hình thức dễ hiểu và dễ nhớ nhất. Còn với những người tinh tế hơn, một câu chuyện có thể được hiểu ở nhiều cấp độ, thậm chí ba hay bốn tầng nghĩa khác nhau. Thời ấy lưu hành rất nhiều truyện dân gian thuộc đủ loại: truyện đạo đức, truyện gây cười và cả những truyện tục. Khi thói quen đọc và viết dần phổ biến, một số truyện dân gian đã được các tác giả văn chương tiếp thu. Ngoài những câu chuyện được nghe, Chaucer còn đọc rất nhiều, và ta có thể hiểu vì sao chúng lại hấp dẫn ông - vừa với tư cách một người thuộc thời đại ấy, vừa như một nghệ sĩ đang tìm kiếm những hình thức biểu đạt thỏa đáng. Một tập hợp các truyện thuộc nhiều loại khác nhau tất yếu tạo ra một sự đa dạng hấp dẫn.
Nhiều truyện được truyền bằng lời hoặc tiếp tục được truyền khẩu sau khi được đọc từ một bản thảo nào đó. Nhiều truyện khác được chép xuống và sao lại trong nhiều thế kỷ. Thông thường, những truyện trang trọng hơn được ghi thành văn còn những truyện nhẹ nhàng thì lưu truyền bằng miệng. Không hiếm khi một truyện được tin là có tính lịch sử, và vì thế là sự thật, chỉ bởi nó đã được viết ra. The Clerk’s Tale of patient Griselda là chủ đề của hai nhận định đáng chú ý theo hướng này, được Giáo sư Manly trích dẫn trong ấn bản của ông. Petrarch đáp rằng những truyện như chuyện Alcestis (người đã xuống Âm phủ thay cho chồng và được Hercules cứu thoát) dường như chỉ là ngụ ngôn (fabulas) - “Atque historiae verae sunt” [Nhưng ấy thực là những sử truyện chân thật]. Người công dân sáng suốt thế kỷ 15, tác giả của Menagier de Paris, cũng kể lại câu chuyện Griselda và nói: “Ta chẳng tin chuyện ấy từng xảy ra, song truyện đã như vậy nên ta đâu dám sửa đổi hay thêm bớt, vì người biên soạn nó khôn ngoan hơn ta và chính người ấy đã ban danh xưng cho truyện.” Vì thế, giữa fabula và historia có một ranh giới rõ rệt. Tuy nhiên, mặc dù cốt truyện tự thân không thể bị thay đổi thì mục đích chủ yếu của các nhà tu từ như Geoffrey of Vinsauf - người mà Chaucer từng đọc - lại là dạy cách đổi mới một câu chuyện cũ bằng cách trao cho nó ý nghĩa mới. Người ta cũng cho rằng phong cách phải tương xứng với nội dung: đề tài lớn đòi hỏi phong cách lớn. Do đó, các đề tài “nhỏ” - nói về người bình thường và những sự vụ nhỏ nhặt hoặc gây cười - không nên được khoác lên lớp áo lộng lẫy của phong cách lớn, trừ phi nhằm mục đích giễu nhại.
Truyện và nhân vật
Thiên tài và tính độc đáo của Chaucer đặc biệt hiển lộ trong cách ông sử dụng những chất liệu và ý tưởng mà ông cùng chia sẻ với Gower và Boccaccio. Tinh thần Gothic vốn thiên về việc thu nạp mọi loại truyện: đặt truyện trang trọng bên cạnh truyện gây cười, để sự giễu nhại ở không xa phong cách lớn chính thống, đặt “ngụ ngôn đạo hạnh” bên cạnh “truyện tục” - nói chung nhằm bao quát càng nhiều kinh nghiệm nhân sinh càng tốt, để cho “những điều đối nghịch gặp nhau ở một điểm”. Ngay cả Decameron của Boccaccio cũng có nhiều truyện nghiêm túc và đạo đức. Tuy nhiên Chaucer còn đi xa hơn những người cùng thời ở mức độ đa dạng; và nhất là ở chỗ ông lý giải sự đa dạng ấy với bản tính của những người kể chuyện. Ta có thể phỏng đoán rằng các nhân vật của ông, nói một cách nào đó, ban đầu nảy sinh từ chính những truyện họ sẽ kể. Rõ ràng ông đã có sẵn một số truyện trước khi ý tưởng về The Canterbury Tales như một tổng thể được hình thành. Có thể ông muốn tận dụng chúng và dựng nên các nhân vật như những cái đinh để treo lên nhiều truyện khác mà ông ấp ủ. Có lẽ The General Prologue được viết vào chính giai đoạn này. Dù sao như ta đã thấy, mỗi truyện đối với ông dường có một cá tính riêng. Và rồi, khi các nhân vật đã được hình dung, họ gần như mang lấy một đời sống tự thân trong khi toàn bộ cấu trúc tiếp tục phát triển dưới sự vun trồng và cắt tỉa kiên nhẫn của ông.
Ta thấy một ý tưởng tốt ban đầu được thay thế bằng một ý tưởng tốt hơn - chẳng hạn khi Chaucer thay The Wife of Bath’s Tale hiện thời vào vị trí vốn ban đầu dành cho bà, tức truyện bây giờ gọi là The Shipman’s Tale. Dấu vết của sự thay đổi ấy vẫn còn bởi The Shipman’s Tale hiện nay, tuy theo các bản thảo chắc chắn được quy cho Chaucer, lại được viết để dành cho sự kể của một phụ nữ. Truyện này thuộc thời kỳ sáng tác The Tales và thực chất chỉ phù hợp với Wife of Bath. Ở đây ta thấy một trường hợp mà tốc độ phát triển của chính ý tưởng vượt trước tác giả; ông không còn thời gian để hoàn tất nửa còn lại của dự định và điều chỉnh lại ngôn từ của The Shipman’s Tale cho ăn khớp với người kể mới. Những bất nhất tương tự khiến người ta thường cho rằng truyện văn xuôi The Tale of Melibeus ban đầu được giao cho Man of Law, rồi sau đó mới chuyển sang vị trí hiện nay như truyện thứ hai do chính Chaucer kể, có lẽ để tạo thêm thế đối trọng cho chuỗi truyện rực rỡ của Fragment VII. Khi ấy, Man of Law được giao truyện Constance như hiện nay.
Những thay đổi trong dự định - đặc biệt là việc chuyển truyện từ nhân vật này sang nhân vật khác - diễn ra song song với việc Chaucer sáng tác các đoạn nối giữa các truyện. Nhưng đó không chỉ là những mối nối đơn thuần. Chúng thậm chí từng được gọi là truyện hay nhất trong toàn bộ tác phẩm bởi các nhân vật - trong General Prologue còn phần nào tĩnh tại, dù rực rỡ đến đâu - nay bắt đầu trò chuyện với nhau trên đường hành hương; và mỗi khi họ lên tiếng trong thế giới của Chaucer, ta như nghe thấy âm điệu của những giọng nói đang sống. Những nhân vật thô lỗ thì gây gổ: Miller đối đầu Reeve, Friar cãi Summoner. Người này đáp trả người kia bằng một truyện; kẻ quê mùa kể những truyện quê mùa. Vậy rốt cuộc cái nào có trước - những truyện đi thành cặp rồi làm nảy sinh nhân vật, hay những nhân vật cãi cọ làm phát sinh những truyện công kích lẫn nhau? Ở đây ta nhớ tới một câu hỏi quen thuộc: con gà hay quả trứng có trước? Dù vậy, trong ít nhất một trường hợp, nhân vật dường như có trước truyện; đó là Wife of Bath. Nếu ban đầu bà được dự định kể The Shipman’s Tale, thì truyện hiện nay của bà có thể xem là truyện thực sự thuộc về bà, nảy sinh từ chính bản tính của bà. Tuy nhiên, truyện ấy vẫn không phải là sản phẩm của bản tính bà ở mức độ như một đoạn độc thoại của Hamlet là sản phẩm của Hamlet. Truyện về Gawayn mà bà kể là một truyện cổ tích, một kỳ tích được thuật lại trong một sắc thái huyền ảo tinh tế (dù cốt truyện không do Chaucer sáng tạo). Thế nhưng tinh tế không phải là một trong những đặc điểm nổi bật của Wife of Bath. Vì vậy để hiểu và thưởng thức trọn vẹn truyện này cùng vị trí của nó, cần đặt các suy tư của truyện về quyền tối thượng trong hôn nhân bên cạnh những suy tư tương tự - song được diễn đạt rất khác - trong phần Prologue dài của chính bà, vốn thấm đẫm bản tính bà hơn nhiều. Có một sự tương phản rất thú vị giữa sự thô lỗ hóm hỉnh, đầy nhục cảm của bà - vốn tự nó đã là một cách châm biếm lập luận của bà - và nét duyên dáng của truyện bà kể. Trong các truyện kế tiếp (Fragments III, IV, V), chủ đề hôn nhân xuất hiện khá thường xuyên. Tuy nhiên, khó có thể xem toàn bộ chuỗi ấy như một cuộc tranh luận về hôn nhân, dù một số nhà phê bình từng hiểu như vậy; cái tên “Marriage Group” vẫn có thể tạm dùng. Nếu không nhận ra đóng góp của truyện này vào chủ đề hôn nhân, ta sẽ bỏ lỡ một phần ý nghĩa của nó. Bởi thế, ý nghĩa của truyện không chỉ - và cũng không chủ yếu - nằm ở việc khắc họa bản tính nhân vật.
Từ cái nhìn khái quát này, có thể nhận thấy phẩm tính cốt yếu của The Canterbury Tales như một chỉnh thể nằm ở sự đan xen giữa các truyện hơn là ở sự tương tác giữa những nhân vật kể chuyện. Phương pháp ấy có thể so sánh với cách một họa sĩ sắp đặt các mảng màu trên bức tranh của mình: có những phần nâng đỡ nhau, có những phần tạo thế tương phản. Cũng như trong The Parliament, Chaucer dường như đã sắp đặt một thế cân bằng và đối lập giữa hình tượng Nature và Venus đầy nhục cảm, rồi đặt Somnium Scipionis vào vị trí trung gian đối chiếu với cả hai, thì ông cũng có vẻ đã tổ chức The Tales theo một cấu trúc tương tự, dù không hoàn tất vượt quá các Fragment. Nói cách khác, chuỗi truyện vận hành như các sự kiện trong một cốt truyện lớn; còn các nhân vật được thúc đẩy sao cho hành động của họ - tức việc kể - trở nên hợp lý. Nhìn The Tales theo hướng này ta mới thấy hết cấu trúc tổng thể mà Chaucer nhắm tới. Đôi khi, những đòi hỏi của mô hình sắp đặt các truyện dẫn đến những bất nhất nhỏ trong việc khắc họa nhân vật, như khi Monk trong Prologue - một tay săn bắn thời thượng và đầy tự tin - lại kể chuỗi Tragedies đầy tính sách vở và huấn dụ. Chaucer cần một người để kể chúng; và Monk, tuy không phải ứng cử viên hoàn hảo, nhưng vì thân phận tu sĩ của mình lại là người thích hợp nhất trong số những người hành hương. Trong nhiều trường hợp, truyện được kể không đặc biệt phù hợp mà cũng không đặc biệt lệch với người kể. Ta cũng thấy rằng trong cùng một truyện, hình tượng người kể chuyện lúc thì được thể hiện mạnh mẽ, lúc lại mờ đi. Và không ít lần ta có cảm giác Chaucer đang nói bằng giọng thơ của chính ông.
Sự thay đổi điểm nhìn là một đặc điểm của tinh thần Gothic. Nó cũng nhắc ta rằng tính hiện thực của The Tales chỉ ở mức bề mặt và không nên xem như quá nghiêm trọng. Ta không thể biết liệu Chaucer có ghi chép một cuộc hành hương có thật hay không, và cũng không nên mong ông xây dựng nhân vật trong hành động như một tiểu thuyết gia hiện đại. Hơn nữa, thật đáng ngờ khi cố rút ra những kết luận chắc chắn về tiến trình phát triển dự định sáng tác của ông chỉ dựa vào các khác biệt trong cách một nhân vật được thể hiện ở những phần khác nhau của tác phẩm.
Ta không chỉ nghe những người hành hương nói; ta còn thấy họ hiện ra trước mắt với tất tật nếp sống và thói quen. Bởi Chaucer, trong sự giản dị tưởng như không cầu kỳ của một thiên tài đích thực, đã phác họa chân dung họ trong General Prologue trước khi đặt họ lên đường về Canterbury. Và dù mang vẻ giản dị, dường như trong toàn bộ văn chương châu Âu đó là vô tiền khoáng hậu.
The Prologue
The Prologue mở đầu bằng một đoạn tả mùa xuân theo lối Trung cổ quen thuộc. Boccaccio từng viết một đoạn như thế trong cuốn sách thần thoại Latin của mình; Creton cũng viết một đoạn về mùa xuân trong biên niên sử tiếng Pháp về việc phế truất Richard; và còn nhiều ví dụ khác. Một đề tài quen thuộc đến vậy không thể khiến công chúng ngạc nhiên. Nó cũng không phải lúc nào cũng là phần mở đầu cho một bài thơ tình. Niềm vui của mùa xuân tự nó đã đủ làm lời biện minh sau mùa đông Trung cổ dằng dặc. Thành công của đoạn mở đầu với tư cách nghệ thuật văn chương nằm ở cấu trúc có chủ ý và ở phong cách của nó. Lời mở đầu công phu ấy chiếm chưa tới hai mươi dòng song ta đã cảm nhận được hương xuân trong không khí và trong trí tưởng tượng, sà xuống từ vòng Hoàng đạo đến quán Tabard. Điểm nhìn chuyển từ bức tranh chung của mùa xuân rồi dừng lại thật nét trên hai mươi chín người hành hương tụ họp trong một quán trọ quen thuộc gần London. Thị kiến ấy vừa rộng mở vừa chính xác. Đoạn văn được viết bằng “phong cách lớn” đã được điều chỉnh, không mang tính cá nhân hóa hay kịch tính hóa. Ở đây việc tách “Người kể chuyện” khỏi “thi sĩ” là điều hoàn toàn vô nghĩa.
Ở đây không có mỉa mai, không có sự ngu xuẩn hay nhạt nhẽo; chỉ có một thứ thi ca với sức sống rực rỡ, chuyển động qua miêu tả. Hai câu mở đầu giản dị và trực tiếp đến mức không người nghe hay người đọc nào có thể không hiểu. Ba câu tiếp theo, với cách nói gần như khoa học về sự nuôi dưỡng của thực vật, được viết bằng thứ ngôn ngữ thi ca khiến Chaucer được tôn sùng suốt hai thế kỷ sau; ông gọi nước là licour, gọi gió Tây là Zephirus. Dòng thứ ba hòa trộn nét trang trí thần thoại của hình tượng Zephirus ở nửa đầu với hình ảnh “làn hơi ngọt” ở nửa sau. Sự nhân cách hóa đầy thi vị của gió Tây đem lại một từ rực rỡ và giàu âm điệu, đồng thời làm nổi bật tính hiện thực cảm giác của “làn hơi ngọt”. Sự kết hợp giữa vẻ huy hoàng và sự trực diện ấy tiếp tục trong hai dòng sau; và đến đây, nhà thơ có thể thong thả đưa vào một trong những nhắc nhở thiên văn quen thuộc của mình về thời điểm - vừa nâng phong cách, vừa không gây hiểu lầm. Rồi ông kết bằng một dòng thơ đẹp:
Và bầy chim nhỏ ngân vang khúc hát.
Lối nhắc quen thuộc về tiếng chim hót mùa xuân bỗng trở nên đẹp và cuốn hút, một phần nhờ âm nhạc của chính câu thơ, một phần nhờ vị trí của nó trong chỉnh thể thi ca - tức là đoạn thơ. Trong lời mở đầu đầy tính tu từ và tuyệt diệu ấy, Chaucer trao cho chúng ta niềm khoái cảm của tự sự lẫn trữ tình.
Những chân dung
Những chân dung trong Prologue mang cùng một vẻ rực rỡ cô đọng. Chaucer miêu tả một con người như thể ánh mắt ông đang quét qua họ, bắt gặp một chi tiết sáng ở đây, một nét khác ở kia, rồi ghi lại theo lối tưởng như tình cờ. Không có gì tự nhiên hơn; nhưng chính ấn tượng về sự tùy hứng ấy, sự tiết kiệm, tính hàm nghĩa và sự đa dạng của chi tiết lại cho thấy nghệ thuật bậc thầy - nghệ thuật che giấu chính mình. Không có khuôn mẫu cố định nào trong lối miêu tả. Đôi khi các chi tiết hữu hình về y phục xuất hiện trước, và qua đó ta nhìn thấy bản tính. Chiếc gipoun của Knight vẫn còn lưu vết gỉ sắt và dầu từ áo giáp, và ngựa của ông thì tốt. Đó tưởng như chỉ là thông tin thuần túy, nhưng từ những chi tiết ấy ta hiểu rằng ông không chậm trễ một khắc sau khi bình an trở về mà lập tức lên đường hành hương. Ông không quan tâm đến vẻ ngoài bóng bẩy, nhưng cũng không nghèo túng, cũng không lơ là những trang bị thiết yếu của mình - có thể thấy qua những con ngựa ông cưỡi. Đôi khi Chaucer mô tả bản tính của một người trước, rồi gần như thêm vào sau đó các chi tiết về y phục, như một ý bổ sung để làm cho nhân vật hiện ra sống động trước mắt ta và củng cố những gì ta đã biết về họ. Trật tự miêu tả hầu như khác nhau ở mỗi người hành hương. Những phác họa đều rất ngắn gọn; tuy vậy, bằng cách đưa vào những mẩu đối thoại, và trong nhiều trường hợp mô tả quá khứ, quan điểm hiện tại, những hoạt động thường ngày hay nơi cư ngụ của một người, Chaucer truyền đạt một tri cảm mạnh mẽ về bản tính và chiều sâu chân dung. Sự ngắn gọn cần thiết của phần miêu tả buộc Chaucer phải đặt chi tiết nối tiếp chi tiết, thường theo một trật tự không hoàn toàn hợp logic. Ấn tượng ngây ngô mà sự cô đọng ấy đôi khi đem lại có thể so với khuynh hướng của Chaucer trong thơ mình - khi ông thích tự khắc họa mình như một con người giản dị. Lớp đường bọc của vẻ ngây ngô ấy tạo nên một sự tương phản thú vị với sự sắc sảo của trí tuệ mà nó che giấu. Và vì thế, khi nói về Cook, Chaucer viết:
Song ấy quả là điều tai hại, theo ý ta,
nơi ống chân ông lại có một vết lở.
Còn món blankmanger ông làm thuộc hàng thượng hạng.
Thi ca, hài kịch, châm biếm và nghệ thuật khắc họa nhân vật - tất tật đều nảy sinh từ sự đặt cạnh tưởng chừng ngây ngô ấy.
Sự phá vỡ các khuôn mẫu hình thức
Việc Chaucer không tuân theo khuôn mẫu miêu tả cố định càng nổi bật khi ta đặt ông trong bối cảnh văn học Trung cổ - nơi cả tiếng Latin lẫn các ngôn ngữ bản địa đều đầy những chân dung bằng lời theo khuôn quy phạm. Kiểu chân dung này bắt nguồn từ thời Cổ đại và được củng cố qua sự giảng dạy của các nhà tu từ Trung cổ như Matthew of Vendome và Geoffrey of Vinsauf, tác giả các luận thuyết tu từ vào đầu thế kỷ 13. Họ đề xuất nhiều khuôn mẫu khác nhau. Nổi tiếng nhất là khuôn mẫu về “Người Quý Nữ”. Các nữ anh hùng Trung cổ, kể cả Criseyde, đều được xây dựng theo kiểu mẫu ấy. Diện mạo và thứ tự miêu tả luôn lặp lại: tóc vàng, lông mày đen, răng như ngọc, vai mảnh, ngực nhỏ, hông nở... - chi tiết đôi khi cụ thể đến mức không để lại khoảng trống cho tưởng tượng. Chaucer biết đến và lúc đầu đã theo sát, cũng như hưởng lợi từ công trình của các nhà tu từ học, những người rốt cuộc đang giảng dạy các ngón nghề sáng tác. Chân dung Công nương Blanche trong The Book of the Duchess bám sát khuôn mẫu tu từ. Chân dung Criseyde, ngắn hơn, cũng vậy, ngoại trừ một hai chi tiết đáng chú ý - như đôi lông mày nối liền của nàng vốn bị coi là dấu hiệu của bất tín. Chaucer hẳn có thể tìm thấy một loạt chân dung như thế của các nhân vật ở phần mở đầu bài thơ Anglo-Pháp Le Roman de Troie, tác phẩm ông chắc chắn biết và có thể đã góp phần khơi gợi ý tưởng cho The General Prologue. Khi Chaucer thực sự bắt tay vào việc sáng tác những chân dung của riêng mình, ông cố ý tránh lối chân dung tu từ có tính hệ thống; và một phần khoái cảm đến từ sự tùy tiện sống động trong trình tự chi tiết bắt nguồn từ cảm giác nền tảng của chúng ta về khuôn mẫu đã bị phá vỡ. Thật sảng khoái khi thấy “thực tại” tưởng như vụn vặt - những sự kiện có vẻ ngẫu nhiên - làm sụp đổ các khuôn mẫu, quy phạm và lý tưởng đã được định sẵn một cách cứng nhắc. Ở Chaucer đôi khi có điều gì đó sâu sắc mang tính phá tượng, giống như ở những người Lollard. Hãy phá vỡ các hình tượng, các khuôn thức! Sự sống tự phát dâng trào. Ta tri cảm được sự bừng nở của lực sống. Chính sự phá vỡ khuôn mẫu làm Chaucer có vẻ hiện đại. Nhưng khuôn mẫu phải có trước để tạo áp lực, và chính từ sự phá hủy ấy mới nảy sinh ý thức tự do. Kỷ luật tu từ là tiền đề của biểu đạt tự do - nếu tự do không đồng nghĩa với hỗn loạn. Sự phá vỡ cũng cần mục đích, và mục đích ấy hiện ra trong một sự kiến tạo mới.
Những giọng của thơ
Không lạ khi các nhà phê bình có những bất đồng rõ rệt về ý nghĩa của nhiều chân dung và về điểm nhìn chi phối chúng. Chẳng hạn, ta vừa nhận ra khái niệm “Người kể chuyện” không mấy hữu ích khi đọc những dòng mở đầu. Nhưng còn chi tiết vết lở của Cook, đặt cạnh món thịt gà hay món hầm thịt trắng ngon lành của ông thì sao? Không thể nghi ngờ rằng Chaucer đã cố tình khiến sự đặt cạnh giữa vết lở và thức ăn trở thành một hiệu ứng ghê tởm hài hước. Giọng thương hại có vẻ đơn giản dành cho vết lở và sự tán thưởng hồn nhiên dành cho món blankmanger được cân bằng bởi những hàm ý nảy sinh từ cách chúng được đặt cạnh nhau. Do đó xuất hiện đồng thời hai tầng nghĩa: một ngây ngô, một bông đùa. Có thể tách hai giọng ấy - cùng phát ra những lời giống nhau nhưng với những hàm ý khác nhau - và quy giọng ngây thơ cho một Người kể chuyện ngây thơ, còn giọng bông đùa cho “thi sĩ đúng nghĩa”. Người ta thậm chí có thể đi xa hơn. Chaucer cho chúng ta biết từ sớm trong The Prologue rằng chính ông là một trong những người hành hương, và chính ông là người trò chuyện với từng người và miêu tả họ. Về sau, ông còn tự gán cho mình câu chuyện lố bịch Tale of Sir Thopas. Nói cách khác, ông quay trở lại thủ pháp của những giấc mộng tình yêu thời kỳ đầu và đưa chính mình vào trong bài thơ của mình, một lần nữa trình diện bản thân như một người phốp pháp, khiêm nhường, ngây thơ, và bị những người đàn ông nói nhiều và tự tin lấn át hoặc xem thường. Có thể có phần hợp lý khi xem Chaucer-người hành hương như Người kể chuyện, nhưng không có cơ sở để giả định - như một số nhà phê bình dường cố làm - rằng còn có một Người kể chuyện khác, cũng ngu ngốc, đứng sau Chaucer-người hành hương. Dù ta có dựng lên bao nhiêu lớp Người kể chuyện, cuối cùng ta vẫn phải đi tới “thi sĩ đúng nghĩa”, trừ khi ta hoàn toàn giải cấu trúc Chaucer; mà nếu làm thế, ta chỉ còn lại chính mình và đánh mất nhà thơ. Phải có một điểm tựa cơ bản, nói như vậy, nếu còn muốn nói đến ý nghĩa. Nếu không tồn tại một ý nghĩa tương đối ổn định; nếu bất cứ ai cũng có thể gán cho văn bản bất kỳ ý nghĩa nào, tách khỏi lịch sử và xã hội, thì việc thảo luận văn bản trở nên vô ích. Ngôn từ sẽ mất căn cước.
Việc tách các giọng - giọng ngây ngô và giọng thực của bài thơ - có thể hữu ích cho mục đích phân tích; nhưng sau đó cần phải tái cấu hợp bởi hiệu quả thi ca dựa trên việc duy trì cả hai giọng cùng lúc, như trong một bản hòa âm hay một phép ẩn dụ. Trong ẩn dụ, khi hai sự vật được so sánh và biểu đạt đồng thời qua cùng một từ, niềm thích thú cốt yếu đến từ việc cả hai tầng nghĩa ấy được giữ song song. Nếu nói “con thuyền bay trên đại dương”, ta phải giữ cùng lúc ý nghĩa của sự bay và của việc chèo thuyền bình thường. Tách chúng ra, một bên thành nực cười, bên kia thành nhạt nhẽo; chính sự kết hợp mới đem lại sinh khí. Cũng như thế, trong The Prologue và nhiều bài thơ khác của Chaucer, điều tạo nên độ sắc là sự đồng hiện của mọi giọng, mọi tầng nghĩa. Thơ của Chaucer, ở nhiều khía cạnh, giống như polyphony trung cổ - nơi nhiều giọng cùng hát một lời nhưng theo những tuyến giai điệu khác nhau. Chỉ khác ở chỗ câu thơ của Chaucer, trước khi tâm trí được đánh thức, có thể trông giản dị đến mức đánh lừa; và người đọc bất cẩn có thể chỉ nhận ra một trong các giọng.
Thi ca của sự liên tưởng: Hoán dụ
Thơ Chaucer không đặc biệt giàu ẩn dụ, dù lượng ẩn dụ nhiều hơn người ta tưởng. Hiệu ứng tiêu biểu hơn là một hiệu ứng chỉ mới gần đây được thừa nhận là quan trọng cho thi ca nói chung. Điều này đã được nhắc ngắn gọn trước đó. Đó là hiệu ứng của sự đặt cạnh hay liên tưởng - thuật ngữ chuyên môn gọi là hoán dụ, theo một hình thức tu từ Latin.
Hoán dụ, hay sự liên tưởng - dù là giữa các ý hay giữa sự vật - có sức mạnh đáng kể trong thơ Trung cổ; tuy nhiên, để phát huy đầy đủ hiệu quả, nó phụ thuộc khá nhiều vào tri thức có sẵn của người đọc. Ngay cả trong The General Prologue, sự hiểu biết trước đó cũng quan trọng hơn ta tưởng. Chaucer phần nào làm nhẹ đi khó khăn ấy bằng cách tập trung vào miêu tả; nhưng ông vẫn phải trông cậy vào việc người đọc hiểu được những liên tưởng gắn với các đối tượng được nhắc đến để tạo nên những sắc thái. May thay nhiều liên tưởng trong số đó dựa trên bản tính chung của con người, chẳng hạn như sự ghê tởm trước một vết lở đang rỉ dịch. Nhưng người đọc vẫn phải biết blankmanger là gì. Dẫu vậy, điều này không quá khó bởi ham muốn đối với thức ăn là điều phổ quát. Khó nắm bắt hơn là những liên tưởng gắn với những vết bẩn trên chiếc gypoun (áo chẽn) của Knight do bộ giáp ông thường mặc bên ngoài để lại. Cách diễn giải truyền thống, như đã nói ở trên, cho rằng Knight - như Chaucer cho biết - vừa mới trở về từ các chuyến đi của mình và quá nóng lòng lên đường hành hương đến mức chưa kịp thay một bộ đồ sạch hơn. Trong thế giới của Chaucer, sự nghèo khó luôn mang phẩm giá; và dù Knight không nghèo, ông khinh thường vẻ ngoài bảnh bao thuần túy. Tuy nhiên một số nhà phê bình đã lập luận rằng vẻ ngoài lấm lem ấy cho thấy ông là một tên lính đánh thuê thô lỗ và nhếch nhác, nhưng quan điểm ấy rõ ràng sai.
Vấn đề này gắn với những câu hỏi rộng hơn về hệ thống liên tưởng. Chiến thắng ở Alexandria - nơi Knight từng chiến đấu - gợi lên những liên tưởng nào? Vào thời đó, sự kiện này thường được coi là một thành công lớn, chỉ tiếc rằng không được tiếp tục phát huy. Điều này có thể thấy trong bài thơ La prise d’Alexandrie của Machaut mà Chaucer hẳn biết. Nhưng trên thực tế, đó là một cuộc tấn công vô cớ vào một thành phố không hề phòng bị. Thái độ hiện đại đối với chiến tranh, một cách đúng đắn, lên án những cuộc tấn công như vậy. Từ quan điểm hiện đại, việc chiếm Alexandria có thể được nhìn như một vụ thảm sát trắng trợn đối với thường dân vô tội và, một hành vi cướp bóc đáng hổ thẹn nhắm vào một thành phố giàu có và yên bình. Nếu đó là cách nhìn phố biến của thế kỷ 14 thì Knight quả là một kẻ xấu; và quan điểm ấy từng được bảo vệ rất quyết liệt. Nhưng các liên tưởng về chiến tranh, cũng như về tình yêu, trong thế kỷ 14 khác xa so với ngày nay. Thật sai lầm khi áp đặt chuẩn mực của chúng ta lên thời kỳ trước. Ta có thể, nếu muốn, giải cấu trúc thơ Chaucer để tái tạo nó theo hình ảnh của riêng mình; nhưng đó chỉ là một trò chơi trí tuệ vô nghĩa. Vậy còn cần đọc Chaucer để làm gì? Sao không tự viết thứ thơ nhân văn tự do chủ nghĩa và chủ hòa hiện đại? Chaucer không viết thứ thơ ấy. Ông không phải là một nhà nhân văn tự do chủ hòa hiện đại.
Khung đẳng cấp xã hội
Mô hình liên tưởng thực sự dành cho Knight - cũng như cho một số nhân vật khác được miêu tả trong The General Prologue - nằm trong truyền thống lâu dài của các mô tả thuộc cái gọi là “văn học về các đẳng cấp” (Estates literature) mà Tiến sĩ Jill Mann đã chỉ ra. Một số “đẳng cấp” ấy, tức các tầng lớp xã hội, thường xuyên được lý tưởng hóa; chẳng hạn như nông dân và một số thành phần giáo sĩ (dù không phải tất cả vì các tu sĩ dòng hành khất cũng thường xuyên bị châm biếm). Chaucer dựng nên một khung xã hội của các đẳng cấp lý tưởng thời Trung cổ như ba trật tự căn bản của xã hội: hiệp sĩ, giáo sĩ, và người cày ruộng - người cày ruộng lao động bằng tay để tạo ra lương thực cho mọi người; giáo sĩ nuôi dưỡng và gìn giữ linh hồn cho mọi người; hiệp sĩ duy trì công lý và bảo vệ tính mạng cùng tài sản của mọi người. Chaucer không châm biếm những người hành hương đại diện cho lý tưởng xã hội ấy. Do đó, dù sự nghiệp của Knight có thể đối chiếu với các hiệp sĩ đương thời, ấn tượng tổng thể về ông vẫn khác với hình dung của chúng ta về nhiều hiệp sĩ thế kỷ 14. Điều đó không làm ông kém đáng mến bởi ông yêu quý “chân tín, danh dự, lòng quảng đại và lễ độ”; ông chiến đấu vì đức tin chống lại ngoại giáo - sư tử giữa chiến địa, chiên hiền nơi đại sảnh. Đi cùng ông là Squire - trẻ trung, lãng mạn, phong nhã - nơi người ấy tình yêu “ái tình lớn lên cùng tuổi của chàng”; và ta có thể giả định rằng khi thời tình yêu tuổi trẻ qua đi, chàng sẽ đảm nhận những bổn phận nghiêm cẩn hơn của hiệp sĩ. Tầng lớp giáo sĩ được đại diện bởi Clerk, người phát ngôn cho đời sống học thuật. Ba chân dung lý tưởng này hoàn toàn thuyết phục vì Chaucer đang viết trong phạm vi kinh nghiệm sống và lý tưởng riêng của ông. Đại diện khác của giới giáo sĩ là Parson, hiện thân của sự khiêm cung và thánh thiện, của đời sống hành thiện, cầu nguyện và giảng dạy như giáo luật đòi hỏi nơi linh mục. Ploughman, anh của Parson, đại diện cho trật tự thứ ba trong xã hội Trung cổ lý tưởng. Parson - và nhất là Ploughman - là những nhân vật được lý tưởng hóa nhiều nhất trong đoàn hành hương, đồng thời cũng là những nhân vật ít mang cá tính riêng nhất. Họ giống những hình mẫu hơn là những cá nhân sinh động. Tuy nhiên, các chi tiết cụ thể của phần miêu tả và vẻ đẹp đạo đức của những lý tưởng ấy - khi đặt đúng bối cảnh - lại rất cuốn hút và được trình bày đầy sức thuyết phục. Một lần nữa, ta nhận thấy rằng những mối quan tâm và lý tưởng tự nhiên của Chaucer mang tính thế tục chứ không phải ẩn dật, siêu thế hay thần bí.
Khi soi chiếu theo những lý tưởng của văn học về các đẳng cấp Trung cổ, phần lớn các tầng lớp khác đều bộc lộ những thiếu sót nghiêm trọng. Lawyer có vẻ bóp méo luật pháp để chiếm đất trái phép. Merchant cho vay nặng lãi (vốn bị Giáo hội coi là tội) và dính líu đến các giao dịch mờ ám. Physician chỉ chữa bệnh vì tiền và lơ là việc đọc Kinh Thánh. Prioress bị châm biếm vì sự tinh tế quá mức kiểu cách trong cung cách và cảm xúc. Chaucer dường như là nhà văn Anh đầu tiên chú ý đến lòng trắc ẩn đối với động vật - một mối quan tâm nổi bật cuối thế kỷ 20 mà trên thực tế chỉ bắt đầu xuất hiện từ cuối thế kỷ 18. Prioress dịu dàng với những chú chó nhỏ của mình. Chaucer chế giễu bà vì điều đó.
Chân dung Monk cũng vẽ ra những tật xấu điển hình của giới tu sĩ. Ông không ở yên trong tu viện mà thực ra là một người giàu có, béo tốt, mê săn bắn và di chuyển nhiều như một thương gia. Ông không muốn lao động bằng tay dù Thánh Augustine đã nói đó là bổn phận của tu sĩ. Nhà thơ thêm rằng:
Và ta bèn cho rằng lời ấy thật hợp lẽ.
Ta nên diễn giải điều này thế nào? Phải chăng đó là giọng của một Người kể chuyện ngốc nghếch, hay của một người hành hương ngây ngô - nơi Chaucer nói điều trái ngược với ý định của “thi sĩ đúng nghĩa”? Đó có phải là mỉa mai, hay cần được hiểu theo nghĩa đen?
Trước khi trả lời, ta nên ghi nhận rằng dù Chaucer liệt kê những tật xấu quen thuộc, giọng của ông ít lên án hơn nhiều so với truyền thống “văn học đẳng cấp”. Tiến sĩ Mann cho thấy các nhân vật được miêu tả chủ yếu qua công việc họ làm, và Chaucer đã tiến gần đến một thế giới hiện đại nơi ý thức cá nhân vận hành với các “giá trị tương đối hóa” - xét cho cùng, không còn là giá trị tuyệt đối. Đây là một khía cạnh khác của tính tự do nội tại trong bài thơ. Khuynh hướng tương đối hóa ấy có thể nhận thấy trong chân dung Monk dù ông vẫn được gán cho một loại giá trị nào đó - có thể là giá trị phi chính thống. Tuy vậy tương đối luận không phải là yếu tố chi phối. Nó không xuất hiện trong những chân dung khác nơi những giá trị được thể hiện là đáng ngưỡng mộ như ở các nhân vật lý tưởng; hoặc nơi giọng điệu sắc bén hơn nhiều và những phán đoán tiêu cực ngầm hướng về những nhân vật như Friar và Summoner. Pardoner bị khinh miệt sâu sắc, không chỉ vì gian trá mà đặc biệt vì sự thiếu nam tính (qua đó minh họa một thái độ nam quyền truyền thống khác: khinh bỉ những người đàn ông bị xem là nữ tính). Nếu chân dung Knight là mỉa mai, thì theo tiêu chuẩn hiện đại ta cũng có thể đọc chân dung Summoner và Pardoner là mỉa mai, tức là ngợi ca họ. Nếu Knight là côn đồ, thì Pardoner hẳn nhiên là người phát chẩn - điều này thật quá vô lý.
Vấn đề là ở chỗ Chaucer - “thi sĩ đúng nghĩa” - liên tục đảm nhận những điểm nhìn khác nhau trong The General Prologue cũng như trong Troilus và, không phải tất cả điểm nhìn đều nhất quán, cũng như không phải tất cả đều được ông giữ cùng một mức độ. Có những nhận xét rõ ràng mang tính mỉa mai, nhưng cũng có những nhận xét không phải vậy. Trong trường hợp Monk, không có lý do gì để cho rằng lời khen của nhà thơ là mỉa mai. Chaucer cố ý - và có phần khiêu khích - đưa quan điểm thế tục của mình ra phía trước, tán dương một đời sống năng động, bận rộn và sinh lợi. Có nhiều người, kể cả những người Lollard mà Chaucer có thiện cảm, phản đối những đức hạnh tu viện truyền thống hoặc đơn giản là không ưa chúng. Chaucer cũng vậy. Ông táo bạo hơn là ngây ngô. Tuy vậy ông vẫn chừa lại chút mơ hồ trong chân dung Monk, cũng như trong các chân dung khác.
Những con người thật
Những chân dung luôn luôn phong phú và kích thích suy nghĩ, với nhiều tầng ý nghĩa ẩn hơn vẻ bề ngoài - về thái độ đối với công việc, tiền bạc, giai cấp xã hội, v.v... Những điều ấy nên để người đọc tự khám phá như một niềm vui riêng. Tuy nhiên còn một phương diện nữa cần nhắc đến. Một số chân dung hẳn dựa trên những nhân vật có thật, nhờ đó bổ sung thêm một tầng ý nghĩa, một chiều sâu hấp dẫn khác, và - ít nhất với những độc giả mới - cả sự thích thú. Một trường hợp được ghi chép rõ ràng là Chủ quán Tabard ở Southwark (quán trọ này chắc chắn từng tồn tại), nơi những người hành hương tụ họp. Harry Bailly hẳn được nhiều người trong triều đình biết đến bởi ông là chủ quán của một quán trọ nổi tiếng trong một thành phố chỉ khoảng 45.000 dân. Ông từng hai lần làm Nghị sĩ Quốc hội, thường giữ các chức vụ như thu thuế, điều tra viên pháp y, v.v..., đồng thời vẫn điều hành quán trọ nằm trên tuyến đường London-Canterbury-Dover tấp nập. Ông có giống như Chaucer mô tả hay không, có lẽ không thể biết. Merchant có thể ám chỉ Gilbert Maghfeld, thương gia và chủ nợ từng cho Chaucer và nhiều triều thần vay tiền rồi phá sản. Man of Law có lẽ gợi nhớ đến Thomas Pynchbeck, một Serjeant-at-law danh tiếng thuộc phe chính trị đối lập với Chaucer. Ông này từng xúc phạm người bạn của Chaucer là Sir William Beauchamp và có lần từng ký lệnh bắt Chaucer vì một món nợ nhỏ. Những nguyên mẫu khác, tuy không chắc chắn, cũng đã được đề xuất đối với các nhân vật khác; và ngay cả trong sự mơ hồ ấy, chúng vẫn bồi đắp thêm cảm nhận của ta về bối cảnh xã hội và sức sống của The General Prologue.
Đề tài đa dạng: Vắng tính giáo huấn
Những nhân vật ngoài đời mà ta có thể nhận diện tương đối chắc chắn - tất cả đều thuộc tầng lớp thấp hơn và phần nào là đối tượng để Chaucer trêu chọc - cùng với khung ba đẳng cấp lý tưởng làm thước đo cho các nhân vật khác, đã khiến giọng điệu chung nghiêng về một sắc thái hài hước nhẹ nhàng. Tuy nhiên khi Chaucer trình hiện con người qua chức năng xã hội của họ - nơi sự xuất sắc được diễn đạt bằng lối cường điệu đầy nhiệt hứng quen thuộc: vị hiệp sĩ hoàn hảo nhất, kẻ ăn xin giỏi nhất trong nhà, chưa từng có người ban ơn nào như vậy, v.v... - ông tạo ra một sự ấm áp trong đánh giá khiến ta khó lòng gọi đó là châm biếm. Chaucer tránh các cực đoan xã hội - cả giới quý tộc lẫn cảnh nghèo khổ của nông dân - nhờ đó tránh được những âm sắc nặng nề. Ta nhìn thấy con người thế tục qua con mắt của ông; và ông quan sát họ, như Blake từng nói năm 1809, “như một bậc thầy, một người cha, một người ở vị thế cao hơn, nhìn xuống những thói ngu xuẩn vụn vặt của họ - từ Hoàng đế đến Miller; đôi khi nghiêm khắc, nhưng thường là với tiếng cười và niềm vui”. Tuy không khơi gợi cảm thức bi kịch, không có tính biểu cảm Lãng mạn, không có nỗi bất an kiểu thế kỷ 20, cũng không có thứ lạc quan dễ dãi của sự nuông chiều cảm tính; nhưng đây vẫn là thi ca lớn với sự phong phú của mối quan tâm nhân bản, giàu lòng từ tâm, tinh tế lạ thường, đa dạng phi thường; cõ lẽ đó là Kịch Thần, song nhất định là một hài kịch của con người.
Thanh Nghi dịch
