Chương 3.1
3.
Những ngày hè rảnh rỗi mưa phủ kín, mưa đúng giấc, nhịp bước của thời tiết tiên đoán được. Ngày oi nồng tắt trong màu bụi nước, ánh sáng bôi nhòa cảnh vật như phản ảnh mờ tối; buổi chiều đặc khít trong gió lộng, những cơn trốt cuồng vật mình rã rượi trên đồng ruộng, cây cỏ nặng nhọc. (Có niềm luyến tiếc ray rứt nào tan nát trong không trung); thời gian bị khuấy loãng theo tiếng rì rầm bát ngát – hoàng hôn biến mất, ngày và tối xô đụng. Những buổi chiều bỏ lửng âm u, mưa ở những vùng xa bên châu thành trên vùng đồi cây dinh thự, làng xóm mịt mờ cách sông rạch, trời sũng như tấm áo xám vắt không khô. Từ ngoài sông mưa đột ngột lùa vào, qua các đám vườn, như bước xô chạy rầm rập của một bầy chim không cất nổi cánh (lớn, nặng, tràn ồ ạt), bầy chim rồi bay túa thành khúc điệu tay vỗ bồng trầm miên man; tối ngắn, lạnh, chìm mau xuống vũng khuya, cách trở lầy lội tứ phía, cửa ngõ đóng kín, hai cây đèn cầy nhún nhảy trên bàn, bên ngoài là sự lôi cuốn kêu gọi của thiên nhiên cùng nhau vào cuộc hành trình chộn rộn và hoang vu. Không còn gì hiện hữu ngoài nỗi mông lung của kỷ niệm – kỷ niệm mờ mịt như cảm xúc - tỏa từ mình trườn phủ lên sự vật, những bóng mờ giao động hoài. Cô đơn mọc tủa như lông nhím sợ hãi – mưa dội từng chùm đêm sâu không đáy, hút đi trong những vang vọng – những hồi giục giã âm lên từ điểm, vô cực ngoài ý thức về trong im lìm những đường biểu diễn hư ảo rối rít đánh dấu quãng cách mơ hồ của thức và ngủ. Những tàu dừa bờm xờm ngả nghiêng xô xát, bóng đêm bị dồn đuổi từng chập quanh co. Buổi sáng ẩm, mốc, cũ như đêm vẫn còn duỗi dài, sương trôi từ mặt đồng lụt; mưa sớm lúc nào không hay, tấm lưới trắng mỏng, nỗi chán nản rớt lại từ ngày qua che mờ chân trời.
Tôi tự nhốt mình trong mấy tháng hè đọc sách. Sách, những giấc mộng cô đơn hiện thực của kẻ khác. Cơn hung hãn bền bỉ của hành động muốn nối kết hiện hữu vốn mù mờ, tan tác. Sách, chất ma túy của trí tưởng kích thích khát vọng tưởng tượng, hóa tôi thành nỗi hư vô đòi nhập thể. Ngày tháng bị đẽo đục rơi vụn, diện mạo trong con mắt riêng mình lở lói không còn hình thù. Chỉ rung lên sự mù lòa của từng giây phút chia rời và hủy hoại lẫn nhau; tình yêu mưng như nhọt độc nhức nhối. Tôi thèm muốn, tôi chờ đợi, tôi bất động, tôi ruồng bỏ, ruồng bỏ như một Định mệnh, như một dây trói nghiến vào hư vô, ruồng bỏ hết mọi người, kể cả Diệp. Trước sau cũng không giữ được Diệp, cuộc tình giữa chúng tôi kéo dài thêm chỉ là vô nghĩa. Tôi tự động tránh xa không gặp Diệp và tôi chẳng thể hiểu mình.
Vào một ngày bão rớt cuối mùa hè, tôi sang châu thành. Trời xám thất thần, gió lay ào ào đám cây trên đồi. Đường phố ướt sũng thấp nhỏ. Một cảm giác đột khởi khi đặt chân lên bến chợ hắt hiu, như tiếng động lan truyền mỗi lúc một thêm rõ mạnh: tôi lớn, tôi đổi khác. Mỗi bước đi tôi dấn thân vào nỗi cô đơn rộng mở ôm hết được ngoại giới, tôi có nhiều cặp mắt nhìn mọi phía và trên hết một cặp mắt trùm nhìn mãi tuốt xa theo dõi chính mình. Xóm làng chỗ tôi ở chìm trong cơn mưa bụi, mặt sông bốc hơi lạnh ơ thờ. Những đồ vật, hình thể nhàm chán phô bày xếp đặt theo viễn tượng mới quanh tôi, cả châu thành êm tĩnh như của riêng tôi. Một giấc mộng nào còn xa khuất đâu đâu sẽ hiện tới báo hiệu bằng niềm xôn xao kỳ thú. Tôi gặp Diệp trước ngõ trường, đang hấp tấp đi ra và chạm mặt tôi. Mắt nàng mở lớn sững sờ, tôi thoáng đọc thấy vẻ hoảng hốt bất định. Diệp kêu khẽ: anh, kinh ngạc lẫn bực dọc, rồi quay ngoắt lướt qua mặt. Tôi không kịp phản ứng, chỉ ngó theo. Diệp đi, lúc trên vỉa hè, lúc dưới đường, sau một chiếc xe thổ mộ mỗi lúc bỏ nàng thêm xa, tưởng chừng nàng đuối sức sắp ngã ngồi xuống hè, tà áo xanh nhạt bay quấn quanh chân. Trên xe hai người đàn bà ngồi quay mặt phía sau, mắt ngó lui bất động. Trường học nghỉ vắng đợi ngày tựu, tiếng ông Pháp cười vang trong sân, tôi đứng trân nghe cảm giác trưởng thành tan nhạt dần dần và phiền muộn đắm đuối.
Hết mùa hè ấy, tôi cũng không gặp lại Diệp. Vào niên học tôi không còn hăng hái làm việc như năm đầu mới đặt chân lên thềm đại học mặc dầu tôi đã qua được chứng chỉ căn bản. Trong giảng đường tôi chỉ nghe những tiếng động đều đặn vang dội vào tai thay những tiếng ầm ĩ lung bung trong sọ khi ở ngoài phố. Tôi đi chân từ nhà trọ đến trường, khoảng hai cây số, thường lúc trở về tôi thả quanh co các phố đến mệt nhừ mới thôi. Nhiều buổi trưa nắng dội trên đầu cô nhễ nhại, tôi lủi thủi trên các vỉa hè quên cả đói khát. Tôi không hiểu tôi muốn gì, những ý nghĩ bốc hơi trong đầu sọ như nước sôi reo trong âm đồng. Tiếng réo sủi kỳ quái đánh nhịp theo bước làm ngứa ngáy tay chân chỉ muốn đập phá. Tôi hất đá gạch, lon, những món đồ liệng bỏ ngoài lề, nhắc thầm: Mày là Trí, mày là Trí, mày không điên... Sau những cơn cuồng rông là thèm ngủ, ngáp cứng hai thái dương, tưởng rách mép, ứa nước mắt nước mũi. Và giấc ngủ chụp xuống như cùm sắt, như vải liệm xác bó chặt. Những giờ êm tĩnh, nỗi buồn thảm ủ ê bám chặt như đỉa, không buồn cử động xê dịch. Ngày nghỉ, tôi không về tỉnh, luẩn quẩn trên gác trọ một mình hoặc thả xuôi theo dòng người trên các đại lộ ở trung tâm thành phố. Những chiều thứ bảy, chủ nhật lê thê, căn gác hầm hơi không người, tôi quay cuồng chìm ngập trong buồn bã kinh hoảng. Tôi nằm co quắp như con sâu yếu ớt và thù hận sự nặng nề trống trải quanh mình. Dưới nhà trọ là quán phở, tiếng bát chén lanh canh cả buổi, mùi thịt bò gây gây tầm khắp gian nhà. Phòng bên, một gia đình tư chức lặng lẽ với một hạnh phúc lặt vặt thỉnh thoảng thoát thành tiếng cười của người vợ và đứa con gái nhỏ. Bến xe, máy nổ lui tới hòa với vòng động cơ ngoài ngã sáu. Chiều chiều tiếng còi tàu hú trong ga một lúc rồi tới tiếng trống và tiếng loa phóng thanh của rạp hát. Tôi sợ mọi tiếng động nhưng không chui trốn đâu được.
Nhưng từ ngày thứ hai, sự hiện diện của mấy đứa trọ chung phòng cũng làm tôi chịu không nồi. Tôi không thể kết bạn với chúng, tôi chiếm một góc cách biệt. Tôi không giống chúng, tôi khác, tôi khác hẳn và tôi đơn độc. Một mình tôi mọc trồi lên giữa một xã hội tôi thù nghịch không chấp nhận như một thân cây khô chưa ngã. Tôi phải làm gì? Tôi sẽ làm gì? Càng ngày tôi càng nhìn không ra tôi. Tôi lêu bêu trong cơn khủng hoảng như chiếc nút chai trong chậu dập dềnh theo bàn tay vầy nghịch của một đứa nhỏ. Cuộc khủng hoảng thét rồi trở thành thói tật của trí não, tôi thâu thập vào mình và bỏ mặc tôi giao động tự nhiên cùng các mùa tiết tuần hoàn trong thân.
Tại sao Diệp lại yêu tôi đến thế ? Tại sao em lại yêu anh? Tại sao ? Tôi lập đi lập lại câu hỏi với tôi và với Diệp.
– Có lẽ anh hơi khùng, nhưng em yêu anh. Em yêu anh và em cũng phát khùng theo...
Diệp cười nghiêm trang, trông nàng già dặn khác lạ. Diệp xuống Sài-gòn tìm tôi, nàng không biết nơi tôi trọ và tới đón trước cổng trường cả buổi chiều. Diệp đã loanh quanh trong các phố, tay cắp nón, mắt ngơ ngác, đợi giờ học, có lúc tưởng lạc lối không trở lại được chỗ cũ. Nàng đứng dưới gốc cây trên hè, nhìn con lộ rộng và thành lính bên đường, lảng vảng bên nàng một hai đứa con trai liếc ngó. Tôi tưởng Diệp có thể ôm choàng lấy tôi, khi tôi tiến gần tới. Diệp nhớ, Diệp trông đợi, lo âu, Diệp cần tôi, nàng không thể chịu nổi sự vắng mặt vô lý của tôi và bỏ học tìm. Anh muốn gì ? Tôi muốn gì ? Anh không còn yêu em ? Đó là một điệp khúc bất tận, anh yêu em, anh yêu em... Rồi còn gì nữa ? Những nhớ nhung khắc khoải Diệp không nghĩ rằng người ta có thể vượt qua, tình cảm là ngọn lửa mình nhóm lên và mình có thể dập tắt, mọi tình cảm đều là ý muốn không thành tựu, không dám hiện hình, ý muốn giả dối. Tôi nhớ và tôi quên như tôi có nhiều ý muốn.
Buổi tối, từ trong nhà hát ra, ông Pháp vẫn còn tức giận nguyền rủa tôi. Ông hỏi Diệp: “Thằng Trí nó làm cái gì đó, mày” ? Tôi trông thấy bộ mặt ông Pháp lúc bấy giờ, mắt long lanh dữ tợn trên khuôn mặt khô héo. Hiệp nói một câu bênh vực cho tôi, Thuận im. Lang nói: “Thằng Trí nó khùng bác à. Nó khùng từ hồi đó lận…” Diệp cũng nghĩ như thế. Diệp đã tâm sự về chuyện tình của chúng tôi với Thuận và có lẽ Hiệp cũng biết. Và Thuận nói đối với đàn ông, tình yêu không phải là tất cả đời của họ. Tôi nổi giận la: “Tại sao em lại mang chuyện ấy nói với người ngoài”. Diệp dịu dàng: “Em chỉ nói với chị Thuận”. “Không thể được, nói để làm gì ? Ích lợi gì ?” “Rồi trước sau mọi người cũng biết”. “Không ai biết, không ai được quyền biết”. “Em không hiểu anh. Anh không thích cho người khác biết”. Tôi chán nản không nói thêm, tình yêu của Diệp như trói siết tôi lại và nhiều lúc tôi không còn muốn vùng vẫy nữa. Tình yêu không phải như thế, em biết không ? Không phải như thế.
Chúng tôi ra bờ sông, nhìn buổi chiều rớt dần trên mặt nước, xem đám người xô chen xuống đò máy sang sông và những chiếc tàu lớn cất hàng bên nhà Rồng. Thần trí tôi vơi trống được một lúc, nhẹ tĩnh như niềm quên lãng lởn vởn. Sự hiện diện của Diệp kề sát thấp thoáng nhẹ nhõm như hơi gió thổi đều không dứt, có lẽ tình yêu rốt cuộc chỉ là sự hiện diện của kẻ khác mở rộng được sự hiện hữu của mình trong giây phút cảm ứng. Nhưng không lâu, Diệp không đề tôi yên, nàng bắt đầu kể, bắt đầu nói:
– Có người đi hỏi cưới em ? Anh tính sao ?
Tôi quay lại nhìn chăm chăm vào mặt Diệp:
– Ai ?
– Em không biết. Một người ở Sài-gòn.
– Em bằng lòng chưa ?
– Có lẽ ba má em bằng lòng.
– Vậy thì em bằng lòng chớ gì ?
Diệp nổi giận, nắm cánh tay tôi như muốn xô tôi té xuống sông. Tôi mỉm cười và cũng nói, tôi biết chắc cái tác dụng của ngôn ngữ xử dụng sẽ khuấy loãng mọi cảm xúc của mình cũng như người. Thứ tình của Diệp, của mọi người, buộc chặt vào ngôn ngữ như lối mòn giả dối dẫn đến chốn hư ngụy. Tôi nói tôi không muốn có gia đình, không muốn tạo những ràng buộc, không muốn nhập vào gia đình nề nếp của Diệp, không muốn làm một viên gạch trong gian nhà trang nghiêm chất nặng quá khứ, chắc chắn ba má Diệp không ưa nổi tôi. Diệp nói Diệp chỉ có thể sống với tôi, người ta cần kẻ khác, cần gia đình, cần ràng buộc, cần hy sinh cho người mình yêu; ba má Diệp cưng chiều Diệp, sẽ chấp thuận, miễn là tôi chịu nghe lời nàng, chiều nàng một lần mà thôi...
– Không, không khi nào anh đặt chân đến nhà em...
– Tại sao ? Anh không yêu em. Anh không biết là em không thể sống không có anh. Anh muốn em thuộc về người khác...
Tất cả em từ bao giờ cho đến bây giờ và mãi mãi vẫn thuộc về người khác, anh cũng vậy. Chúng ta không thuộc về nhau. Em không hiểu, không bao giờ chịu hiểu. Một người là của nhiều người, không là vật sở hữu, cũng không thể cung hiến làm vật sở hữu của một người. Trừ phi anh chết, em chết, trừ phi anh được giết em. Và trong cái chết... Tôi nhìn hoàng hôn phía cuối sông, những ý nghĩ trôi nổi lềnh bềnh, buồn thảm, chậm chạp.
– Có lẽ em nên lấy chồng. Tốt cho em.
– Em sẽ lấy chồng cho anh coi. Đề em lấy chồng anh coi.
Diệp lặp đi lặp lại, lần này không đùa rỡn, và buông cánh tay tôi, bàn tay thong thả nắm chặt lấy chiếc khăn cuốn vòng quanh. Môi Diệp bặm lại, mắt vẫn đục đắm chìm: Em không chịu thua anh đâu. Tôi cười vỗ về: Không phải, không phải thế. Một lát Diệp lại quay về với mối tình của nàng, thủ thỉ thuyết phục tôi. Nàng hy vọng tôi nghe lời nàng, rồi rốt cuộc tình yêu vẫn chỉ là của hai đứa, mọi người mọi sự đều phụ thuộc, nàng sẽ cố gắng thi đỗ, theo học Sư Phạm, ra trường xin đồi lên Cao nguyên. Chúng tôi sẽ sống ở đó, cách biệt mọi người thân, chúng tôi sẽ có con, ngồi bên lò sưởi ấm, đi trên những ngọn đồi, nghe thông reo buồn dưới lũng; căn nhà cheo leo toàn bằng gỗ như gian nhà Diệp chỉ cho tôi bên đường phố bóng cây cao đang lẫn vào màu trời nhập nhoạng, “anh tha hồ đọc sách, mơ mộng”. “Anh chơi với con trong khi em đi dạy học”; con đường phố thoảng hương ngọc lan khi tôi cất tiếng cười.
– Còn anh ? Anh làm gì mới được chớ ?
Diệp vẫn mơ mộng, nàng tiếp tục vẽ cho tôi thấy cuộc tương lai trong một thế giới bất động. Trên hè phố bắt đầu loang lổ ánh điện tôi nghe lạnh lẽo cô đơn hết sức, tôi sẽ làm gì. Có lẽ rồi tôi sẽ đi tới, không hay biết, nơi Diệp và mọi người đã chỉ cho tôi thấy chăng ? Tôi đang đi bên cạnh Diệp và tôi vẫn luôn nhớ tôi đã nhìn thấy nàng như con gái lạ mặt bên kia hàng chấn song nhà tù, nàng phấp phới quanh quất nhưng không ở cùng chỗ với tôi. Chỗ của tôi ở đâu ? Diệp bỗng hốt hoảng sực nhớ trời đã tối, phải về tỉnh. Diệp lo sợ vì sự táo tợn của mình, khiếp hãi nghĩ nàng có thể không bao giờ về tới nhà cha mẹ. Em phải về một mình, đoạn đường dài mịt mùng bóng tối, anh thấy chưa, em yêu anh đến ngần nào. Em phải về và anh phải tới đó. Em chỉ cần bước vào ngưỡng cửa, cái không khí thân quen với ánh đèn ẩm, đồ vật cũ kỹ, những người trong gia đình, những lời tra hỏi cật vấn đã vây bọc lấy em và em yên ổn, yên ổn hoàn toàn. Tôi nói như đùa:
– Hay em ở lại đây. Đừng về nữa.
Diệp trợn trừng ngạc nhiên. Thấy không, em phải về, em còn là của người khác nữa, trước sau em cũng phải trở lại chốn anh không thể đặt chân tới. Diệp mỉm cười an ủi, nàng ngồi trong xe lẫn giữa những người lạ, ngó ra ngoài:
– Cuối tuần anh về hả ?
Tôi gật đầu, nhưng tôi nghĩ: tôi không về, tôi đi lại giữa những nơi chốn không còn dính líu tới mình.
“Em đã mất cái nhìn về toàn thể lịch sử em chỉ còn thấy được sự kiện hỗn độn. Tư tưởng của em phản ảnh cái thực tại bế tắc trầm trọng của xã hội này... Em bị đầu độc bởi mớ trí thức phản động…” ông Hoanh nói, ông vẫn coi tôi như đứa học trò cũ từ năm lớp nhất ông đã mở óc, kết nạp, hướng dẫn hoạt động mấy năm trước. Ông không chú ý đến tôi đã lớn, đã thay đổi và những phân tích, giải thích, suy luận của ông không còn thỏa mãn được tôi như ngày nào; sở dĩ lâu lâu tôi vẫn lui tới thăm ông, ngồi im lặng nghe ông dạy dỗ, nhận sách báo tài liệu ông chuyền cho đọc là so chừng cái mức độ rã rời của một lý tưởng ở nơi tôi (Lý tưởng trở thành huyễn tượng và con người bị nhấc bổng treo giữa hư vô). Tôi ngồi trong gian nhà gạch vùng quê, giống như gian nhà của gia đình tôi, nhưng ngăn nắp sáng sủa nhiều sinh khí hơn.
Ông Hoanh dạy trường tiểu học tại tỉnh từ nhiều năm, sống cách xa nơi làm việc mười cây số; buổi chiều ông trở về bằng xe đò hay xe Lambretta lôi. Vợ ông lãnh trông nom mẫu vườn trái cây của một gia đình giàu có ở Sài-gòn, nhà ở không mất tiền, sanh được bốn người con và còn nuôi thêm đứa con nuôi, con của một nữ đồng chí của ông Hoanh đã chết trong nhà giam của quân đội Pháp; vợ ông là người nhà quê thuần túy không biết chính trị và cũng không hề để ý đến hoạt động của chồng, chỉ lo chăm sóc con cái, vườn cây, bầy heo và bầy gà. Ông Hoanh thường nhật có dáng dấp bậc mô phạm hiền lành, kiều mẫu, một ông giáo làng già mãi không hết tuổi, an phận kín đáo. Những khi ngồi họp với chúng tôi, bọn học sinh mới lớn, ông linh động hơn, hăng hái hơn nhưng vẫn không rũ hết vẻ lừ nhừ cố hữu.
Ông đứng dậy sỏ chân vào dép, đi tới tủ gỗ, mở tìm mấy cuốn sách đã cũ vàng, trao cho tôi: “Thày khuyên em nên đọc kỹ mấy cuốn sách này”. Tôi không muốn nói với ông là trong mấy năm tôi đã đọc khá nhiều sách loại này, tôi đã đọc như kẻ đói khát, như kẻ tội lỗi, như kẻ chết đuối, tôi đã đọc như tôi muốn được sống và được chết (và tôi không sống cũng không chết) “Em phải làm việc lại. Chỉ có công tác thực tế mới làm cho em thấy hữu ích, em mới có nhãn quan đúng về lịch sử... Còn những cái này em phải hiểu... Cách mạng có những lúc thoái trào, lực lượng phản động…” Ông chỉ tay xuống bức hình lớn chụp đám thanh niên nam nữ Hung-gia-lợi cặp tay nhau trên đường phố, sau lưng là một ngọn cờ, trong dáng điệu tươi cười hớn hở của những kẻ bước tới chốn hẹn hò của lịch sử, trên một tạp chí ngoại quốc. Tôi ngó theo, nhớ tới những tấm hình gấp ở trong và nhủ: Tôi không có đồng bạn.
Tôi đã tiếp xúc với những đứa cùng lứa tuổi tại trường Đại học, tôi cố gắng muốn gia nhập trở lại nỗi mê say cũ mà không được. Bọn sinh viên di cư, tuy không còn quá khích như năm mới vào, chịu ép mình trong chế độ mới nhưng vẫn giữ thái độ tinh thần quyết liệt của những kẻ mất quê hương đối với chủ nghĩa. Đám sinh viên ông Hoanh giới thiệu tôi đến chỉ là bọn tư sản đang tự sát. Tôi đã tới dự buổi họp của bọn sau này bàn định chống lại việc thống nhất Tổng Hội Sinh Viên do bọn di cư đề xướng được ngụy trang thành một buổi tiếp tân tại biệt thự của một viên cựu bộ trưởng Canh nông. Âm nhạc nổi, gian phòng trần thiết lối Tây-phương các cửa lớn mở ra vườn đón ánh sáng buổi chiều mùa hè, bọn con trai con gái đi lại tụ tập cười đùa trò chuyện líu lo bằng tiếng Pháp. Đứa con gái chủ nhân sửa soạn đi Pháp học thuốc, bal cuối năm sắp mở của tụi Médecine, tinh thần của bọn Yankee không hợp với esprit européen, nhạc Jazz của bọn nègre (câu chuyện hào hứng khi một giọng đầm kêu trồi lên: Blues ảo não chưa.) Mỗi thống khổ của bọn đen tại Mỹ-quốc... Tôi ngồi chết cứng một đầu ghế dài, trên tay ly nước cam, không biết mình sẽ hội họp với những ai sau buổi tiệc vui này. Đứa đưa tôi tới đứng giữa một bầy con gái đang khoa môi múa mép về vấn đề chia rẽ chủng tộc tại Hoa-kỳ. Tiếng vỗ tay lốp đốp khi từ ngoài sân bước lên thềm hai ba nhân vật đứng tuổi, trong số có một nữ bác sĩ có chân trong phong trào vận động hoà bình. Phòng khách mỗi lúc thêm huyên náo, tôi có cảm tưởng mọi người có thể nói tào lao cho tới khuya và riêng tôi, tôi không hiểu tôi phải nói với ai, ngồi trên ghế ngó người qua lại đụng vào mình, đợi chờ gì. Tôi tự nhủ: tụi bay đang tự đào huyệt chôn tụi bay đó. Một bọn đứng kế, án hết tầm mắt, thảo luận về hoà bình xã hội, một xã hội không giai cấp: tôi phải ngó phía trước mặt, nhìn bức tượng đồng đen nhỏ đặt trên nắp đàn dương cầm đề khỏi nghe những tiếng làm xàm chọc lỗ nhĩ. Tôi bỏ về ngang, không đợi phần thứ hai của buổi họp mặt, và nói với ông Hoanh tôi không thể nào tiếp xúc với bọn trưởng giả đớn hèn chỉ làm mình khinh bỉ, chúng nói chuyện cách mạng như sức dầu thơm đi dự dạ hội. Ông Hoanh bảo: “Em chưa hiểu rõ thế nào là tranh đấu... Họ không phải là người làm cách mạng, trong cuộc cách mạng xã hội sắp tới, tất nhiên không thể có họ, nhưng trong lúc này họ có ích cho chúng ta. Em phải sáng suốt mới được”. Tôi muốn hỏi ông trong cuộc cách mạng sẽ tới đây có ông và tôi không, nhưng tôi biết ông không sao trả lời được.
Ra khỏi biệt thự, tôi bước vào con đường dài thẳng tới phi trường hai bên cây trồng kết thành vòm hiu quạnh trong buổi chiều nhá nhem. Tôi nghĩ đến đời sống chật hẹp ràng buộc, từ nhỏ tới giờ chưa vượt quá con đường dài ba mươi cây số từ tỉnh lên Sài-gòn, và tôi chỉ biết mơ mộng cùng chiều sâu thẳm của các ý tưởng. Tôi như sực tỉnh về thân phận mình hơn, một đứa nhà quê muốn thoát tới chân trời viễn vọng, nhưng đó lại là sự sực tỉnh muộn màng ủ ê vì bị nhốt kín trong gian hầm tối tăm của một trí tuệ ly thân.
Tôi biết gì về lịch sử? Lịch sử như sự cuốn hút của một trí tuệ rộng lớn bao trùm ở ngoài mình, một trí tuệ khác vùi dập mình cũng như cõi chết và cơn điên chăng? Thực tế hỗn độn xô đẩy truồi mau trong ngày tháng, tôi muốn vượt khỏi, muốn nhìn suốt bằng trí tuệ của tôi (của người khác ?), trí tuệ này cũng là lịch sử và tôi, tôi vẫn phiêu lưu bên ngoài dòng. Thật thế chăng ?
Tôi lớn lên trong vùng quê, trong tỉnh lỵ bé nhỏ, không thay đổi. Lịch sử ở những nơi khác, xảy lúc nào không hay, truyền bằng cáo thị, bằng loa phóng thanh, bằng các cuộc mít-tinh hoan hô đả đảo và đời sống nhộn nhịp náo động đôi hồi, nhưng cũng như dòng sông chảy ngang châu thành, rồi trở lại bình thường mòn mỏi. Người ta chết, người ta khóc, người ta đau đớn, người ta quên, người ta sống... Sống trong lịch sử. Tôi nào thấy gì ? Chỉ thấy lịch sử của những đời người vô vị nhạt nhẽo trong khung cảnh bầy xếp trơ trơ của sự vật.
Mỗi lần đặt chân xuống bến xe đầu chợ, tôi đều rớt trong khoảnh khắc mù lòa của màu nắng chiếu bình thản trên các mái ngói, mặt phố hay của màn mưa lênh đênh thôi giạt trên mặt đường hẹp ngắn kéo dài xa tắp, nghe âm vang của từng biến động nơi các vùng không tới, trong những ngày đã qua và những ngày sẽ tới, tắt lịm vào trong bộ mặt quen thuộc cứng nhắc của châu thành, Tôi, nhìn tấm bảng cũ xiêu vẹo trước phòng thông tin, ngày nhỏ tôi đã đứng đọc bản tuyên cáo không hiểu hết nghĩa, chạy băng trên đường về nhà, la lớn từ ngoài ngõ như vừa bắt gặp một kho tàng chính mình không rõ giá trị : “Nước mình độc lập. Độc lập rồi.”; tấm bảng ấy và chiếc loa phóng thanh vẫn mang lịch sử đến với châu thành nhưng tôi thôi không la hét nữa.
Làm thế nào tôi nhìn được lịch sử khi tôi chỉ nhận được những dư âm trong một thế giới chật chội vây kín ? Tôi muốn vượt, tôi muốn tới, tôi cố gắng và tôi tuyệt vọng. Không ai trợ giúp được tôi, ông Hoanh cũng như Hiệp. Ông Hoanh không chấp nhận cho tôi nhìn vượt khỏi tầm mắt của ông. Còn Hiệp bỏ mặc, Hiệp lần trốn sau thái độ gần gũi dửng dưng không chia sẻ, cũng không từ chối. Anh thấy những gì? Tôi không thể nào hiểu.
Tôi gần Hiệp, tôi chẳng rõ thêm điều gì về anh. Trong lúc chuyện trò tôi được nói về tôi, về những khát vọng, thắc mắc, băn khoăn, những dày vò cô đơn từ bấy lâu; Hiệp nghe chăm chú. Tôi nghĩ anh có những giải đáp cho riêng anh mà anh không muốn tiết lộ. Có phải anh nhận thấy với tôi không thể có lời giải đáp nào thoả mãn nồi ? Tôi bị đày đọa trong nhà ngục do chính mình dựng lên và chỉ tự mình mới giải thoát được cho mình ? Có lúc tôi cho rằng Hiệp chỉ coi tôi như một thanh niên tỉnh lỵ vừa lớn, loá mắt vì hào nhoáng của chủ nghĩa, ôm những mộng ước ngông cuồng, tuổi tác sẽ làm cho tiêu mòn mất tích; tôi bực bội vì bị xem thường quá đáng. Hiệp xuất hiện trong hiện tại lặng lẽ phô diễn như không che giấu một ý nghĩa nào hoặc có quá nhiều ý nghĩa; bất chợt vài lúc lãng đãng thụt sâu trong màn khói của một dĩ vãng riêng biệt: vùng quê miền Bắc mang những tên thơ mộng cổ kính, những bầu trời hắt hiu của tuổi thanh niên lãng mạn, màu ánh sáng rực rỡ của những ngày cách mạng, những ngày đầu kháng chiến, một vài kỷ niệm tầm thường của chốn quê hương đã bỏ với bè bạn, kẻ thân thuộc… Một lần Hiệp nhắc đến một người bạn-Kim-như kẻ chưa giác ngộ thân phận, say mê hoạt động chính trị, đến chót đời cũng không thể làm việc gì khác hơn. Kim hiện không rõ ở đâu, nằm trong tù hay trốn khỏi nước hay đã bị thủ tiêu ? Sự huyền hoặc của một kiếp sống độc đáo đã cuốn Kim vào hư vô bất tận, Hiệp nói như thế; cả một kiếp sống may mắn người ta chỉ trùng phùng với lịch sử, hiện hữu tới tột cùng, một lần duy nhất, qua khỏi dịp là trở lại nguyên vị trong đời hằng ngày (tầm thường, làm nhàm lê lết như con cuốn chiếu), cứ thúc áp bắt mình vượt khỏi thân phận chỉ là tự vẫn, những khoảng trống rỗng của giờ phút trôi qua là đời sống đích thực người ta thường bỏ chạy. Tôi cật vẫn lần ấy đã đến với anh chưa, anh đã sống thực lúc nào trong sự hoà nhập với mọi người và mọi vật. Hiệp không trả lời.
(Có lẽ không ai trả lời được. Đó là kinh nghiệm kín. Hoặc người ta ở lại nơi chốn tìm thấy - những giây phút vĩnh viễn hoá như cõi chết – bằng hành động dệt những dây trói ràng; hoặc, như lưu Nguyễn đã về trần chẳng còn dịp may trở lại, cách biệt ngơ ngác và xa lạ với cả cõi tiên lẫn cõi tục).
Hiệp quay lưng, tựa tay lên mặt quầy, gần bên bình lay-ơn; sau bình bông, người đàn bà ngồi thẳng, cổ dài như muốn vươn cao thêm như con hươu sao ngếch mõm ; dường như Hiệp nói câu gì duyên dáng và người đàn bà cười ngất, đầu tóc nghiêng ngả. Tôi đứng bên góc đường, sau lưng là phố tối âm u, nhìn qua quán rượu chiếm góc đường đối diện, mở vòng hai mặt phố. Trước quán là vườn bông với đường chạy vòng, những nhánh phố thông sang con phố Tây sang trọng, nhập vào đường bờ sông lớn chạy từ xưởng Ba-son xuống cột cờ Thủ-ngữ ; ngồi trong quán những buổi sáng mệt mỏi êm tĩnh nhìn thấy chiến hạm nằm nghỉ, bến đò sang Thủ thiêm, mặt tường của hãng Caric. Trong ánh hồng nhạt của nê-ông, người đàn bà và Hiệp cử động như một khúc phim câm, không người thứ ba trong quán. Tôi tò mò theo dõi, nghĩ : Hiệp không về nhà tối nay. Một lúc người đàn bà vào trong, Hiệp khất khưởng rời quầy, tới ngồi vào ghế bên cạnh một chiếc tủ đứng thấp bọc kính dầy thắp đèn sáng bên trong - chiếc máy hát tự động mỗi lần bỏ xu vào. Người đàn bà trở ra, Hiệp lại đưa tay nói tiếp nhưng không rời chỗ, câu chuyên có vẻ tương đắc; đến phiên người đàn bà áp má xuống mặt quầy, nhoài thõng bàn tay ra phía ngoài và Hiệp tiến đến, ghé lên chiếc ghế cao cũng cúi mặt xuống, nhìn xa trông dáng điệu như Hiệp đang ôm người đàn bà có lẽ Hiệp nói nhỏ điều gì đó vào tai, người đàn bà cười rúc lên bật ngửa người lại sau, còn Hiệp cũng ôm bụng nghiêng ngửa: Tôi nghĩ giá Diệp được chứng kiến ông thày của nàng trong cảnh này.
Tôi băng ngang đường, kiếm chỗ ngồi đụt mưa trong đám bàn ghế mây kê ngoài hè quán rượu sát chân tường dưới mái hiên khuất, nghe rõ câu chuyện trong quán, Người đàn bà và Hiệp đang nói về một người thứ ba: Kim. Người đàn bà chắc là tình nhân cũ của Kim, đang kể những tật xấu của bạn cho Hiệp cười, tiếng nói yếu hơi thoát thành những âm chuốt nhỏ sắc; Hiệp coi bộ muốn say, cười ngả ngớn khoái trá, gọi người đàn bà bằng cô, dưới ánh đèn mặt hai người xanh xao bệnh hoạn. Tôi ngồi đến năm phút người đàn bà mới thấy, bước ra chào. Trong quán, âm nhạc đột nhiên vọng lên kéo theo một khúc hát thầm thì kề lề : Xưa có một mối tình lớn tưởng bền thiên thu. Xưa có bầu trời xanh...; Hiệp ra cửa quán, ngó mông sang phía sông tối mù vì màn mưa nhỏ nhưng dầy; khi người đàn bà đi ngang chỗ Hiệp đứng họ cười với nhau. Tôi nhìn đốm lửa thuốc trên môi Hiệp lập lòe và bỗng dưng nghe mình cô đơn gần gũi với Hiệp lạ lùng; tôi muốn tiến nói với Hiệp nhưng không biết phải mở đầu câu chuyện như thế nào.
Tôi giật mình khi Hiệp kéo ghế bên cạnh nở nụ cười, Anh đã ngà say, cử động khoan thai và thoải mái, anh ngồi im một lúc không nói hay anh đã nói một câu trước đó nữa mà vì mưa tôi không nghe nên anh im. Anh bập bập từng hơi thuốc dài, điếu thuốc lòe sáng cháy sèo vì những bụi nước tạt. Chúng tôi cùng im lặng nhưng không ai thấy khó chịu. Tôi nhìn ánh điện hoen mờ trên bờ sông, nghe dào dạt tiếng mưa trên mặt nước. Rồi người đàn bà cũng ra ngồi chung, bỏ mặc cái quán trống vắng trong ánh đèn màu và những đĩa nhạc quay không. Một lúc nhạc tắt, tôi còn nghe mang máng bên tai lời ca ảm đạm tê tái (một thành phố cao, chán chường trong khuya): nhìn ra cửa sổ, hút điếu thuốc nhạt nhẽo này của tôi... điếu thuốc nhạt nhẽo của tôi. Người đàn bà chia tay hứng những giọt nước nhỏ đều đặn rớt vào lòng bàn tay lơ đãng.
Tôi tưởng tượng Thuận dong đèn chờ Hiệp trong gian nhà ẩm ướt giữa con phố hiu hắt đen đặc những bóng tối đe doạ, con phố bị nhấn chìm vào trận mưa lướt thướt như một mạch nhỏ đứt lìa, rùng mình nghĩ đến những xác chết đã nằm sóng sượt ở nơi này theo lời Diệp kể, nàng không tắt đèn thiếp đi trong giấc chập chờn lo âu; vào lúc gần sáng trời mưa lớn tứ bề, chợt choàng thức, chính lúc đó Thuận tưởng mình đã nằm trong cái chết, Hiệp không ở gần; có lẽ từ đêm ấy âm thầm Thuận mặc cho cái chết quấn phủ như tấm chăn nhàu nát mà tay chân nàng bám víu tuyệt vọng, đêm sau tháng mười chỉ là lần lập lại thông thuộc thêm tiếng mưa lay chuyển dữ dội hơn các cửa ngõ và tiếng kêu gọi hốt hoảng của đứa con trai lạ mặt. Chị Thuận, chị Thuận...
Hiệp nghiêng mặt về phía sông, ánh sáng mập mờ trôi giạt theo những trận nước đổi chiều, hút thuốc lá luôn miệng, người đàn bà nhìn vào con phố lớn sau lưng tôi lâu lâu vẫn vọng tiếng nước hắt mạnh do những chiếc xe chạy nhanh, hat nho nhỏ trong miệng, môi không mấp máy. Những cử động, lời nói bâng quơ nhoà lẫn không kịp ghi nghe. Khi mưa tạnh, đột nhiên thành phố khuya vắng lúc nào, Hiệp đang nói lẫn với điệu nhạc dồn dập thoát từ tiệm khiêu vũ gần bên. Hiệp nói những gì ? những thứ tình kỳ quặc nối kết bọn đàn ông với nhau, đàn bà không hiểu, cũng những chia rẽ kình địch bắt buộc chúng phải chú ý tới nhau, yêu nhau theo lối thù nghịch; như tôi với Kim, Hiệp nói, người đàn bà giễu : đàn bà sẽ thủ tiêu hết mấy thứ đó – chưa chắc, chưa chắc... Tôi đứng lên hỏi : “Anh không về ?” “Về đâu? Tôi về đâu mới được ? Cô Phương nghĩ xem”. Người đàn bà ngửa cổ cười : “Nhất định là không thể về nhà em rồi”. Hiệp không chú ý đến vẻ giễu cợt của người đàn bà, anh không rời thế ngồi, đưa tay cho tôi nắm, bàn tay sấp mồ hôi nhão nhoét như một chiếc lá mềm bị vò nát ; người đàn bà hỏi : “Anh về sao ?”, quay lưng bước đi tôi nghe bị xúc động vì câu hỏi bâng quơ, câu hỏi đối với tôi như mời mọc níu kéo vào một thế giới có những kẻ nhìn tôi khác lạ.
Tôi trở lại quán những buổi sáng trống rỗng, thường từ sớm khi quán vừa mở cửa chưa ai ngồi sau quầy; một người đàn ông lau chùi xếp đặt lại bàn ghế, quét bụi trên mặt quầy, các kệ đóng trên tường, các chai rượu bầy, cắm sẵn điện vào các bàn trò chơi lạ mắt mới nhập cảng, đón xe của hãng nước đá khuân vào trong những két la-de nước ngọt, những thỏi đá tảng trắng trong. Từ trong góc quán, nhìn qua những khe lưới sắc uốn lượn, buổi sáng cháy dần trong ánh nắng hắt từ mặt sông, bôi trắng những thân tàu, lỗ đỗ trên mặt đường phố và công viên vắng vẻ. Một lát sau Phương đến trên một chiếc xích lô quen, ngửa cổ nói với người phu trước khi bước xuống đi thong thả nhìn bâng quơ về hai bên đầu phố, bước vào chỗ ngồi sau bình hoa tươi mới; người đàn bà ấy ban ngày xanh xao mệt mỏi hơn, bóng đêm in hằn thành quầng mắt, trải trên màu da và cặp mắt sâu, nụ cười thờ ơ xa cách. Phương ngồi vào chỗ, người đàn ông vào làm việc sau bếp; khách bắt đầu đến dần, thường là bọn thanh niên dư giả giết thời giờ bằng những trò chơi cơ khí — họp với nhau thành từng nhóm, đi ra đi vô, ngồi ở các bàn, vây quanh các bàn giải trí, có những người nửa chừng bỏ ra phố một lúc rồi quay trở lại, nhiều lần trong một buổi, không nghĩ ngợi, thành thuộc mọi cử chỉ, thái độ, lời nói phát biểu — dân áp phe chuyên nghiệp có hẹn hò công việc ghé qua hay ngồi nói tầm phào với Phương đôi ba câu chuyện vui đùa, một vài bộ mặt lầm lì khó hiểu không rõ nghề nghiệp. Phụ Phương có hai ba cô hầu bàn thơ thẩn quanh nàng, quán nằm trong phố ít người qua lại nên hiếm lắm mới có những người khách lạ phải tiếp đón.
Tôi có lẽ cũng là một người khách lạ, Phương không nhìn nhớ ra tôi. Tôi ngồi yên một chỗ, ngắm bọn thanh niên vô tư nô đùa với các trò chơi, những trò chơi tôi không hiểu một thứ gì. Tôi tự hỏi phải chăng tôi chỉ có những ý tưởng, một thân xác, những người thân, yêu và chỉ biết quay lộn với những món ấy như vật sở hữu nghèo nàn? Đó không phải là trò chơi, tôi sống với những ý tưởng có trong đầu, vượt ngoài giới hạn của thân xác, sống những mối quan hệ khác những mối hiện hữu cùng người thân. Tôi không biết nô rỡn, tôi cũng không thích, nhưng tôi vẫn thấy dường như tôi đang làm trò múa rối cho mình nhìn ngắm mình. Có lúc tôi chìm vào trong những đám mộng trắng, bỏ quên mình thoải mái và khi bị đánh thức dậy vì không khí chợt huyên náo của quán, tôi nghĩ có thể nào trở nên vô tình với kẻ thân thuộc và với chính mình – kẻ thân thuộc nhất.
Một buổi sáng, vào lúc vắng khách, chỉ có người lính thủy trẻ mơ mộng bên cốc la-de ở bàn giữa, Phương đột nhiên bỏ chỗ xuống bàn tôi. “Phải anh cười từ mấy hôm nay, em đã nhớ ra anh ngay” Phương xưng em ngọt ngào với tôi, như với mọi người, “Anh Hiệp đi đâu biến mất.” Tôi ngượng ngùng bối rối không tìm ra câu đối đáp, im như khúc gỗ cứng — người đàn bà kéo ghế ngồi trước mặt, hỏi thăm Hiệp, tôi có gặp Hiệp luôn không, nàng muốn được gặp Hiệp. Tôi trả lời lấp lửng, trốn chạy cặp mắt soi mói, không tiết lộ tung tích của Hiệp. Phương phải trở về quầy tiếp một người khách quen và khi xuống lần thứ hai, nàng cởi mở tâm sự một cách bất ngờ dễ dàng. Câu chuyện kể kiểu cách thản nhiên như chẳng dính dấp gì đến nàng.
Hiệp muốn nhận nuôi đứa con của nàng và Kim, “anh có biết anh Kim không?”, tôi không kịp nghĩ gật đầu nhận nói dựa theo lời Hiệp kể, “Có lẽ anh ấy đã chết?”, Phương trố mắt, lúc lắc mái tóc, “Không biết. Anh ấy có chết cũng không ai thương tiếc”, tôi táo bạo hỏi: “Cả Phương nữa?” “Chứ sao?” Phương cười, đưa mắt chào mấy người thanh niên vừa bước vào. Tôi có cảm tưởng như Phương đang đùa cợt về một người không đáng quan tâm. Hồi xưa, Hiệp cũng yêu thương nhưng không nói và Phương đã chọn Kim, “Hồi đó em mới lớn, chưa hiểu gì. Bây giờ thì tiếc. Giá em yêu anh Hiệp, có lẽ em không khổ”. Người đàn bà cười, thân thu nhỏ lại, hai tay kẹp vào đùi. Tôi muốn nói: chưa chắc đâu, Hiệp có thể cũng như Kim (Kim như thế nào?) nhưng để yên cho Phương cười. Người đàn bà thoát hiện trong phút chốc như một phô bày toàn thể không còn một chứa đựng ẩn giấu nào, nỗi trống không kỳ quặc như một cám dỗ vu vơ. Tôi nhớ câu nói của Thuận với Diệp : người đàn ông tìm kiếm một điều gì khác qua tình yêu, vượt ngoài tình yêu và người đàn bà phải cố hiểu. Tôi nghĩ Hiệp tìm đến Phương như muốn bắt lại mối liên lạc với Kim, Kim còn sống đâu đó; và có lẽ Kim cũng chỉ là bóng dáng có thể của Hiệp, bóng dáng đã mất hay muốn nhập hiện?
