Chương 2.2
Ông Pháp là người tính toán chỉ ly, ngay cả với vợ con. Ông thường chê trách người con trai thứ ba - chủ ngôi trường - ăn xài quá lố, vợ lớn vợ bé. Hai bố con mỗi bận giáp mặt là gây gổ, cả hai giống nhau đều nóng như lửa. Hồi sau này, người con được giải ngũ, về đòi lại trường, hai bố con giành giựt không ai chịu ai, coi nhau như thù địch. Ông Pháp nói chính ông một tay gầy dựng nên trường, năm con ông đi lính mấy lớp học còn phải mướn đậu trong ngôi nhà bên kia rạch, chính ông là người cất lên những dẫy lớp học mới trên miếng đất nhà của vợ chồng ông. Con trai ông hăm kiện ông vì chính hắn đứng tên chủ trường và đòi thanh toán bằng máu với ông già. Có lẽ tôi là đứa học sinh duy nhất được ông trừ nữa phần học phí, ông thường biểu vì lẽ tôi thông minh, học giỏi. Nhưng người trong tỉnh thình thoảng vẫn còn nhắc lại hồi thanh niên ông thương má tôi nhưng gia đình không thuận. Tôi không thể tưởng tượng hồi trai trẻ ông Pháp như thế nào và tình yêu giữa ông và má tôi sao. Có khi tôi nghĩ bậy ông có thể là cha tôi chăng? (Tôi có thể là đứa con của một cuộc ngoại tình chăng? Tôi không là con của một ai ngay cả người đã chết. Những nghĩ quái gở quay lộn trong đầu biến tôi thành một người khác. Không ai sinh ra tôi như ngày nay).
Từ nhà đến trường hằng ngày Hiệp đi, chân khoảng trăm thước trên đường quốc lộ dốc nghiêng một phía tới gần nhà ga trông như bãi hoang với đường rầy toa goong bỏ không dưới chân một ngôi đình cất trên gò, rẽ xuống ngõ đất rộng hơn lộ, giữa hai xưởng sơn mài, nối đến con phố chính và đối diện với ngõ vào trường; bước thong dong không chủ ý đến sự vật quanh mình, thường khi không thấy những đứa học trò đạp xe máy vượt qua một ngả nón chào. Thỉnh thoảng vào buổi sớm, Hiệp xuất hiện từ bờ sông đưa Thuận vào chợ, rồi mới tới lớp. Trong giờ nghỉ, Hiệp vô nhà uống nước, nói chuyện với Ông Pháp (Ông già cười vang khoải trả, nói giỡn oang tang.) Giờ tan, Hiệp nán đợi ít phút cho học trò tản mác mới thủng thẳng ra ngõ. Nhiều đứa hiếu kỳ dừng xe đợi thây ngoài đầu ngõ, theo chân hỏi chuyện dọc đường về. Những buổi tối mùa nắng, Hiệp và Thuận đẩy xe đến xin được mua nhà ông Pháp. Chiếc xe đỗ bên lu sành bự chưa đầy nước hứng từ mùa mưa trước dọc theo vach nhà. Trong lúc Thuận cùng hai cô cháu ông Pháp lo chuyên tước vỏ thùng, Hiệp theo ông Pháp ra vườn, đứng dưới mấy gốc cau, gốc dừa, đôi khi lẫn vào tàn cây măng cụt chuyện trò. Tiếng đối đáp lẫn trong các đám là và bóng tối yên tĩnh, lâu lâu tiếng cười của hai người nổi lên, tiếng cười của Hiệp kéo dài, lắng xuống theo những nhịp ngắn, Phố đã vắng chiếc xe nước mới ra khỏi ngõ trường, bánh sắt đè nặng trên mặt đường nghe rõ lớp nhựa trải nhăn nheo, nước sóng vỗ phình phình trong thùng. Dáng Hiệp thẳng, tay chống trên then ngang của càng xe cao đến bụng; Thuận đi bên tựa một tay đẩy phụ, mảnh mai trong tấm áo cụt trắng, (xe nước phải đẩy vòng theo các đường phố không theo lối tắt thường ngày của Hiệp); hai chiếc bóng nghiêng ngả qua những quãng sáng tối đều đặn của điện đường bên những tiếng động lạ tai giữa hàng phố chừng im ngủ.
Hiệp có thói quen đưa Thuận đi dạo lúc sẩm chiều trên quãng đường ngoài bờ sông, lên những dốc quanh trên khu đồi cây cao che giấu các công thự, đồ xuống nhà thờ, nhiều khi vượt khỏi cây cầu xi-măng - đường xe lửa sét rỉ nằm dưới trũng, hai bờ dốc đầy cây gai cổ đại -vào con đường lia khỏi châu thành. Họ cách nhau một khoảng chiều ngang hoặc trước sau một vài bước, ít khi sánh vai, cũng có lúc Hiệp nắm cánh tay Thuận đưa qua đường, cử chỉ âu yếm mà vẫn chia cách, họ nói với nhau những câu ngắn nhỏ, Hiệp hút thuốc ngó phía trước, còn Thuận chẳng biết đặt mắt vào chỗ nào. Thuận ưa mặc áo dài đen, như một vệt loang tối sớm trên đường đi, búi tóc trễ lệch bên vai dễ nhận biết từ xa. Một lần tôi theo dõi hai người suốt buổi chiều. Trước tiên tôi nhìn thấy họ như hai bóng im giữa một vùng hoang tĩnh, họ không ở đây. Đi mãi tôi cũng nhẹ loãng như một cái bóng nữa, quên ý định của mình. Tôi ngồi lại trên phiến đá sau nhà thờ, nhìn bóng tối bò dần từ duới vũng bờ bụi nơi đường rầy lên mặt đường dưới chân gò ; Hiệp và Thuận xuống con đường đất dẫn vào đồng ruộng và làng xóm kế cận châu thành; tôi ngồi chờ nghe chuông đổ hồi vang đập trong ngực chẳng khác nào thân mình là những vách trống (Tôi không hiểu tôi ở đó làm gì) Hiệp và Thuận ở lại trong con đường đất rất lâu tưởng như mất tích.
Mấy lúc sau Hiệp thường cùng ông Pháp ghé thăm một ông già Tàu bại xụi, suốt ngày nằm chết trên ghế xích đu trong căn nhà ngay đầu góc phố chợ. Từ ngoài ngó vô, gian nhà thụt sâu, tối om, bóng điện đỏ ké trên kệ thờ, ông già Tàu nằm như tượng quay mặt ra hè chắn cửa. Ông sống một mình trong không khi thâm u với cô con gái nuôi săn sóc. Ông Pháp và Hiệp bắc hai chiếc ghế đẩu quây lấy ông. Chỉ mấy phút đầu người ta thấy bóng cô gái nuôi mang nước mời khách, rồi biến lủi vào bóng tối bên trong. Ông Pháp nói cười mạnh bạo nhất, đôi lúc khuya, tiếng cười của ông kéo cái bóng im lìm nhỏ nhắn của cô gái ra khỏi một nửa bóng tối. Ông già Tàu không rành tiếng Việt, ông Pháp vừa nói cho mình vừa làm thông ngôn cho Hiệp. Đôi khi vắng ông Pháp, Hiệp cũng ghé tới một mình và những bữa ấy không nghe tiếng chuyện trò. Giữa hai người đặt một ấm trà. Hiệp ngồi đối diện với người bệnh cả giờ. Ông già Tàu là một triệu phú, gia tài đã chia hết cho con cái, chúng lo kinh doanh không đứa nào gần ông. Ông về tỉnh sống với đứa con nuôi tận tụy, nằm đợi chết, bị bỏ quên. Mới đầu tôi phỏng đoán Hiệp mê cô gái con nuôi ông Tàu, bây giờ tôi nghĩ Hiệp chỉ muốn nhìn sự vật trong thề tĩnh, muốn loại trừ những náo động trong tâm bằng cách tạo sự lặng lẽ quanh mình. Cô gái Tàu đẹp lầm lỳ. Nước da trắng xanh của người ít ra ngoài ánh sáng, mắt một mí như sưng mọng, miệng nhỏ chúm lại như một búp hồng. Tấm thân uyển chuyển, nhịp nhàng với mái tóc cụt, vẻ quý phải bất ngờ trong dáng điệu. Tên cô là Hàng Duỳn.
Buổi chiều thứ bảy thật dài buổi chiều Thuận đến thành phố hai ba tháng sau Hiệp. Ánh nắng tưởng không bao giờ tắt, gió sông thổi như hơi sốt, trong thành phố nhịp động một niềm rạo rực ngượng ngập. Ngày nghỉ ở tỉnh nhỏ như cơn băng huyết làm bộ mặt xanh xao thêm. Những chuyến xe về Sài-gòn đông chật. Tôi lẩn quẩn các phố, khắp tỉnh, không biết phải đi đâu với nỗi nhớ nhung cào cấu trong da thịt. Một sức đẩy trong thân tới nhập với kẻ nào đó sẵn sàng ôm ấp lấy mình cùng tan hòa trong nhịp thúc hối cơ thể. Nỗi nhớ nhung luyến tiếc xô rớt xuống vũng mịt mùng cảm giác, những chấn động mãnh liệt phủ mờ, làm biến dạng và triệt tiêu đối tượng. Dục tình như khoảng rừng già ngút ngàn trong bông nắng, cô đơn xum xuê và khô héo.
Trưa đã đi qua, bầu trời không mây vẫn tỏa chói, Lúc bấy giờ Diệp đã về nhà, căn nhà mát mẻ, kiến trúc mới, hàng rào cây thưa bên mặt nước sông đầy. Và Diệp im lìm trên giường trong nỗi mông lung của giấc ngủ muộn trái giấc chắc chắn úp chụp xuống, ủ kín mở cảm xúc hỗn độn tự ghi sâu bằng tưởng tượng. Mái tóc xõa rối, mắt cháy thầm, Diệp ngủ như một tàu dừa trong cơn giông, khua động xơ xác. Dù sao Diệp cũng ngủ được trong vòng che chở của gian nhà kín đáo, thân tình, mỗi xó góc đều đang thở hút, gìn giữ bầu không khí của một gia đình nền nếp được tạo dựng từ mấy đời mang theo khắp chốn như hành lý quý báu nhất. Ba Diệp là Trưởng ty Công chánh, thời trẻ ông được ra Hà nội học làm công chức đổi khắp đó đây đã sang Lào, ra Côn Đảo. Má Diệp đẹp xuề xòa, đeo cặp mắt kiếng trắng nhỏ; trong vẻ tươi cười dễ dãi của người nhiều tuổi vẫn phảng phất những nét kiêu hãnh của một thời con gái. Các anh chị của Diệp đều làm nên, có gia đình riêng, Diệp thường tỏ ý mong ước tin tưởng tôi cũng sẽ thành đạt như anh chị trong gia đình nàng.
Tai sao anh lại học toán? Anh học luật hay học sư phạm đi, nếu anh không thích y, dược? Anh chẳng biết học cái gì hơn là học toán? Anh tính làm giáo sư? Không khi nào. Giáo sư giống như ông giáo Hiệp của em hả? Không. Anh học chơi vậy. Học chơi? Ờ, học chơi không có việc gì học chơi đó, cho đỡ buồn. Tôi không thể nói với Diệp là tôi không đủ bình tâm đề có thể ngồi học hàng chục năm trời kiếm mảnh bằng và chức nghiệp trong xã hội. Tôi không thèm cái tương lai, cái địa vị mà xã hội trưởng giả đốn mạt sẽ dành cho tôi. Nàng đừng hòng lôi cuốn tôi vào cạm bẫy của nàng. Tôi yêu Diệp, nhưng Diệp cũng chỉ là sự mời mọc của một nơi chốn tôi ghê tởm trốn tránh. Càng lâu Diệp càng chìm khuất vào trong đời sống bao vây nàng, không còn là người thiếu nữ tôi nhìn thấy qua hàng chấn song nhà tù. Diệp. Diệp. Không thể được. Anh không thể theo em. Tôi phát khùng, tôi biết tôi mất nàng từ trong tôi. Không, không khi nào anh đầu hàng Diệp ơi.
Buổi trưa thứ bẩy ấy, chúng tôi đã ngồi trên phiến đá nơi gò cao sau nhà thờ. Trong mắt Diệp, thành phố say nắng núp kín. Dưới chân chúng tôi, mặt đường nhựa lỗ dỗ hoa nắng nhảy nhót. Vũng đất sâu, bờ dốc cây gai chằng chịt chen lấn bò trườn phủ con đường rầy, đá xanh lồn nhồn, những chuyến xe lửa đã thôi chạy qua từ hồi chiến tranh. Rời nơi đó, chúng tôi xuống ngôi chùa khuất trên con đường đất. Diệp vận bà ba, quần đen, đội nón, ép mấy cuốn tập trên ngực. Diệp được nghỉ học bất ngờ vì Hiệp đi vắng và tôi bỏ ý định xuống Sài-gòn. Chúng tôi ngồi nơi thềm sau liêu vắng, ẩn trong kẹt bể chứa nước bám rêu. Nền gạch cát bụi nhưng sạch. Những dãy cửa gỗ trai phòng đóng kín. Chúng tôi gây nhau vì một chuyện gì đâu. Diệp bỏ ra ngoài sân chùa. Tiếng guốc nghiến lao xao trên sỏi vụn. Diệp ra tới cổng, đứng dưới gốc đa già, rễ chùm buông thõng. Diệp tránh tôi, tiến sát bờ ruộng khô đất mới bừa, tơi nữa trên bờ đất lồi lõm đắp giữa hai thửa ruộng dẫn ra ngôi miếu hoang trên bãi cỏ cháy giữa đồng. Diệp bước vào giữa vùng nắng đang tỏa bốc ngùn ngụt rung rinh trên khắp mặt đồng. Nàng trọt chân, đứt guốc, nhấc cầm lên tay, chân dẫm phải đất bỏng nhảy nhỏm. Thốt kêu, thốt cười, thốt tuôn chạy. Chúng tôi đón gặp nhau trong miền. Tôi quỳ phủi cẳng cho Diệp, nắng vây tối hết cảnh bên ngoài, Diệp cười ngặt nghẽo, mồ hôi đình ướt trán, tóc xổ tung, mềm đi, trơn truồi trong tay tôi, níu lấy tôi, mặt ngửa ưỡn, thân dài thêm, mắt nhắm khít không muốn nhìn,.
- Đừng, đừng. Anh.
Diệp bất giác và tôi đột nhiên khựng lại, không tiến nữa, đợi Diệp hoàn hồn. Nàng hé mắt, mỉm cười hân hoan, ôm bàn tay tôi áp lên mà nàng, cám ơn anh, áp lên ngực phập phồng anh coi tim em đập dữ không? Ngoài cửa miếu, một con ngựa gầy gò thả hoang chậm rãi nhai cỏ, đuôi quật nẹt nẹt vào không khí, thỉnh thoảng thở phì phì. Tôi ngồi thẳng lên mặc cho Diệp âu yếm lấy khăn tay của nàng chùi mồ hôi trên mặt tôi. Hồi sau tôi nói:
-Về thôi.
Diệp xách guốc lủi thủi theo sau, thấy tội nghiệp. Lên tới đường nhựa, tôi bước mau bỏ Diệp, tính trở về nhà, tìm chỗ nằm ở góc vườn khuất gần miệng giếng đào, nơi đó hương cỏ thơm hắc, những trái điều đỏ trên thân cây nghiêng là xuống bờ lạch như một cây cầu cụt, nơi tôi vẫn lăn lộn như một con vật cuồng cẳng trong những buổi trưa ngộp thở, thúc cơn dâm trơ trọi thoát mau khỏi thân xác, để chỉ còn thấy mình đọng lại như một vũng nước nước ứ bẩn thỉu nhơ nhớp. Nhưng sự căng thẳng của thần kinh và xác thịt làm tôi tê mỏi bứt rứt loanh quanh.
Tôi vô tiêm thọc bi-a đơn thân. Bên cạnh hai đứa nhỏ đang chơi banh bàn nhấp nhôm la hét với nhau. Ba trái cầu gỗ lăn đi lăn lại trên thảm, va động vào các cạnh bàn, vẽ những đường chuyển động rắc rối. Tôi xoay quanh chiếc bàn hình chữ nhật vuốt ve cây gậy, ngắm nghía cẩn thận từng đường banh trước khi đánh. Nắng vẫn sáng trên chòm cây ngoài hè như hồi tưởng chờn vờn trước các giác quan. Quầy trống không người, những hộc gỗ gắn trên tường đặt những chai nước ngọt, xanh, đỏ, vàng chen lấn, màu sắc đơ dại như khích động vu vơ. Từ trong nhà, một chiếc “transistor” đang truyền lại những bài hát được yêu cầu với một lũ tên họ kêu vang bâu chung quanh như đám muỗi trên bóng điện đường phố -Tôi không ở đây, không chút gì quyến luyến tôi vẫn bị đầy vào chân không với nỗi ham muốn mờ nhạt. Tôi nghĩ đến Diệp, nếu tôi đã vô sâu hơn trong đời nàng tôi sẽ tới đâu, tôi còn đủ can đảm tàn nhẫn từ chối Diệp, từ chối cuộc chung sống với những giá trị tôi coi rẻ nhưng là một phần của con người Diệp không? Tôi nhớ đến người đàn bà nhớp dính trong ngõ hẻm lội, trong căn nhà sàn op ẹp trên sông, bên ngọn đèn lay lắt, tiếng chuột chạy lịch kịch đụng đồ chiếc chậu nhôm, mùi hơi người trộn lẫn với nệm dỡ hôi mốc, đã dạy tôi một cách tỉnh táo bỡn cợt cách xử dụng thân thể như một lối mộng không hình ảnh, trùm lấp mọi ý tưởng bằng những hồi xô đẩy, tuyệt vọng không thể kéo dài. Lát sau một bọn thanh niên nhàn rỗi kéo vô chật ních vây quanh tôi, bộ tịch hớn hở vui thú, tiếng nói cười cọc cằn úp mở, mang theo dáng vẻ ngày nghỉ ở tỉnh đang dần hiện từng khoảng trong các quán nước, nghèo túng và phiền muộn.
Tôi thả ngược về lối chợ. Quán sạp cái đóng, cái mở. Giữa những xấp hàng chồng chất, vài mặt người nhìn qua màu nắng không rõ nét ngồi chóc ngóc. Tiệm tạp hoá, chạp phô, tiệm sắt, tiệm hớt tóc, tiệm thuốc bắc, tiệm may, thợ sửa giày, sửa khoá ngoài hè lẫn với đám thúng mủng trái cây... tất cả buồn tẻ ngài ngủ. Trên nóc chợ, mặt đồng hồ lớn kim chỉ mười một giờ ba phút từ ngày này qua ngày khác. Ngoài bến xe, thấp thoáng màu áo lạ từ Sài-gòn lên kiếm mua trái cây nhân chuyến đi chơi xa, vài bóng tươi thắm vay mượn nghịch mắt trên một nền vàng đều đặn của phố lỵ.
Tôi trông thấy Hiệp bước xuống từ chuyến xe lô vừa ghé bến cùng một người đàn bà lạ mặt, tôi đứng trong hàng hiên trạm thông tin, Loa phóng thanh trên máy vừa ngưng tiếp vận chương trình ca nhạc của đài Sài-gòn và một giọng rè rè đọc bản tin tức hằng tuần và thông cáo của tỉnh. Căn phòng hộp đặt trên hai đường chéo góc so với hình khối của chợ và toàn thể kiến trúc của con phố bị xẻ đôi, cửa kính sơn trắng đục, biểu ngữ cũ như vải, bích chương rách toạc từng mảnh lớn. Hiệp dáo dác kiếm xe, người đàn bà quan sát dè dặt cảnh vật quanh mình, chiếc va-ly da đặt dưới đất. Nàng mặc áo dài trắng mộc mạc như mặt không một nét trang điểm, nước da xanh, mắt dài nheo lại, sống mũi thẳng xuôi, môi cắn chỉ, một vẻ đẹp chỉ cần nhìn thoáng đã thân quen, lập lờ trong bóng dâm như một khoảng sáng mát. Thuận đó, “Chị đến tỉnh, mới thoạt trông, cảm tưởng như người lâu ngày trở về xứ. Tưởng như người bỏ đi từ hồi nhỏ, quên hầu hết cảnh vật quê hương”. Tôi đã nói vậy với Thuận, vẻ bỡ ngỡ của người muốn tìm lại trí nhớ. Hiệp kêu xích-lô cho Thuận, đặt va-ly dưới chân; mượn chiếc xe máy của một học sinh đứng chơi kế đó đạp thủng thẳng theo bên xe. Lúc ấy thân tôi tĩnh xa vắng hoàn toàn.
Thuận ít ra ngoài một mình, ít giao thiệp với xóm giềng. Diệp là người bạn độc nhất lui tới với Thuận. Mỗi lần Hiệp phải xuống Sài-gòn vắng, anh ghé trường nhắn Diệp tới chơi; Diệp mang sách báo cho Thuận mượn, thường khi ở lại cho đến lúc Hiệp trở về, về thoạt nhìn thấy quen ngay trong buổi đầu của Thuận, dần dần tôi ngó thấy nhạt đi nhường chỗ cho vẻ đắm chìm bí ẩn. Tiếp tôi, Thuận thường ngồi nơi bàn máy làm việc, tấm lưng gầy quay lại như một bức vải kín. Bàn tay ngón dài cử động khoan thai, nắm giữ bánh xe quay, móng tay nhọn trắng ngà gạch những nếp dấu trên mặt vải, như vờn trên sự vật. Khi nào có Diệp, Thuận tới ngồi chung ở bàn khách, Diệp trở nên dịu dàng đằm thắm thêm; Thuận và Diệp hoà lẫn, ẩn hiện, chấp chời như một song tấu, dẫn dắt nhau theo những biến điệu phong phú.
- Cậu không thể nói chuyện gì khác chính trị hay sao?
Thuận trách, nhân bữa Hiệp vắng mặt tôi hỏi cớ sao Thuận di cư. Tôi lúng túng ngượng nghịu thật sự. Với người khác hoặc tôi nổi giận biện luận đến cũng cho ra lẽ hoặc tôi khinh bỉ im lặng không thèm chấp. Tôi có thừa những luận chứng rằng ngày nay người ta không thể sống ngoài lịch sử, ngoài chính trị, dù muốn hay không; thoái thác chính trị là thái độ ngày thơ ấu trĩ, thái độ ấy là đồng lõa với phản động. Tôi đã học được rằng sự ngây thơ hồn nhiên cũng là một tội lỗi và tôi tâm niệm tôi phải sống sáng suốt, dám lựa chọn. Nhưng trước cặp mắt luôn luôn mang vết quầng thâm, tia nhìn thẳng và xa khuất của Thuận tôi ngồi im không cãi, Thuận chĩu nặng ở tôi như một vùng quá khứ tối tăm không phải của tôi, Thuận như món kỷ niệm của kẻ khác bị thất lạc khêu gợi những tình tự bí ẩn nơi tôi.
Khuôn mặt Thuận có những giây phút sững sờ như nước hồ in bóng một bầu trời hiu hắt của thành phố miền Bắc, tôi chưa hề đặt chân tới nhưng vẫn hằng nhìn trong tưởng tượng, Hà nội. Và mùa thu bâng khuâng trên mặt hồ Gươm, thổi dài qua những đường phố heo may mùa đông rét mướt ngoài cửa ô, mưa phùn gió bấc tê cóng cả trời đất... tôi thấy như tỏa ra trong những dáng vẻ ngập ngừng thấp thoáng của Thuận, Một bữa tôi hỏi :
– Chị thấy ở đây thế nào?
– Đây hợp với tôi, Sài-gòn ồn quá. Hồi gần di cư tôi mới lên Hà-nội. Thuở bé tôi cũng sống ở tỉnh nhỏ,
Nơi Thuận sinh ra và lớn lên, trong vòm giọng nói của chị, còn hiu quạnh trống trải hơn cả đây. Thị trấn ấy còn cả ngôi thành cổ với dãy tường dài đen xám, hào lũy vây bọc. Phố xá mở cách xa tường thành vài trăm thước, chưa trải nhựa. “Tôi vẫn nghĩ đinh ninh nơi những tử tội bị chém treo ngành trong buổi sáng trở lạnh Nguyễn Tuân đã tả chính là bãi đất trống chạy dài một bên đường tới sát hào thành ở trước cửa nhà tôi.” Nhà Thuận ở cửa Bắc, lưng chừng một con dốc. Trên đỉnh dốc đường xe hỏa chạy qua, bên kia dốc mới thật là thành phố. Từ cửa nhà nhìn ngược lên, dốc bụi như đổ lửa những trưa hè, Thuận thấy cái nhà ga xe hỏa bé của tỉnh lỵ. Chiều tối trong ánh đèn dầu le lói; nghe tiếng còi hú dài, tiếng chuyển động của đoàn tàu từ Hà-nội sang vào ga và sự yên tĩnh mênh mông cổ kính điểm những hồi trống kêu gọi của gánh hát nghèo. Những đêm đông dài tối, nửa khuya về sáng, đoàn tàu từ biên giới xuống, kinh đô không đỗ lại ga xép, tiếng còi và chuyển động kéo lâu mới im tắt. Từ tỉnh về Hà–nội đường cũng dài ba mươi cây số, có thể đi bằng xe tay, bánh gỗ lộc cộc, cánh gà kín bít, trên quốc lộ chạy giữa những làng mạc và cánh đồng - Vào những năm Nhật chiếm đóng, xe hỏa thưa đi ban ngày, xe hơi chuyên chở hành khách mang những ống than khói phun đen nghịt. Thuận kể những chuyện ấy với Diệp, tôi ngồi nghe.
– Chị không nhớ Hà-nội? Diệp hỏi.
– Có. Nhưng có lẽ bây giờ cho tôi về ngoài ấy, tôi không muốn về nữa.
– Chị không buồn?
– Không, Trí ạ.
Tôi nhìn Thuận, muốn đọc rõ ý nghĩ của chị.
– Chưa ở đâu, tôi được hạnh phúc như ở đây.
Thuận ngước mắt lên khoảng rộng tối trên mái. Từ xà ngang dọng xuống ngọn đèn trăm nến tỏa vòng sáng yếu đuối của nhà máy điện tỉnh nhỏ trong gian nhà ban đêm. Tôi nghĩ thầm : chị nói dối... nhất định chị nói dối.
Tôi không hiểu đời sống chung của Hiệp và Thuận như thế nào, đời sống riêng biệt khi chỉ còn hai người đối diện. Họ nhìn nhau, tất nhiên, nhưng trong mắt nhìn của Hiệp mọi vật đều đồng dạng, mất cá tính, bị đẩy xa, trở nên cứng nhắc, kín chặt và trơ vơ, Hiệp cũng nhìn Thuận như thế sao? Chỉ khi Hiệp cười, anh như trồi khỏi một vùng mờ đục, kéo theo ngoại vật phơi mở nối kết trong giây lát phù du; có lẽ Thuận thường bảo : Anh cười đi, anh cười đi để em được tới gần, và Hiệp cười, cái cười mở ra sự trống trải. Họ còn nói những gì với nhau, những câu nói thừa thãi và cần thiết như sự xê dịch trong thời gian buồn tẻ. Tôi vẫn thắc mắc về sự bí mật hằng ngày, sự bí mật phô bày không giấu giếm, lại sự thu hút, âm thầm; tôi coi Hiệp là kẻ đối nghịch đáng sợ hơn cả sự thiết lập mỗi ngày một vững của chế độ mới. Tôi bảo Diệp: Ông thầy của em có lẽ về đây vẫn với một nhiệm vụ... Diệp hỏi: Nhiệm vụ gì? Tôi đáp: Không biết. Làm sao anh biết? Nhưng em không thấy là ông ấy có thể ở Sài-gòn. Tại sao ông ta về day ở đây? Ở đây có gì đáng lưu luyến đâu. Trường từ Sài-gòn thiếu gì... Diệp mỗi ngày thêm thân với Thuận bảo : Có lẽ, anh nghĩ đúng. Theo anh tại sao ông ấy về đây? Tôi nói: Ông thầy của em có thể là mật vụ... Em không thấy ông ta thường vắng nhà xuống Sài-gòn luôn hay sao? Diệp lắc đầu : Em không tin, em không tin. Nhưng ông ấy về đây làm gì chớ? Tôi sẵng giọng: Ông tuyên truyền bọn học trò, tuyên truyền em. Ông dạy em những gì em nhớ không? Diệp không tin, nhất định không tin; không phải, Diệp nói và tôi bảo Diệp là đàn bà, không hiểu chút xíu nào về chính trị.
Một vài lần trở về trường ông Pháp, tôi gặp Hiệp trên lối đi, vừa thoát mau khỏi một lớp học, hoặc trong văn phòng khi Hiệp ghé hỏi Lang một hai điều; tôi thường đứng bên cạnh bàn làm việc của Lang, ngó ra sân nhìn Diệp thơ thần cùng hai ba đứa bạn trong giờ chơi; Lang lễ phép chào đón Hiệp, Hiệp đưa tay cho chúng tôi bắt ; trước mắt Hiệp tôi nghe mình trở khác như một hòn đá vô hồn.
Buổi lễ phát thưởng cuối năm được tổ chức tại rạp hát. Rạp gần đổ nát nằm trong một con phố khuất xe hơi không qua, bên cạnh bãi đất trống rác rưởi, sình lầy với những đám cỏ khô chết, ngày thường chuyên chiếu phim Ấn độ, Trung-hoa, phim cao-bồi, khoa học giả tưởng rẻ tiền, giá đồng hạng ba đồng, vào giấc chiều cho đám khán giả phần đông là con nít, trai gái bình dân (những người trung lưu khá giả vào ngày nghỉ xuống Sài-gòn xem hát trong những rạp thường trực của thủ đô) - lâu lâu một gánh cải lương ghé lưu vài đêm. Mặt tiền rạp hình chữ nhật phẳng đứng, viền nổi hàng tên hiệu bằng điện đã hư, chữ còn chữ mất, để lại những dấu lở trên tường cao - mở khoét bằng một khung hình thang vuông đặt nằm trên đường cao. Bên mặt dán bích chương quảng cáo, bên trái lỗ tò vò bán giấy khán giả đứng ngoài hè mua dễ dàng. Trước cửa rạp không hàng quán, sạp thuốc lá bánh kẹo, sạp báo, xe nước đá ở ngã ba quẹo vô chợ, chỗ bến xe thổ mộ, cách rạp vài chục thước. Khoảng hành lang ngoài khán phòng, gạch bông đất bám dầy từng bệt, trẻ nít lê lết nằm ngồi; trên tường bảng gỗ đóng mắt lưới đính hình ảnh màu sắc hoen ố lem luốc, năm ba tấm hình phóng đại các tài tử Mỹ-quốc treo cao cũ mốc khó nhận diện. Ghế trong phòng xiêu vẹo cập kênh cầu thang lầu ọp ẹp, ván lầu rung rinh muốn sụp mỗi khi bọn nít nhỏ reo hò vỗ tay giậm chân. Phòng thừa sáng vì các khe hở quanh vách bịt bằng những tấm chăn dạ rách, những lỗ hổng trên mái - quạt trần kêu kẽo kẹt mùi nồng nực khai ẩm lùa vào từ bãi đất, nhà cầu kế bên. Tấm màn buông trên sân khấu xanh dương loang lổ nước mưa, nhàu nát như cái nùi giẻ lớn.
Buổi lễ trọng thể, đầy đủ thân hào nhân sĩ trong tỉnh : ông tỉnh trưởng, ông phó, các trưởng ty, Hội đồng xã, các hiệp hội, phong trào, cha sở, phụ huynh học sinh... Cảnh huyên náo luộm thuộm, mọi người đều chuệch choạc, cứng nhắc không quen với cuộc vui. Ông Pháp bận đồ tây trắng, hàng bóng nhão, lúng túng phùng phình, miệng cười ngỏn ngoen, mặt mày đỏ gay, chạy lui chạy tới đón tiếp thượng khách, la dẹp bầy con nít ; đọc một bài diễn văn ngắn, một tay cầm giấy run lật bật, một tay cầm khăn thấm mồ hôi trên trán. Ông tỉnh trưởng trịnh trọng trong bộ da xám, trợt chân trên những bực thang hẹp dẫn lên sân khấu, ứng khẩu ban huấn từ thiệt dài, đi từ văn minh nhân loại hiện đại bắt qua lịch sử dân tộc, đến tình hình xứ sở và kết thúc bằng các khẩu hiệu tuyên truyền và đạo đức. Lang cũng đồ lớn, giầy trắng mũi nhọn, gài một bông hồng thẫm trên ve áo, đóng vai giới thiệu chương trình. Hắn bước từ tốn nghiêm trang, nhưng cái sàn sân khấu quá cũ ván kêu cót két dưới chân khiến bọn nhỏ mặc sức cười mỗi lúc hắn xuất hiện. Ba má Diệp ngồi trong hàng ghế đầu. Thuận cũng có mặt, nàng ngồi ngoài cùng hàng ghế thứ nhì, dành cho giáo sư nhà trường bên Kim Huê. Thuận như một khoảng tĩnh êm trong cảnh hỗn độn. Kim Huê nổi bật chướng mắt: áo dài đỏ thẫm như mầu son môi, tóc vấn kiểu cách cao xù, chốc chốc quay sang hỏi chuyện Thuận. Tôi đứng dựa cột sau Thuận vài hàng ghế cùng mấy đứa bạn học cũ, đã thôi học; đứa làm thư ký trên đồn điền cao su, đứa làm cán bộ diệt trừ sốt rét, đứa đang theo học nghề y tá, đứa đợi kết quả thi vô trường sĩ quan. Chúng phẩm bình hết bọn học trò con gái đến Kim Huê và Thuận bằng giọng điệu đàn ông lọc lõi như khi ngồi trong quán cóc ngoài bến xe, uống hết hai chục chai la-de (nhậu đi mày, món này đưa cay, đã lắm, cạn một hơi, khà, chẳng mấy bữa, nhậu xong tìm em út há...), tôi im lìm và chúng có vẻ nề vì tôi, vì tôi học hơn chúng, đậu bằng cấp. Tôi cười thầm, buồn một mình, càng ngày tôi càng tiến xa trên đường học vấn và tôi trở thành thứ loại gì? Những trí thức làm xàm đầy mãi lên cao trên một vùng trời hun hút chóng mặt, nhìn trở xuống cách biệt hẳn với đám bạn hữu ngày nào. Giữa chừng mấy đứa rủ nhau bao xe xuống Sài-gòn kỷ niệm buổi gặp mặt. Tôi ở lại, cuộc vui mỗi lúc thêm tưng bừng.
Giữa chừng mấy đứa rủ nhau bao xe xuống Sài-gòn kỷ niệm buổi gặp mặt. Tôi ở lại, cuộc vui mỗi lúc thêm tưng bừng.
Vào những phút chót Diệp hát. Bài hát buồn. Qua những lỗ hổng trên nóc rạp tôi không còn nhìn thấy trời và liên tưởng đến không trời đêm trong nhà giam đang loãng theo cùng thời gian. Hình bóng trong trắng của người con gái không quen trong hành lang sáng trưng suốt đêm bám quanh mi mắt mệt mỏi, bây giờ nhập vào dáng mềm mại trên sân khấu (màu áo xanh nước biển). Ánh đèn hắt từ một góc cao xuống ôm lấy khuôn mặt trong một nền âm thanh – những lời than thở vu vơ của một ai khác – mái tóc đen đỡ gáy. Tiếng hát vang như giấc mộng đẹp vẫn bị nhốt kín thoắt bay choàng siết thân Diệp, cuốn đưa nàng đến vùng trời huyền hoặc khiến không ai nhận nổi mặt. Tiếng hát dẫn dụ tôi vào nơi xa lạ riêng tư không chia sẻ, tôi rùng mình ngẩn ngơ, tự hỏi : Phải Diệp đó chăng? Ở dưới đáy Diệp cũng giấu nỗi buồn lớn lao đến như thế nào? Hát xong Diệp bỏ chạy vào trong. Bọn con trai hoan hô nồng nhiệt, bis, bis, chị Diệp. Thuận ngó lại phía tôi mỉm cười đồng lõa.
Phải Diệp đó chăng? Tôi nhớ buổi chiều đứng trước ngôi chợ nhỏ không người trên đường về tỉnh, đối diện là dãy nhà gạch lụp sụp không điện, con đường nhựa chia cách mở về hai phía đồng ruộng hiu quạnh; tôi đã đi chân từ dưới chân dốc cầu gỗ, (một đầu cầu mọc cái bốt gạch cao tùm hụp, một anh dân vệ vận đồ đen ngồi dòm lơ láo trong buổi chiều nhạt, dưới chân bốt cỏ rậm len lấn leo lên các khe gạch, dòng nước bị thu hẹp vì bờ bụi, điều khiển tấm biển lưu thông cho các xe qua lại, nghe tiếng ván cầu lịch kịch dưới sức nặng của bánh lăn), trở ngược đường về đứng đó, đi qua những ruộng mía xào xạc, nhà máy ép mía với cái ống khói phun đen vào những buổi trưa nắng lúc ấy đang lẫn dần vào mầu trời; chuyến xe đưa tôi về tỉnh bị “pan” dọc đường. Nơi này tôi vẫn thường qua, quen thuộc, nhìn từ trên xe chạy nhưng lúc đặt chân xuống tôi lạc giữa nơi lạ, tôi có thể bước tới và đi vào những thế giới nào. Khi trời tối hẳn, tôi đón gặp chiếc xe dip do ba Diệp lái từ Sài-gòn trở về, ông cho tôi quá giang. Ba và má Diệp ngồi trước, tôi ngồi sau cạnh Diệp. Dọc đường Diệp ngồi thẳng cứng, tôi nhìn nàng mờ mờ trong tối, lâu lâu bắt gặp ánh sáng của mắt nàng thoáng liếc, nghe nàng nói chuyện, và tự nhủ: Tôi chẳng liên quan gì đến những chuyện này, những người này. Và một lúc mái tóc Diệp phất tung vào mặt tôi, khô và sơ, tôi tự hỏi : Diệp đó chăng? Phải Diệp đó chăng? Khoảng cách giữa chúng tôi rộng lớn như cả đêm tối ào ào xung quanh, tôi ngắm những đường nét, cử động của Diệp chập chờn như ảo ảnh.
Trong cảnh huyên náo tuôn chảy ra ngoài đường thoảng, tôi lách mình đi xuống cuối rạp. Rạp vơi dần. Những tiếng nói lớn vang gọi trên hậu trường đang thu dọn, một vài nhóm học sinh còn đùa giữa các hàng ghế. Đêm lùa vào rộng qua các cửa mở trống. Thuận và Kim Huê còn đứng ngóng nơi cửa hông phía bãi trống. Một lát ông Pháp đi ra ngoài sân khấu ngó vào trong kêu: ông Hiệp, ông Hiệp; áo ngoài lột vắt trên tay, sơ-mi ướt mồ hôi dán vào bộ ngực lép, ông đi xuống tiến về phía hai người đàn bà, cười hả hê. Hiệp, Lang, Diệp và hai ba giáo sư khác theo sau ông. Đến chỗ hai người đàn bà, ông Pháp đứng lại, những người khác vây quanh ông. Ông nói chuyện bằng tiếng Pháp với Hiệp, cười ồn ào, dường như chỉ một mình Thuận ngó thấy tôi đứng ở hàng ghế cuối lơ ngơ. Tôi rời chỗ, sửa soạn bỏ ra ngoài, chợt tiếng ông Pháp kêu lớn vang rạp vắng:
– Trí, lại biểu cái coi mày... Mày còn đi học không mày? Tới đâu rồi? Ông nói với tôi như hồi tối nhỏ - Má mày mạnh giỏi chớ? Thằng nhỏ này très intelligent. Chịu khó học nghe mày, Trí. Đừng sớ rớ lôi thôi. Tôi với má nó hồi xưa quen nhau đó – Ông nói với Hiệp.
Diệp xích lui, nhường chỗ đứng cho tôi, vẻ lúng túng vì sự có mặt bất ngờ của tôi. Hiệp mỉm cười, quan sát tôi và tôi thủ thế bằng thái độ thách thức nhìn ngay vào Thuận. Tay bóp lại, ngực hồi hộp tôi không thể không khiêu khích Hiệp, tôi bị ùa lấn bởi phản ứng kỳ quặc không kiềm chế nổi.
– Anh mới về đây dạy học? Hồi trước anh làm gì dưới Sài-gòn? Hình như tôi có biết một người quen anh ở Sài-gòn.
Câu nói đột ngột, xấc xược cố tình của tôi làm mọi người chưng hửng. Tôi không nhìn thấy gì ngoài gương mặt của Hiệp đứng cao hơn tôi đang ngó tới thản nhiên. Lúc ấy tôi mong không có sự hiện diện của Diệp và Thuận nhưng Diệp lén bóp vào bắp tay tôi, kêu nhỏ :
– Anh Trí. Coi kìa.
Không ngừng được, tôi mất hẳn bình tĩnh, văng mạnh cánh tay giật giọng :
– Coi kìa, cái gì.
Ông Pháp bặm môi trợn mắt - Diệp mắc cỡ thụt lui - quát:
– Trí... Mày...
Tôi vùng quay ngoắt giữa sự ngơ ngác của chính tôi. Trí, Trí, tiếng ông Pháp vang đuổi :
– Chuyện gì đó mày, Diệp? Thằng Trí nó khùng hả...
Mày điên rồi Trí, mày điên rồi... Tôi đi miết tới bên bờ sông ngòi lại nơi một gốc cây khuất. Sự yếu đuối nhu nhược, dồn cơn hùng hổ cháy bùng trên da mặt và tiêu hủy, xâm chiếm tứ chi. Nước mắt cộm trong mi, tôi mệt như sau một cuộc chạy đua. Mày điên rồi, Trí, mày điên rồi. Trí. Tôi bật khóc, không cách nào ngăn giữ: dưới mắt tôi, nước sông đen ngòm xa như bầu trời trên cao.
