favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

Chương 2.1

2.

Lang là người đầu tiên nói về Hiệp. Hồi ấy tôi đã xuống Sài-gòn trọ học, mỗi tuần về tỉnh một hai lần vào ngày nghỉ. “Trường mới mướn một ông thầy Bắc di cư thiệt giỏi. Học sinh mến phục lắm.” Trường của ông Pháp, trường trung học duy nhất trong tỉnh nơi tôi đã theo những năm đầu tiên bậc trung học và Diệp đang học ở đó. “Ông ta theo kháng chiến tám chín năm mà phải di cư, nói nhiều chuyện ngoài Hà-nội thiệt động trời không tưởng tượng nổi. Mày có nghe nói Cộng sản hồi nào chưa?”. Lâu lắm tôi mới nghe Lang nhắc đến một người với nhiều bộ tịch và giọng nói nồng nàn, thường hắn nhừ nhừ như buồn ngủ. Tôi không mấy chú tâm, chỉ cốt gặp hắn để thông tin với Diệp. Năm đình chiến, Lang đã cùng tôi và mấy đứa nữa mưu tính trốn vào khu tập kết, ra Bắc, hắn cũng thảo luận bàn tính say mê, nhưng cuối cùng bỏ rơi chúng tôi giữa đường. Không thể tin được hắn, cũng cái giọng và bộ điệu ấy hắn nói về Kim Huê. Kim Huê, đứa con gái yêu dấu của Lang mà tôi coi rẻ.

 

Lang làm thư ký văn phòng cho trường của ông Pháp, và đại diện cho một Công Ty Bảo Hiểm dưới Sài-gòn tại châu thành. Ngày còn đi học, Lang đã có phong độ của một tư chức mãn nguyện. Đầu chải mượt, mặt trắng sáng sủa, cặp mắt lanh khôn giấu giếm, quần áo lúc nào cũng thẳng nếp, ăn nói cử động chậm rãi vừa tầm. Hắn thuộc loại học khá trong lớp, nhưng không hoài bão, thụ động, ù lì, dễ bị lôi cuốn. Đã có lần, muốn thân với Lang, tôi hỏi : “Mộng của mày sau này thế nào ?” Hắn buồn đáp: “Tao chỉ mong học đến nơi đến chốn. Nhưng hoàn cảnh gia đình tao chắc không được”. Gia đình Lang thuộc lớp trung lưu thành thị, đông con, không gốc rễ ở quê cũng như ở tỉnh, thứ giai cấp bấp bênh nghiêng ngả, chỉ cần một biến cố tầm thường cũng đủ làm suy sụp phân tán. Lang thứ ba, trên hắn là người chị, dưới hắn sáu bảy đứa em trai gái. Bố làm công chức ty Canh Nông, mẹ và mấy chị em gái xúm nhau trông việc nhà và cửa hàng xén ngoài chợ; ngoài ra gia đình cũng phụ thu được một số huê lợi hằng năm của một khoảng vườn trái cây, của hương hỏa ông bà đề lại. Tôi hỏi dồn : “Học đến nơi đến chốn là đến đâu ? Tú tài, Cử nhân hay Bác sĩ, Thạc sĩ, Tiến sĩ. Mà đến nơi đến chốn để làm gì mới được ?” Tôi nổi nóng vô lý. Bản mặt Lang lúc ấy u tối, ngây đụt hết sức. Chiều tan học, tôi đạp xe máy ra khỏi tỉnh, đi vào trong lối mòn giữa ruộng mía cao ngất đầu. Lá sắc chen chúc vướng mắc như rừng gươm. Hương ngọt ngào tầm khí trời. Bông mía trắng nổi từng cụm trên nền xanh của lá phơ phất như mây. Câu hỏi không nghĩ trước đặt cho Lang, dội trở ngược vào tôi. Tôi sẽ làm gì? Trở thành cái gì? Tôi mười bảy tuổi, tôi đọc các sách tuyên truyền chủ nghĩa, chứng kiến chiến tranh, mơ tưởng đến xã hội. Nhưng tôi sống giữa làng xóm nghèo bẩn chật, những phố quận tẻ nhạt không chút sinh khí, và tôi không có bạn hữu. Khi tôi trở về nhà, trời đã tối. Má tôi và chị Lệ, mỗi người bận bịu một góc, chờ cơm. Có lẽ đó là buổi đầu tiên, tôi bước qua ngưỡng cửa nhà nhận ra sự lạnh lẽo âm u cần xa lánh.

Vẻ mãn nguyện, hèn nhát, phản trắc mỗi năm mỗi vẽ rõ trên nét mặt Lang. Những buổi tối, Lang nắm tay vợ đi chợ ăn nhậu, hắn vận pyjama màu xanh lơ viền sậm gài nút tréo, vợ tóc uốn vẫn lên đỉnh đầu, õng ẹo trong bộ đồ lụa mỏng mầu hồng thêu rồng thêu phượng. Thứ bảy chủ nhật, hai vợ chồng trang điểm đưa nhau xuống Sài-gòn coi hát bóng; Lang sơ-mi trắng hồ cứng, khuy măng-xét vàng chói, kẹp cà-vạt hình móng ngựa mang hạnh phúc; Huê tô mặt đậm, áo dài bông khoét cổ sặc sỡ, bóp dài tòn ten bên vai. Tôi gặp hai đứa choàng móc tay nhau dạo phố hay vô tiệm ăn, vẻ hãnh diện quê mùa mà mắc cỡ dùm. Tôi nghĩ dù sao nó cũng đã là bạn một thời, cùng đi chơi với nhau, từng mưu tính theo đuổi một công chuyện. Đôi lúc tôi vừa giận vừa thương hại Lang. Nó không nghĩ, nhớ, tưởng gì, óc nó là vũng ao bùn, đời sống của nó là sự biểu diễn trơ trẽn như đồ vật bầy mang trên mình.

Rớt Brevet, Lang nghỉ học, xin ngay vô làm thư ký tại trường với món tiền đặt cọc, khi ông Pháp đang cần vốn xây cất thêm lớp học mới, và theo đuổi chinh phục Kim Huê, người đẹp phố chợ. Kim Huê con nhà buôn sắt, hằng ngày ngồi đứng, đi lại giữa những ống khóa, dây kẽm, cây sắt, đinh ốc, thùng lon... mang trên mặt vẻ đẹp tối, ngu, nặng và dâm tình. Trước khi lấy Lang, Kim Huê mê tên thiếu úy người Bắc đóng trong thành. Gã này thường tới lui giúp gia đình Kim Huê giao dịch mua bán với nhà binh Pháp, dân “rau muống đặc biệt” miệng lưỡi lật lọng. Hai đứa rủ nhau đi Ô-cấp, chụp hình chung với nhau như chồng vợ, tấm hình còn được trưng lớn trong một cửa tiệm miệt Phú nhuận. (Đứa con gái lắng lo đần độn ngả đầu lên vai tên đàn ông giảo hoạt miệng cười ruồi không thèm che đậy, hiện trên mầu thuốc vàng ởn sẽ nhạt dần và biến đi dưới ánh nắng chiếu mãi vào mặt phố đã làm phai cả tấm vải tím giăng che ngoài hiên. Tấm hình ấy đứng bên những tấm khác đủ kiểu: nữ hiệp chống gươm dưới trăng mờ, cao-bồi hờm súng nón rộng vành uốn cong, nhà thám tử trầm ngâm suy tưởng trước khói thuốc lá, cô gái nhà quê xứ Bắc e lệ thẹn thò trong khuôn trái tim, ba cô gái Nhật che dù trước lầu nguyệt thấp ngang đầu bên hàng tơ liễu rủ, chàng phi công đầu bóng đặt cánh tay ra ngoài thành tàu, ngón tay út phô chiếc cà rá mặt đá vuông thiệt bự…) Cả tỉnh đều hay, Lang thây kệ. Cha mẹ phản đối, hắn nhất quyết năn nỉ xin xỏ cưới cho được, bằng không hắn sẽ tự vẫn. Đám cưới linh đình, nhà chật ních khách khứa. Bàn dọn kê đến ngõ, ăn uống hai ngày liền, Lang đón về một ban cổ nhạc và một ban tân nhạc, đàn ca tới khuya. Các bạn học cũ đều được mời. Bàn của bọn trẻ chúng tôi ở ngoài sân, dưới bóng cây mắc đèn xanh đỏ. Tiệc vui nhộn hỗn tạp. Rượu, cười, nói tục kín hở, khích bác, cãi lẫy, vọng cổ, trống mọi bập bùng. Lang lăng xăng hớn hở len lỏi qua các bàn, thắt chiếc nơ đỏ, trong bộ đồ lớn cứng ngắc. Tôi chợt như khám phá một cách chắc chắn chính hắn là kẻ phản, tố cáo bè bạn, đưa cả đám vào tù trong kỳ rủ nhau tính trốn ra Bắc, Gần đến ngày lên đường, mọi người xếp đặt xong, Lạng thối lui. Hắn tìm sang tận nhà tôi nói : “Thôi tụi bay đi, tao không đi được. Lỡ hai năm không thống nhất…” Tôi nổi hung la : Đồ hèn nhát. Dễ tao không có gia đình? “Mày khác, tao khác.” “Quân phản bội.”

Nhưng khi người lớn đã cáo biệt, chúng tôi bắt đầu ngấm rượu phá phách. Tôi quên hẳn những ý nghĩ xấu về Lang và dường như ngấm ngầm tôi ghen tức thèm muốn hạnh phúc như nó. Tại sao tôi không sống được như nó vậy ? Tôi cũng sẽ lấy vợ, cũng đẻ con, tôi phiền muộn và tôi hạnh phúc. Chúng tôi hùa nhau trêu chọc Kim Huê, hò hét la lối bên những bàn tiệc chỏng trơ, cười khoái trá. Chúng tôi đứng lên, nâng ly chúc tụng cô dâu chú rể trăm năm hạnh phúc, loan phụng hòa duyên, rồi vỗ tay đồng ca một bài hát không đầu đuôi với ban tân nhạc gồm mấy cây ghi-ta điện rè, một bộ trống aa chùng. Hát dứt, tôi nghe tôi cười sặc ngất ngư, mệt muốn đứt hơi. Nhìn ngoái lại cái cổng ngõ kết bằng lá dừa với hàng chữ bông đỏ thắm “Lễ Thành Hôn với Trưởng Nam”, Lang choàng vai Kim Huê đứng tiễn say sưa, tôi thấm thía nghe mình già cỗi trong chốc lát, già một cách thảm hại. Đêm ấy tôi không trở về nhà, tính tới ngủ đậu nhà một đứa bạn. Chúng tôi cặp vai nhau đi rong qua các đường đêm. Châu thành hoàn toàn vắng lặng, không bóng người, không xe cộ như một hòn đảo lênh đênh. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện, có lúc gây nhau tưởng muốn đánh lộn. Cuối cùng chúng tôi kéo nhau vô quán cà-phê đầu chợ. Một đứa bỗng la lên: tụi bay, tao buồn, nó cầm chiếc ghế liệng ra hè và những đứa khác bắt chước. Mấy chú ba tầu hô cảnh sát tới rượt. Tôi chạy thoát về trường ông Pháp, chui vô trái bếp nằm. Muỗi quá, tôi thức suốt đêm, leo lên từng lầu sắp cất của một dãy lớp học còn ngổn ngang vật liệu, nhìn vườn đêm, trời sao trên đầu, nhà cửa. Tôi hai mươi hai tuổi, tôi buồn. Mặc dầu lúc ấy tôi mới được yêu Diệp.

Sau đám cưới, tôi không muốn nhìn mặt Lang. Mỗi lần gặp hắn, tôi không giấu vẻ khinh bỉ, nhưng hắn làm như không thấy, hắn vẫn xử tốt tỏ vẻ nể vì tôi. Và tôi vẫn phải tìm hắn nhờ liên lạc với Diệp. Đột nhiên Kim Huê bỏ nhà đi mất. Nghe đâu nó gặp lại tên Thiếu úy người Bắc tình nhân cũ. Lang đau mấy tháng, mắc chứng bịnh kỳ lạ: tim to không ngủ được, suốt đêm mắt mở tráo trân. Tôi tới thăm, thức với hắn trọn đêm, trước mấy ngày xảy ra tấn kịch của chúng tôi. Nhưng cơn mưa tắt nối miên man như những hồi tâm sự của Lang. Tôi bị dựng ngồi trong giấc ngủ tê liệt để nghe. Hắn sẵn sàng tha thứ hết mọi lỗi lầm cho Kim Huê như hắn đã chứng minh khi cưới Kim Huê, miễn nàng chịu trở lại với hắn. Hắn tin Kim Huê sẽ trở lại. Nàng không thể tìm được ai tha thiết hơn hắn trên cõi đời này. Hắn quyết tìm gặp bằng được và nàng sẽ trở về sống với hắn như cũ không khi nào còn bỏ đi nữa.

 

Trước mắt Diệp, Hiệp là một ông thày uy tín, quyến rũ, mê hoặc, Diệp không tiếc lời ca tụng. Trong cái không gian trì trệ, tù túng, tẻ nhạt của tỉnh lỵ mà mỗi hành vi nhỏ nhặt đều bị dòm ngó để thuật thành tiểu sử của từng người, Hiệp mang tới cho bọn học trò mới lớn những phiêu lưu mộng mị của trí tuệ.

– Có lẽ anh không đồng ý với ông ấy. Ông ấy di cư và ghét Việt Minh mà. Bữa nào anh thử tới nghe ông giảng coi. Em chưa học ông thầy nào giỏi hơn ông Hiệp. Học ông em hiểu được nhiều thứ lắm...

– Coi chừng em mê luôn ông thày của em đó.

Hiệp khoác vẻ lãnh đạm khác thường. Khi anh nói như trong một cơn mộng, anh lui vào nói vọng ra ngoài. Giọng không hùng hồn, phẳng và trầm. Sức thu hút phát sinh từ những nhận xét táo tợn, phán đoán cương trực xen lẫn những ảnh tượng chợt kết hợp, những quãng trắng bâng khuâng. Một giọng nồng nàn thầm kín bởi một tình yêu thoát ngoài đối tượng. Một bữa tối, tôi đã đứng ngoài cửa sổ lớp học đêm đón Diệp, quan sát người đàn ông cao gầy, chân tay dài, da mét như bị bệnh gan hay bệnh rét rừng, môi thô dầy, mắt đục, cằm nhọn, mũi lớn, lừng khừng, vẻ khó hiểu, không giống như người Bắc thường gặp. Hiệp đi lên xuống giữa hai dãy bàn học trò, như muốn ẩn giấu mình đi. Chỉ nghe một tiếng nói vừa đủ, thân tình nghiêm trang. Tôi nghĩ bọn học trò không hiểu ý tưởng của thày. Tôi tưởng như Hiệp chỉ nói với tôi, đứng ở ngoài.

– Trông ông ta chẳng thông minh chút nào. Không hiểu sao em lại phục được chớ.

Những câu nói giỡn của tôi về Hiệp làm Diệp giận, đỏ mặt, si dài. Diệp bất mãn, cho tôi gàn bướng không chịu phục ai bao giờ, nhất là với người không cùng lập trường chính trị. Ngay sau này khi đã lui tới quen Hiệp và Thuận, tôi vẫn ưa chống đối Hiệp, giễu cợt, phê bình anh với Diệp. Diệp không chịu nổi hay gây với tôi. Diệp không rõ hết những dạng thức của tình yêu, Diệp không biết rằng nàng yêu Hiệp. Nàng không thể biết và cũng không muốn biết.

 

Nhưng tôi, thực sự tôi biết những gì về tình yêu ? Tôi vẫn tự hỏi. Phải chăng không thể có được tình yêu, tình yêu đích thực, ít nhất trong hiện tại, nơi tôi. Mà thế nào là tình yêu, đích thực ? Tôi không rõ, không sao tự trả lời. Tôi chỉ biết với mình điều mọi người gọi là tình yêu chẳng qua là sản phẩm của trí tưởng tượng nghèo túng, một thế giới ảo tưởng của những kẻ lừa gạt lẫn nhau trong một trò chơi kiêu bịt mắt bắt dê, trốn chạy cuộc phiền nản hằng ngày. Người tham dự che mắt, mò mẫm, sờ soạng, rượt bắt nhau, vấp ngã bươu đầu sứt trán trong khi chính mình bất cứ lúc nào cũng có thề ngừng lại giựt tung tấm khăn bịt mắt. Tôi không hiểu nồi sức mạnh say đắm thách đố cái chết của một mối tình bền bỉ, hóa kiếp những kẻ tình nhân thành thần tượng không già, không sụp trước sức tàn phá của đời sống. Yêu nhau một đời, yêu nhau một kiếp, yêu nhau đời đời kiếp kiếp, tôi chẳng sao quan niệm nổi. Đối với tôi, tình yêu phát hiện như nỗi bất lực thê thảm, như một dày vò ác độc, những hốt hoảng tủi thân của một bản ngã phân ly. Tình yêu đối với tôi là câu chuyện cổ tích được nghe lại khi lớn, bị lột hết vẻ huyền hoặc nhiệm mầu.

Tình tự cùng Diệp, ghì nàng trong ngực, tôi nghe tôi phân hóa chới với như một cõi hư vô giả dối. Tôi cần Diệp, đó nhưng tôi đứng ngoài mối tình của nàng trao tặng. (Không phải vì Thuận và Hiệp, trước cả lúc xuất hiện của hai người trong cuộc tình chúng tôi nữa.) Tôi bảo Diệp: “Rồi một ngày chúng mình không còn muốn nhìn mặt nhau nữa. Lỗi chẳng phải ở ai. Sự thể nó như thế” “Tại sao thế anh ? Suốt đời em chỉ yêu mình anh” “Không phải.” “Anh không yêu em” “Anh không thể diễn được điều anh định nói” “ Anh coi thường em. Để em lấy chồng anh coi” Chúng tôi không nói chung một thứ ngôn ngữ. Lúc ấy tôi tự rủa: cớ sao mày không si mê như mọi người ? Cái gì giữ mày lại nơi ngưỡng cửa tình yêu ? Nhưng có thật chăng, bước tới là vào một thế giới hiện hữu hay chỉ rớt xuống lòng vực không đáy? Anh yêu em, anh yêu em. Tôi nói nhưng chẳng tin, trong tim tôi quay cuồng vực trống, nỗi cô độc chẳng rời.

Tôi nhớ lúc mới được Diệp yêu, tôi đã viết cho nàng một bức thư. Đêm đó tôi không ngủ. Nhà trọ chỉ còn mình tôi ở lại, hai đứa học sinh ở chung đã về dưới Lục tỉnh từ trưa thứ bảy tới tối chủ nhật mới lên. Tự dưng tôi không muốn về thăm nhà, không muốn gặp Diệp. Diệp và tôi tuần trước gây lộn vì một cớ nhỏ nhặt không đâu, chúng tôi chỉ mới hẹn nhau hai ba lần. Tôi dạo phố buổi chiều một mình ngoài Sài-gòn. Chín giờ tối mưa lớn, tôi không thể đi đâu cũng không thể làm việc. Ngoài nửa đêm, tôi ngồi viết thư xin lỗi Diệp. Xong tôi ra đứng ở ban-công nhìn phố khuya. Rạp cải lương tối tăm buồn bã. Nhà ga tối thui với những toa than im lìm. Bến xe đò rác rưởi trống trải. Cây xăng đèn sáng đầu ngã sáu với gương kín và xi-măng nhẵn trần. Mấy phố xa, đèn hiệu nê-ông nhấp nháy. Mưa lại đồ xuống, tôi quay vô đóng chặt cửa vẫn không ngủ nổi. Tôi đọc lại bức thư đã viết, xé bỏ. Tôi viết lại, lần này một lá thư khác hẳn. Tôi viết vội vã, nóng nảy, xuất thần không kịp để cho ý nghĩ hiện hết. Tôi viết không dám nhìn trở lại những dòng trên với một cơn thịnh nộ ầm ĩ trong đầu như mưa xối ngoài đường. Lá thư dài, không gạch xóa, như lời kêu cứu thất thanh trong đêm khuya, làm tôi mệt nhừ, đau đớn trong ngực. Tôi viết những gì, ngay lúc ấy tôi cũng không nhớ hết. Chỉ mường tượng như một sự thúc hối mãnh liệt đang khuấy đục thần trí. Viết xong tôi nằm vật xuống ghế vải, thở dốc như con thú bị thương, thân mình trần truồng lạnh giá, mồ hôi nhơm nhớp. Hồi lâu tỉnh lại, tôi chỉ mặc chiếc quần xà lỏn, lên xuống nhà mở cửa băng qua con đường trơn ướt đã tạnh ném phong thư vào thùng bưu điện. Tôi sợ mai sớm thức dậy tôi không còn can đảm gửi đi.

Tuần sau gặp lại Diệp, nàng ngó tôi bằng cặp mắt khiếp hãi. Còn tôi dửng dưng. Tôi không nhớ một chút gì đã viết trong lá thư. Diệp bảo : “Anh khùng hả?” Tôi cười ngất : “Không. Lúc ấy anh yêu em có thể giết chết ngay tức khắc nếu em ở đó”. Xúc động của Diệp vì lá thư tan ngay, Diệp coi thường. Tôi chỉ còn nhớ tôi đã gửi lời cầu cứu đến Diệp và nàng không đáp ứng. Không khi nào tôi còn viết một chữ cho nàng nữa. Diệp không hiểu tôi, trước mắt nàng, tôi chỉ là đứa con trai kỳ khôi nhiều lúc làm nàng kinh hãi. Như vậy tại sao Diệp lại yêu tôi ? Tại sao?

Diệp. Người tình trong cuộc phiêu lưu ngoài hạnh phúc. Diệp như ảo giác thuần khiết trinh trắng tôi xua đuổi. Bóng dáng nàng thanh tú, mắt sáng mát như thoáng trời lạ bay trên chòm cây cao buổi sáng thức giấc mệt mỏi hoang mang; (màu sắc phai mau trong ánh ngày phiền muộn). Nụ cười sẵn sàng tỏa trên nét mặt tươi vui bướng bỉnh một cách nhu hòa, như dòng kinh trong chiều hè giữa hàng dừa vàng như nắng. Diệp, trước sau vẫn chỉ là một ám ảnh quanh co không thành mộng.

Năm gặp nhau, Diệp mới mười bẩy, tôi hai mươi. Hai mươi tuổi vào lúc tiếng súng im, đó cũng là một mắt của định mệnh. Trong niềm phấn khởi của người xung quanh, tôi và chúng bạn nói với nhau : “Chúng ta phải kiến tạo lịch sử…”. Những đứa học trò mới lớn biết những gì về lịch sử ? Chúng tôi say mê những danh từ lớn : Cách mạng, Lịch Sử, Dân tộc, Xã Hội, nhân loại... Mỗi danh từ là tiếng vang của một thế giới mới, một miền đất ngoài khơi. Hãy thức dậy, đi xa, đi thật xa ngoài quá khứ, ngoài hạnh phúc ngoài cuộc sống thường nhật. Lịch sử ở trong tay, ngày mai chấp chới ngoài kia. Hai mươi tuổi cuồng nhiệt khát vọng. Thời gian chật hẹp, sâu đục của dòng hiện hữu cụ thể tan nhòa, người ta được đẩy lên vùng biến động tuyệt đối - Tuyệt đối và đơn giản – Cả cuộc đời này rút gọn vào vài ý niệm. Trời cao rộng ngừng nhìn gần gũi như tương lai. Mình chính là một giấc mộng, mỗi nhịp thở cuốn lấy nỗi cô độc kiêu hãnh làm ngây ngất xây xẩm mày mặt. Chúng tôi chưa biết gì, nhưng chúng tôi đã trông thấu sự vật, chúng tôi nắm chắc chân lý. Bây giờ tôi không hối tiếc, tôi chỉ tuyệt vọng. Một lần Hiệp nói : “Nhìn cậu tôi thấy lại tôi mười năm về trước. Giống hệt như vậy. Không ai giác ngộ nổi cho mình, trừ mình ra – Cậu hiểu tại sao tôi tránh tranh luận với cậu. Cậu đang ở cái giai đoạn văn chương nghĩa là tín nhiệm vào ngôn ngữ. Tôi đã trải qua rồi.”

Diệp và tôi gặp nhau trong bót Catinat, trước đó tuy cùng ở một tỉnh chúng tôi không biết nhau. Diệp cũng bị bắt trong một toán học sinh khác mưu tính ra khu tập kết.

 

Nhà giam không mái tường cao ngất. Đang trong mùa mưa, mưa rỉ rả suốt đêm, trời xám ngoét. Trên xa ngôi nhà lầu năm từng vài khung cửa sổ lớn mở không. Đâu đó ánh điện ấm, tiếng nói, âm nhạc, tiếng động thanh tao âm trong phòng. Bốn ngọn đèn chụp thiếc trong bốn góc, những con mắt thức trắng soi mói sự nín lặng lúc nhúc. Cả trăm người nằm ngồi dựa dẫm, lồn nhồn, phơi trần trên nền tráng xi-măng lẹp nhẹp. Bên kia hàng chấn song chạy suốt một mặt, hành lanh vàng khé, Diệp nổi hiện như một vết trắng muốt trong giấc ngủ vỡ vụn. Sự thúc đẩy, chèn ép dành một chỗ, mùi hôi hám ẩm ướt đặc sệt. Những cơn ác mộng không thành hình của mình và của người khác. Bấy giờ là nỗi cô đơn cùng khốn trong đông đảo đến độ kinh khiếp, không còn sự chia sớt san sẻ với nhau, đồng loại bao vây như tấm gương soi nguyền rủa.

Người thiếu nữ bận bà ba trắng, tóc còn xõa, dựa vào tường, mắt nhắm hai chân duỗi thẳng, chân mặt của nàng tra trong một vòng sắt của cái cùm công cộng, thanh sắt dài với những vòng khóa ôm vừa cổ chân – Diệp ngồi giữa hai người đàn bà có mang gần tháng để mệt mỏi, tiều tụy. Bàn chân nhỏ gót hồng lâu lâu ngọ nguậy. Nửa tháng liền, nằm sát bên hàng song, má áp lên nền nhám cứng, đầu gối co che ngực, tôi hé mắt nhìn vào người thiếu nữ không quen. Mái tóc như những ngọn gió mát, đường trán như lối dẫn về đồng cỏ, cặp môi ngậm kín những lời êm ái tưởng tượng, mặt như bản khắc trên gỗ, lững lờ như mơ ước. Tôi nhìn vào Diệp mỗi lần bị giật khỏi giấc ngủ và thực tại như một đám khói mù nghẹt thở. Tròng cái thế giới bị chà đạp, dày xéo, tàn nhẫn, cái thế giới khốn nạn, hình bóng đàn bà yêu dấu nhập vào Diệp, (một bàn tay vẫy gọi tận chốn xa không bao giờ tới được, ngay từ buổi đầu tiên). Người thiếu nữ không quen, được ở trong hành lang tránh mưa nắng, đặc ân dành cho đàn bà sắp sinh nở, những kẻ gia đình thế lực. Tôi nằm giữa trời lẫn lộn giữa một bầy rách rưới hôi thối. Cùng thân phận nhưng vẫn chia cách, chúng tôi gặp nhau.

Ban ngày tôi bị xô lấn dời chỗ lúc nào không hay, quanh hết góc này sang góc khác. Mưa nắng thay phiên dội xuống. Mặt mũi, tay chân chất nặng cơn sốt ngầm bẩn thỉu. Thị giác tê mỏi vì bị trấn áp bởi các hình thù quái đản của các phần thân người. Cuộc đầy đọa hủy phá nhân dạng, những mặt nạ bằng thịt xương tong teo trơ trơ những vết khắc sâu chết của sợ hãi, bệnh hoạn, tra tấn. Những thân hình tả tơi, ghẻ lở, thương tích. Những cử động rối nùi. Hàng trăm người trong khoảng vuông, mỗi bề mươi mười lăm thước, chồm hổm xếp hàng vào giờ cơm. Cơm đựng trong càng xế, thức ăn trong thùng, kéo lết trên đất. Áo mặc trên người được cởi, túm lấy bốn góc hứng cơm. Những mảnh giấy, lá chuối khô, ống lon méo mó, đựng đồ ăn. Một vài miếng khô hoặc nước canh đen lòm lòm. Tên chà lai cầm roi bò canh trật tự. Mỗi bận hắn nhào tới, những hàng phía trên nghiêng giạt sang hai bên xếp lớp nhường lối cho ngọn roi quất xuống tới hàng chót. Trên má tôi còn giữ vết sẹo trắng của ngọn roi hút lấy mặt như có điện. Sau giờ cơm đến giờ chùi rửa cầu tiêu đặt ở mấy kẽ ngách hẹp đục trong tường. Đám tù bị lùa giạt, đùn cục trong các góc. Nước xối lênh láng, phân rã lẫn giòi bọ. Công việc chùi rửa xong người ta xô đầy túa chạy giành chiếm các ngách trước chuồng tiêu. (Thời trước nữa, người ta phải đứng chôn chân, ăn ngủ tiểu tiện tại chỗ, phân và nước tiểu ngập tới mắt cá).

Đêm đêm, tủi nhục hiện hình trong giấc ngủ ngổn ngang, bệnh bốc lên ở khắp cả, cơn mê sảng kêu ré, không rõ của ai. Tôi nằm trong cơn sốt trơ vơ, u hoài. Người thiếu nữ trong hành lang sạch sẽ, thơm mát, (gia đình Diệp tiếp tế cho nàng đầy đủ), ở cao trên tầm mắt của tôi. Cảnh ngộ bao bọc không bết được vào người nàng, còn tôi, tôi bị bóp nghẹt. Giữa đêm tiếng kêu khô khan một cái tên được lập lại vài ba lần cùng với song sắt lay động. Những tiếng vang yếu ớt trong đám tù nhắc nhở, người ta nhắc lại nhớ xem có phải là tên mình hay không. Một người cọ quậy động cả một khoảng dáo dác xung quanh. Cửa sắt mở rít loảng xoảng, một người chập choạng bước qua các thân nằm ngồi không thành hàng lối như bước qua cơn mê hỗn độn. Tôi bám chặt mắt vào Diệp, mắt nàng ngơ ngác, đen mướt như đêm, môi hé mở như muốn kêu, ngực phập phồng. Người con gái ở đó, bất động, lung linh như niềm hư ảo. Nỗi đau đớn chết điếng, ngất xỉu cùng với những hồi rên rỉ ấm ức rớt vào sự nín câm sâu thẳm của tuyệt vọng. Một vài phút cánh cửa sắt mở, tôi tưởng mình gần hơn người con gái lạ mặt.

Diệp được gia đình lãnh về trước tôi một tháng. Nhiều buổi tôi ngó nhìn chỗ trống của người thiếu nữ và đợi, thoạt tiên tôi tưởng Diệp bị dẫn đi lấy cung như mọi bận, tôi thức trọn đêm đón nàng. Khi buổi mai lên - nơi khung trời vuông trên đầu và cơn mưa lưng chừng sắp rớt, hơi nước lả tả trong không trung, khuôn mặt người thiếu nữ không quen đã nhập cùng ý nghĩ chia lìa chết chóc. Người ta khiêng ra ngoài bước ngang mặt tôi một xác người kiệt sức hồi đêm. Sự đợi chờ căng thẳng, chùng dần hóa thành mối đoái tưởng vu vơ. Nàng biến mất ? Nàng đã chết? Tôi không hay biết một chút gì về người thiếu nữ ấy. Có thể như thế được không? Tên nàng, tôi muốn biết tên nàng. Nàng là một ngôi sao băng đi trong vòm đêm vô cùng tôi dựng lên trong tri tưởng. Tôi còn trơ một mình. Các bạn tôi không bị giữ cùng chỗ với tôi. Tôi khóc khiến cho đứa nằm bên phải bực mình và la tôi nín. Nó nói giọng Bắc dễ nghe, hỏi tại sao tôi bị bắt, tôi đáp như vẫn trả lời những người xung quanh tôi muốn ra Bắc. Nó cười sằng sặc chế giễu. Nó đã bỏ miền Bắc và gia đình để vô Nam. Tôi không hiểu lý do sự có mặt của nó trong nhà giam. Mấy ngày sau, nó và tôi chỉ thảo luận chính trị, chúng tôi chơi với nhau nhưng không chịu nhau.

Một buổi sáng, mưa tầm tã, người ta kêu tên tôi ngoài hành lang. Giữa đám tù nhân lấn áp chen chúc tránh mưa một cách vô ích, tôi bốc cơn sốt mờ mắt, phải dựa vào vách tường mới đứng vững. Tôi nghe và không động, tai ù điếc chộn rộn, hơi thở nóng như bê lò. Minh –đứa bạn tù di cư – chống hai tay vào tường lấy thân làm hàng rào che cho tôi khỏi bị đám đông lẫn và mưa tạt. Nó đưa tay thân ái vuốt hắt những giọt nước ròng ròng trên tóc, trán, mặt mũi của tôi.

– Đừng nghĩ gì khác. Anh hãy cố tưởng tượng đến người tình của anh.

– Không. Tôi không có

– Bất cứ người con gái nào.

– Không ai yêu tôi.

– Thế nào cũng có một người yêu anh mà anh không biết.

– Khát quá.

– Uống nước lạnh bây giờ chết.

– Tôi thèm miếng nước lạnh.

– Không được.

Người ta lại gọi tên tôi, nhưng tôi nghĩ không phải là tên tôi. Tôi run lẩy bẩy, Minh ôm lấy tôi cho tôi khỏi té xuống. Mưa dội mạnh thêm, tất cả đứng một chỗ chịu trận.

– Để cho tôi nằm

– Không được. Nước ngập.

“Có người xỉu” tiếng la như kề lỗ nhĩ khiến tôi giật mình. Không ai nghe, mưa dầy như bức tường. Ngoài hành lang người ta la tên tôi cáu giận, tôi hơi tỉnh hỏi :

– Kêu tôi phải không ?

– Tên anh là gì ?

– Trí. Huỳnh minh Trí.

Minh và một người nữa đỡ dìu tôi đến bên cửa sắt... Tên chà lại hỏi :

– Đau?

– Tôi là Huỳnh minh Trí.

Tôi ráng bước một mình vào hành lang, người thiếu nữ la mặt không còn ở đây. Tôi đi trong cơn sốt hầm hập. Sân mưa mù mịt với những bóng xe đậu im. Hè xi-măng bên đường mương nước chảy ồ ồ dưới. Những cửa sổ mở của các phòng việc. Điện thắp ban ngày trong hành lang. Tôi ngồi bẹp dưới chân tường không biết bao nhiêu lâu.

– Dậy mày. Giả bộ hoài.

– Huỳnh minh Trí ? Không nói gì mày ? Muốn ra Bắc hả? Đồ chó đẻ. Lần này tao tha cho về. Không lo học, lộn xộn lần nữa bắn chết bỏ. Tôi chỉ còn nhớ thấp thoáng người ta đã đẩy tôi vào trong một văn phòng. Một cái miệng đầy răng vàng khé, la lối. Tôi bị tát trái giữa mặt, ngón tay áp úp đeo chiếc cà rá vàng tây rạch một đường sẹo bên mép. Tiếng chuông điện thoại, tiếng ghế xô. Một người vô phòng: ông Pháp lùng phùng trong bộ tây trắng. Ông ký giấy bảo lãnh cho tôi. Ông nói: con ngu quá con ơi. Mày chỉ làm kổ má mày thôi. Má tôi đội áo mưa đón bên đường, Lúc ấy lòng kiêu hãnh sụp đổ, tôi bải hoải yếu ớt chỉ muốn chết.

Mấy tháng sau, tôi tình cờ gặp lại Diệp trên chuyến xe lô xuống Sài-gòn. Tôi ngồi cạnh nàng bên người tài xế mà không hay. Tôi nhìn nghiêng người thiếu nữ ngờ ngợ, đường mũi thẳng, môi dưới trễ, tóc bay xòa trên nền gió ngược bên ngoài. Đồng ruộng, vườn tược, sông lạch trôi mau sau khuôn mặt ngửa như buổi ban mai đang ngước lên cao. Hồi này, tôi đang bị nhốt trong hoài nghi và bất lực. Tôi không biết phải làm gì, đi đâu, ở đâu cho đúng, ngày tháng trụy hoại trong hoang mang. Đám người di cư nghèo nàn rách rưới, thả dông trong các đường phố Sài-gòn với mắt nhìn và dáng điệu khiêu khích của những kẻ cùng đường nhắc nhở tôi nhớ lại những buổi đối thoại với Minh trong nhà giam. Không còn Minh, tôi phải nói một mình, nói một mình như ở trong cõi đầy ải. Mãi khi xe ngừng dưới chân một dốc cầu, Diệp chợt quay nhìn tôi. Tôi đã hỏi :

– Phải chị đã bị bắt vô Catinat không?

Diệp giương mắt ngạc nhiên, tôi e mình lầm, rồi khẽ gật mỉm cười.

– Tại sao chị bị bắt ?

– Giống như anh vậy.

– Thiệt hả. Chị còn ý định đó không?

Diệp lắc đầu, tóc nàng bay phất, vài sợi nhỏ quất ngang mi mắt tôi. Cây cầu gỗ rùng rùng khi xe lăn qua. Một bên đầu cầu, cái bốt bỏ hoang, cây leo bám quanh các kẽ gạch, nhìn xuống con rạch chảy giữa những bụi cây xanh. Dưới chân dốc cầu bên kia, ngôi trường sơ học một lớp ngày nào với hai ba chục đứa nhỏ và một cô giáo áo tím chỉ còn là một khoảng nền đất giữa đám cỏ sũng nước. Diệp đi qua cuộc mạo hiểm một cách ngây thơ như dạo chơi. Bây giờ Diệp lo học hành thi cử, sửa soạn vào đời bằng lối khác. Còn tôi, cuộc phiêu lưu nửa chừng biến tôi thành một mớ những ước muốn, toan tính nửa vời, một ý thức trôi giạt trong hư nguy.

 

Những tuần lễ đầu tiên mới lên tỉnh, Hiệp ăn ở trong nhà ông Pháp. Tối tối, ông Pháp đưa Hiệp dạo phố chợ, vô quán uống cà-phê ăn hủ tíu, thăm các chỗ quen biết. Đôi khi họ đi xa tới vùng ngoài châu thành, đường đất không điện với những ngôi nhà cổ lâu đời khuất sau các hàng rào dâm bụt. Ông Pháp bận bà ba lụa trắng, túi áo trễ lủng lẳng bịch thuốc Gò vấp và hộp quẹt máy, nhỏ thó, dáng điệu lụp chụp, mặt như đứa con nít già héo, lúc nào gò má cũng hồng đỏ, không có râu. Hiệp mặc sơ-mi trắng sờn cổ quân sẫm cũ, lêu đêu chậm chạp bên cạnh ông già. Ông Pháp mê Hiệp ngay từ đầu đối xử với Hiệp như một người bạn thâm tình, mang khoe Hiệp như một món đồ lạ hiếm.

– Ông Hiệp đây là người đứng đắn đàng hoàng. Tôi bằng lòng ông Hiệp lắm. Ông mới di cư vô. Sao vậy ông ? Ngoài Bắc không yên sao ? Có thiệt giống như trên báo nói không ?

Hiệp cười, lấp lửng. Bị gặng hỏi, trước mặt đông người, anh đáp vắn tắt cho qua chuyện :

– Thiệt. Nhưng nói khó ai tin...

Hiệp không tìm cách thuyết phục người khác. Anh tránh đả động đến những câu chuyện có tính cách chánh trị. Ngay với tôi, khi tôi tìm đến Hiệp với những nghi vấn xác đáng, những vấn đề được đặt nghiêm chỉnh, anh cười và nhìn tôi nhiều hơn là trả lời. Gặp nhau lâu, tôi nhận thấy không phải anh thiếu lý luận bằng chứng, không phải anh không có lập trường. Thái độ lờ mờ, khép kín của Hiệp, theo tôi, chỉ biểu lộ mặc cảm tự tôn đáng ghét. Có lẽ anh coi chúng tôi là những người nông nổi, nhẹ dạ, dễ tin nên cũng dễ bị lôi cuốn thay đổi chính kiến, không đáng bận tâm. Tôi không chịu nổi thái độ khinh khỉnh ấy.

Ông Pháp tìm mọi cách lưu giữ Hiệp ở luôn trong tỉnh. Ông lo chạy mướn nhà giúp Hiệp, cho mượn đồ đạc, ông sốt sắng tới độ tỏ ý không hài lòng về căn nhà mướn của má Diệp dù Hiệp rất thích.

– Ông ở đỡ đó thôi nghe. Rồi tôi sẽ kiếm cho ông chỗ tốt hơn. Thiệt đó, nhà ấy xui xẻo lắm. Tôi sẽ làm mai cho cô vợ về lo dọn dẹp nhà cửa...

Ông cười ha hả đắc chỉ giữa đám học trò giờ chơi bu quanh Hiệp hỏi chuyện. Hiệp nói anh đã có vợ và sẽ mang vợ lên. Ông Pháp ngạc nhiên.

– Vậy hả: Tốt. Cô ấy lên luôn trên này. Tốt lắm.

 

 

Ông Pháp, ngoài sáu mươi, giáo viên hồi hưu, trông nom trường cho đứa con trai thứ ba bị động viên. Con thứ hai của ông chết yểu, vợ y lấy chồng khác, trả hai đứa con gái nhỏ cho vợ chồng ông nuôi. Con thứ tư tập kết, đưa thứ năm làm thợ máy dưới Chợ-lớn và cô gái út làm bé một công ty thuế vụ. Vợ chồng ông và hai đứa cháu nội mồ côi ở trong ngôi nhà cũ già bằng tuổi ông với đồ Tất không bao giờ thay thế, nằm lọt giữa hai dãy lớp lầu bằng gạch, quay lưng ra một lạch nước thường cạn sình đen, rác rưởi xú uế do xóm nhà trên bờ đối diện trút đồ, chảy ôm bọc cả khu trường. Hồi tôi học ở tỉnh, nửa sau ngôi nhà còn đặt một lớp học ngăn bằng vách phên, những giờ buổi sáng, tôi ngó thấy gió thổi trên các ngọn cau bên bờ lạch, mấy căn nhà lá lúp xúp, nghe rõ tiếng dọn dẹp lịch kịch trên nhà và tiếng con trẻ chốc chốc reo cười bên kia bờ đất. Mỗi sáng, khi học trò đã vô lớp, ông Pháp ở trần, bận quần xà lỏn da thịt nhăn nhúm như trái táo khô, miệng bập bập điếu thuốc vẫn, một mình lau chùi bàn ghế sập tủ trạm trổ đã lên nước đen nhánh. (Bà Pháp từ dưới trái bếp lên đi qua cuối lớp nhai trầu bỏm bẻm, bà dừng chân nghe mấy ông giáo sư giảng bài mủm mỉm cười như một thú giải khuây tạm quên những công việc bận bịu). Sau đó ông ra vườn chỉ bảo chú Tư dọn sửa, tưới cây - chú Tư làm vườn kiêm tùy phái của trường. Khu vườn là vùng cấm địa đối với bọn học trò, những giờ nghỉ chỉ vài ba đứa con gái dám lén ra ngồi tuốt dưới những gốc dừa phía góc vườn tâm sự. Từ ngoài vườn trở với ông ghé mắt dòm qua các cửa số lớp, canh chừng học trò, tới xem xét vu vơ nơi công trường, nhìn ra một ngõ trải sạn chạy giữa hai biệt thự quay mặt ra con phố chính dẫn vô tỉnh. Giờ chơi ông chống nạnh đứng trên thềm la bọn nhỏ quấy phá cây cối của ông hoặc ngồi thu cẳng trên ghế, ôm hộp thuốc vấn, trò chuyện với mấy ông giáo sư. Tiếng ông rổn rảng, lúc nào ông tới đâu cũng có hai con chó vện mập nhẩy quẫng quanh chân. Ông nạt nộ mấy con vật thân như nạt nộ con nít. Bà Pháp lo việc bếp núc tối ngày chui dưới trái bếp bên rìa vườn. Đôi ba đứa học trò, những khi tới trường trước giờ vô lớp, bu quanh bà, coi bà làm việc, nghe bà kể tội ông chồng độc đoán hành hạ bà mấy chục năm, những nỗi khổ tâm vì con cái bất hòa với ông bố dữ dằn. Buổi tối bà lên nhà trên, trong khi hai đứa cháu lo học, mấy ông giáo sư ngủ đậu soạn bài, ông ngồi giỡn với chó mèo, bà ôm hộp trầu và cái ra-đi-ô nghe cải lương nho nhỏ.

Thêm vào giỏ hàng thành công