Chương 1.2
Một buổi, đứng khuất trong bóng tối bên cửa sổ, tôi bắt gặp chị Lệ đi về, nhìn vào thấy giường buông mùng tưởng tôi đã ngủ, chị đứng lại ngoài cửa sổ rất lâu, đứng đó như một bóng ma hiện hình. Trăng không còn mọc sớm nữa, nửa khuya sực tỉnh tôi nhìn qua song cửa, ánh sáng vằng vặc của con trăng muộn màng, tưởng còn ngó thấy bóng dáng của chị. Tôi nhớ đến những ngày khi chị Lệ đã thôi học, tôi cắp sách một mình sang trường, những buổi cùng một hai tên bạn bám sau đuôi xe bò chở cỏ hay là đi xa vào các làng, hoặc chạy đuổi những chiếc xe thổ mộ trống nhảy đứng một chân trên bàn sắt ra ngoài châu thành, hoặc chui lên các khoang xe vận tải đi rửa ở các bến sông; tôi nằm ngửa như nằm trên đống lá của chiếc xe bò lộc cộc lăn trên đường đất, dưới các bóng tre, những buổi trưa hè; người đánh xe say ngủ không thèm để ý đến mấy đứa trẻ nghịch ngợm, lâu lâu nẹt roi chót chót vào càng xe. Buổi chiêu hoang tịch trên bến nước, khi tiếng cười đùa của mấy đứa trẻ đã tắt, chiếc xe rửa xong ì ạch không leo nổi dốc chết máy; tôi hoang mang lo sợ đêm tối sẽ phủ trùm không trở về kịp nhà; cây cỏ, đồng bãi, mấy đứa bạn, những người làm xe vui vẻ bỗng trở nên những mối dọa dẫm khiếp đảm; lúc ấy tôi nhớ chị Lệ, nhớ tiếng cười trêu chọc của chị trong vườn nhà.
Tôi nghĩ chị Lệ, những ngày qua, vẫn lẩn khuất sau lưng tôi, chị có điều gì muốn nói. Tôi chợt bàng hoàng khám phá cái vẻ đẹp kỳ quặc dưới ánh trăng trong vườn đêm trước phảng phất những nét bí ẩn của Thuận. Thuận. Tôi ngồi lên, cầm bức ảnh quẹt diêm nhìn. Không biết lúc nào, tôi đã mở khung và để cho ngọn lửa đốt cháy tấm hình. Tôi giật mình khi lửa cháy lém ngón tay, vứt tấm hình xuống đất. Ngọn lửa bơ vơ hiu hắt tàn dần như một nỗi da diết. Tôi dương mắt ngó đêm tạo vật tràn đầy ngoài trời, lắng nghe giấc ngủ của má tôi, tiếng trở mình trằn trọc của chị Lệ. Con Liễu ngủ mê, giật mình khóc, giọng ru hờ của mẹ nó cất lên. Một lúc nước mắt mệt mỏi ứa bên khóe.
Phút ấy khối băng cô độc bỗng tan, đêm xuyên qua thân tôi, dồn vào mọi sự vật hiện hữu kéo dài. Tôi cố ngoi lên trên vùng thần trí bị đắm đuối trong sự huyền hoặc của mộng ảo chất chứa những sự thật. Và tiếng khóc, từ lúc nào, bật ra từ nhịp ngắn khẽ. Trong âm thầm tôi nghe lại những hỗn độn xa xa ngoài trí não và thói quen trở lại, tôi gọi nhỏ: Trí, mày không điên đâu. Mày vẫn còn sống đó…
Tôi đứng trên thềm, sau lưng cánh cửa nhà còn hé mở. Ngoài sân bên vườn, trăng sáng rỡ như ngày. Dưới các tàn cây rậm gió thổi luồn mông lung. Giờ này má và chị Lệ ngủ vùi. Hai người đã phải luân phiên bồng con Liễu suốt từ hồi hôm. Con nhỏ lên cơn sốt nóng, khóc liên hồi, mới im tiếng, cách chừng mươi phút. Tiếng khóc ré cấu rứt ruột gan khiến nóng nảy bồn chồn, nhiều lúc tiếng khóc bặt ngất ở cao độ tưởng nó không thở được nữa, tay chân co quắp (một buổi chiều bên chợ người đàn bà vừa từ xe thồ mộ bước xuống, đột ngột ngã vật trên mặt lộ, tay chân giật từng hồi như đuôi thằn lằn cụt đứt, miệng xủi bọt.) Những cử động giật máy của tay chân hay toàn thân không tự chủ, tôi cũng thường bị trong những hồi lơ mơ trước thềm một giấc ngủ sâu mà ý thức giãy giụa trong khoảng mở trắng không ra thoát; sau mỗi lần nghe như mình thoát ra khỏi mình, hốt hoảng và u sầu. Tiếng hát ru nho nhỏ dỗ dành hết của má tôi đến của chị Lệ lui tới luần quần bao phủ như hơi gió bay lùa cả châu thân đầu óc. Và khi tiếng khóc cùng tiếng ru im mở ra khoảng không chập chờn của khung cửa sổ chót tầm mắt, tôi len lén leo khỏi giường, tránh gây tiếng động, thay áo quần mở cửa. Cũng như buổi sáng tinh mơ nào với Diệp, tôi không mang theo một món đồ. Không hành lý, hai tay thong thả, đầu óc ngất ngây lúc nào cũng có thể bị chiếm đoạt bởi những ý nghĩ thừa thãi. Trí. Tiếng kêu thoảng trong đầu. Tiếng gọi của chính tôi ngụy tạo hay của một người khác. Trí. Trí. Trí... đó là những âm vang từ buổi sơ sinh, đứa trẻ nghe và không hiểu gì nhưng vẫn dỏng tai. Những cái ngoài nó dần dần chụp lấy, thắt buộc, và chỉ còn những cử động vô tình là của riêng.
–Trí.
Lần này tiếng kêu vang lộng trong đầu và ngoài không trung, tiếng kêu trong sâu tối cùng với tiếng kẹt cửa sau lưng. Bóng người đứng trong khuôn cửa, mặt trắng như tờ giấy, đôi mắt sáng đen. Chị Lệ.
– Em thức sớm vậy?
– Tôi đi dạo.
Tôi bước xuống sân trên lối gạch, mùi bông thơm hắc, chị Lệ dẫm chân đất, nói thì thào, đi thẳng tới bên cửa rào.
– Chị cùng đi với há. Con Liễu bớt nóng, ngủ rồi. Chị hết ngủ nồi ra ngoài chút xíu cho khỏe.
Tôi mở cánh cửa gỗ lung lay gần sút, quẹo vô sâu trong xóm. Một mình tôi đã quẹo về ngả xuống bến sông, qua đò sang châu thành. Nhà cửa, đường lộ trong buổi sáng đang chờ đón, buổi sáng của Thuận của Diệp, buổi sáng như cửa huyệt chôn những thao thức của đêm tối. Châu thành đó như ải địa đầu của một xứ sở khác. Chó sủa rân dọc theo lối, một hai con chui khỏi bờ rào lẵng nhẵng sau chân, chị Lê kêu khẽ tên mỗi con xô đuổi chúng. Bóng tối rậm bít, ánh trăng rớt trên đất từng vũng đọng, cây cỏ thở chan hoà. Chị Lệ dần dần bước kịp ngang hàng, lối đi hẹp chị phải tiến sát bên các hàng giậu, tay áo phất đụng lạt sạt. Cây vườn thưa lần, trời sáng lộ trên bãi cỏ, con đường, cây cầu bắc ngang lạch nước và cánh đồng trống. Tôi dừng lại bên mô dốc, con đường còn leo qua cầu đi sâu vào lối dừa nước dầy khít dẫn vô vùng bưng lầy, khoảng chúng tôi đứng trống trải. Chị Lệ ngồi trên ván cầu, buông thõng cẳng đung đưa, đầu tóc không bịt trông dị hợm. Xa tít ngoài đồng, không còn thấy mái nhà trơ trọi giữa đám cây, một giải đất cao dốc đứng trần trụi như mặt thành nằm phơi xám ngắt dưới ánh trăng.
– Cái gì bên kia đó?
– Đâu? Người ta lập Ấp chiến lược bên đó. Cũng sắp sang tới bên mình.
Nước chảy róc rách dưới chân cầu, chó sủa trong xóm, những con dế nỉ non đôi hồi trong các bụi cỏ quanh mô. Tiếng kẻng thưa thớt chạy vòng trên các chòi gác trong ngôi ấp dở dang. Chị Lệ thở dài nghe rõ: lại đánh nhau nữa, đánh nhau hoài. Tôi đã chẳng bảo với Hiệp sao : một ngày nào, chỗ em ở đó, chiến tranh sẽ mọc loang nhanh cùng bờ bụi hoang vu. Làm thế nào hơn? Cậu nghĩ xem làm thế nào hơn? Vì chúng tôi phiêu du bên ngoài những đầm lầy lau lách trong những vùng hư ngụy ngoài bở thành đất rào chống tua tủa.
– Em tính sao Trí?
– Ít bữa, tôi xuống Sài-gòn.
– Em tính đi mần hay đi học lai?
– Đi học lại?
Tôi bật cười khan trước ý kiến của chị Lệ. Trở vô lớp học thật là một ý kiến khôi hài. Chị ngó lại phía tôi, mấy ngón tay chi cào cào gỡ mái tóc ngắn bờm xờm, lưng hơi khom, mặt cúi xuống dưới dòng nước đang chảy. Một con chim đêm bay kêu ngoài đồng không thấy bóng. Cảnh vật đột nhiên trở mình hoang vắng.
– Chị xin lỗi.
Chị Lệ mân mê tháo buông hai cánh tay áo bà ba xắn cao cườm tay một khúc. Tôi nhìn trở lui vô xóm, mơ hồ những tiếng động của ngày tới sớm, gió lùa từng cơn, chị Lệ bó gối co ro như đứa trẻ lạc lõng trên cầu. Da mặt tôi ướt giá. Ánh trăng đang nhạt dần, luểnh loảng. Chị Lệ tỉnh nói tiếp một câu gì nữa nhưng tôi quay lưng.
– Về thôi. Coi chừng con Liễu thức.
Tôi đợi chị vượt qua mặt, chị đi ngang thoảng một làn hơi ấm của thân cọ rung không khí. Đột nhiên tôi muốn níu giữ chị, nắm lấy hai vai đầy của chị như với Thuận và chắc chắn chị run rẩy co rút người lại thở không kịp vì sợ hãi, miệng lắp bắp không thành lời... tôi sẽ rung mạnh chị như rung một thân cây yếu, thật tàn bạo phũ phàng, rung cho đến khi chị bật khóc mới đã nư giận.
Anh Tạc không chết. Anh trở về, chị Lệ nói. Thiệt không ngờ, ngày chị vô khu tập kết, anh về Chợ-lớn kiếm chị. Chỉ là sự lầm lẫn anh còn sống hẳn hòi, mạnh khỏe; mấy bữa trước chị gặp anh dưới xóm Đình. Bữa nay anh về trên Bến Cát, ít bữa trở xuống. Chị Lệ hỏi tôi muốn gặp anh không. Gặp anh Tạc? Điều đó còn quan hệ gì tới tôi. Anh Tạc. Anh Tạc là ai? Người anh hùng của chúng tôi, người tình của chị Lệ, những ngày mới lớn vẫn còn đó ư? Nhưng chúng tôi không còn, tôi đã lớn, tôi đã gặp Hiệp, gặp Thuận, gặp Diệp và chị Lệ bồng trên tay con Liễu. Mối tình thứ nhất của một đời người khó quên, có thật không? Con Liễu nằm trong tay mẹ, mặt đỏ sần, mắt li bì, nó bị ban cua. Bà ngoại nó sang chợ hốt thuốc, trong nhà chỉ còn hai chúng tôi. Các cửa ngõ đều đóng kín ngăn gió nắng ban trưa, bóng mờ lúc dịu lúc sáng tủa quanh mặt chúng tôi.
– Gặp lại ảnh, chị tưởng hồn ma hiện về. Thiệt là kỳ, sợ quá chừng.
Tiếng cười ngắn gọn không rõ nghĩa. Giọng điệu của chị Lệ vẫn đượm vẻ ngây thơ trong trắng như ngày nào viết thư cho anh Tạc. Không có gì đổi thay thiệt sao? Chị ngồi cuối chân giường, thân chị hơi rung làm nệm giường nhún nhẩy. Tôi đứng dậy quay mặt ra phía cửa sổ đóng hỏi :
– Còn con Liễu?
Câu hỏi dội lại mạnh mẽ, lập đi lập lại như trái banh tung ném vào mặt tường mỗi lúc thêm nhanh. Còn con Liễu? Con Liễu đó? Nghĩ sao? Nó nằm chình ình trên tay. Hồi lâu, chị Lệ nói khẽ:
– Ảnh tưởng chị đã lấy chồng. Và chồng chị chết.
Tôi tì bụng vào cạnh bàn, ngó chăm đống sách, tấm khung ảnh trần trụi. Có gì đâu? Không ai thắc mắc, tra hỏi. Sự thật dễ tin biết mấy, sự thật hằng ngày bày ra đó. Mà còn ăn thua gì, tôi phải giận dữ.
– Chị tin như vậy?
Con Liễu khóc ọ ẹ, chị Lệ trở thế ngồi khiến những thanh sắt uốn con lót giường kêu rít. Có lẽ chị Lệ cũng tin như thế. Tại sao không? Chị đang sống, và trí nhớ là một cản trở. Sống như một dòng nước chảy xuôi, như một ánh mây bảng lảng, phải thế không? Phải bôi xóa tất cả trong thiên nhiên hãi hùng và trong lịch sử cuồng nộ. Ở trên những sự thật, vượt ngoài những sự thật và làm chủ mọi sự thật cần thiết. Lúc tôi quay nhìn chị Lê đã đổi tay bồng con, mặt chị ghé nhìn mặt nó.
– Trí, tại sao tàn ác với chị vậy?
Câu hỏi đó của Diệp. Diệp, có quả thật tôi tàn ác? Tôi chỉ muốn hỏi, tôi hỏi Diệp, tôi hỏi Thuận, tôi hỏi Hiệp, tôi hỏi chị Lệ cũng như tôi hỏi tôi vậy. Bởi tôi không hiểu gì hết, không hiểu ai hết và tôi không muốn ai hỏi tôi vây. Quả thật là tôi tàn ác? Tôi cười khẩy mỗi câu hỏi đều đã có câu trả lời, tại sao không chịu nhận? Hiệp chẳng từng trách tôi là người gây rắc rối hay sao?
– Tôi hỏi chị điều cuối cùng thôi. Từ giờ sấp sau không khi nào tôi hỏi chuyện gì nữa. Chuyện gì đã qua cho qua đi. Ba con Liễu là ai?
– Chị cũng muốn nói với em chuyện đó.
– Chị nói đi.
Chị Lệ sửa bộ ngồi, ngập ngừng hồi lâu :
– Chính chị, chị cũng không biết rõ anh ấy.
Nói dối. Chị vẫn còn sợ tôi như vị quan toà nghiêm khắc, chị không dám nói thật. Tôi không tin chút nào. Tôi nhắc chiếc ghế tới ngồi đối diện với chị. Khóe mắt chị in ngấn nước tròng mắt lơ láo sợ sệt thấy rõ. Chị kéo con Liễu sát ngực như đề che chở cho mình, con nhỏ thiêm thiếp một cách đáng thương.
– Anh ấy là người Bắc di cư. Phải từ hồi đó lận. Hồi chị xuống khu tập kết mấy ngày không gặp anh Tạc rồi trở về Sài-gòn. Chị tưởng anh chết thiệt rồi. Chị thất vọng hết muốn về nhà, đi lang thang ở Sài-gòn và chị gặp ba con Liễu...
– Khi không vậy?
– Ảnh vừa ở Bắc vô được một hai bữa gì đó đi lang thang kiếm người quen. Ảnh hỏi thăm nhờ chỉ đường, chị cũng không biết rõ đường đất Sài-gòn.
Những ngày ấy, những ngày tôi bắt đầu có những toan tính riêng bỏ một mình chị với mối tình của chị. Chị từ trên xe đò bước xuống bến lúc chiều đang xế, chuyến xe đã đón chị ở dọc đường giữa cánh đồng nắng lấp lóa mặt nước; người thiếu nữ đứng trên vệ cỏ tay cắp nón tay ôm bọc quần áo, chiếc xe lôi đã quày lại đường cũ chạy mút vào đồng trên đường đất. Trong thành phố Sài-gòn đang biến dạng, chị lủi thủi như người dưới lục tỉnh lên kiếm việc, như những người di cư bị đuổi chạy khỏi quê hương. Chị cũng là người vừa bị đuổi khỏi quê hương của chị, tình yêu mà chị tưởng là chốn nương thân vĩnh viễn, hốt hoảng đau đớn. Có em anh không thể chết được, nhưng lúc ấy anh Tạc đã chết. Trong những con phố dài vắng xuyên qua thành phố, chị đi một mình không biết nơi nào sẽ tới, bọn đàn ông qua đường dừng xe lẩn lút bám theo sau cùng những mảnh bóng tối trên hè đường khuất, những lời tán tỉnh bâng quơ chốc lát rơi rớt lại dọc đường. Tối khuya chị Lệ ở lại nhà chú Sáu trong hẻm Bàn-cờ. Sáng bữa sau chị chưa chịu về nhà. Người đàn ông chị gặp, cầm tấm bản đồ thành phố in màu nhoè nhẹt chăm chú dò kiếm, bên lề đường chi chít xe cộ kè sát bên mình để tranh lối. Hắn hỏi chị Lệ và chị Lệ trả lời. Hai người lên xe buýt ra tới ngoại ô rồi lộn trở lại, những chuyến xe vắng người khoang xe chỉ chứa gió và nắng. Một người nói những chuyện miền Bắc, một người nói những chuyện miền Nam. Chị Lệ muốn biết Hà-nội, nghe nói về Hà-nội, thành phố anh Tạc có thể tới đó mang chị theo, nơi đó cũng đã là quê hương tưởng vọng của chị, tình yêu của hai người có thể đã bay trước về đó chờ đón, chờ đón tuyệt vọng. Trưa chị Lệ lên xe về tỉnh, hẹn người đàn ông sẽ gặp lại trước ga xe lửa tuần lễ sau. Trong khoảng thời gian tôi bị giam giữ, chị lấy cớ xuống hỏi thăm tin tức liên lạc và đến nơi hẹn.
Chị Lệ theo người đàn ông đi trên các đường phố, ngồi nghỉ trên ghế đá các vườn bông không một hứa hẹn dự tính: về nhà riêng của hắn bên bờ sông dưới chân một cây cầu sắt. Trên cầu xe cộ qua lại lùng bùng suốt ngày, căn nhà đóng cọc nằm nhô trên mặt nước, ván gỗ rung rinh theo bước chân đi trên những nhà kế cận, chị ở lại cả buổi cả ngày, má tôi không hay biết chút nào.
– Chị cũng yêu ảnh như yêu anh Tạc vậy. Có thể như thế được không Trí?
Chị mang thai con Liễu vào thời kỳ Sài-gòn lộn xộn. Người đàn ông biệt dạng. Mấy tuần lễ liền chị tới nhìn gian nhà khóa trái cửa, bên trong còn nguyên tấm đệm trải dưới sàn, và hai chiếc ghế đẩu, người đàn ông không có gì ngoài mấy món vật kể trên. Chị tìm cách mở được cửa vô nhà, nằm nghỉ, đợi mỏi mòn với những giấc mệt của người đàn bà thai nghén. Đã có lúc chị tính tự vẫn ngay tại chỗ nhưng vẫn ôm hy vọng gặp lại người đàn ông. Chị ngừng nói để thở ôm siết con Liễu vào ngực như đè nén những cảm xúc đang dồn ứ.
Con Liễu khóc thất thanh trong cơn mê, chị Lệ vội đứng lên đi qua lại ru hát. Bóng chị mờ mờ. Chị bồng con vô nhà trong. Tôi mở cửa sổ, ngoài vườn, lấp loáng gió lá, trưa đang tản mác vơi nhẹ. Nắng xuyên chạy đậu trên khoảng nệm trũng chị Lệ vừa rời bỏ. Chị Lệ lại trở ra, không còn bồng con Liễu, mặt chị đỏ ửng như say nắng. Chị ngồi xuống chỗ cũ, đầu cúi như lúc trên cầu buổi sớm.
– Chị đã xúi Diệp... Tội nghiệp Diệp, nó nghe chị, nó thương chị. Chị không ngờ chị làm nó chết. Trí, em biết không? Chị chỉ muốn cho hai em có hạnh phúc, chị biểu Diệp rủ em bỏ trốn. Chỉ có chị hiểu em, vì hai chị em sống với nhau từ nhỏ, phải không. Trí?
Phải không Trí? Phải không Trí? Cuối hàng cây hai con chó rượt đuổi nhau, lăn lộn trên đất. Ngoài đường xóm nhiều tiếng chân bước trên đất khô cứng, tiếng trống bập bùng của hàng chợ nhuộm từ ngoài bến tiến vô. Khuôn mặt chị Lệ ngửa lên sáng láng nắng xiên dọi ngang.
– Chị xin lỗi em.
Tôi không muốn nói, cũng không muốn nghe thêm, bình thản, buồn bã nhìn vào khoảng không trước mắt đang mở ra trong ánh sáng. Lúc lâu tôi bảo chị Lệ:
– Chị đừng nói cho má hay, mai tôi đi. Tôi không về nữa đâu, một mình chị ráng lo cho má.
Dưới làn áo mịn căng, ngực chị Lệ cồn cào nhấp nhô. Chị ngoảnh mặt trông lên bàn thờ của cha tôi, ánh đèn dầu chụp sơn đỏ leo lét. Ngoài cửa rào, tiếng động lạch cạch, rồi tiếng chân bước trên lối gạch.
– Thôi má về đó, chị vô trong nhà đi.
Tôi nằm dài xuống giường, nghe tiếng nước sối rửa mặt cùng tiếng khịt mũi, rồi má tôi hỏi chị Lệ về con Liễu và tôi, đầu óc mệt mỏi, hấp nóng.
Không biết lúc ấy là mấy giờ, tôi thức giấc trong nỗi im lìm đè nén, tưởng như mọi người trong nhà đều đã chết hoặc chính tôi đang thức trong cõi chết. Đêm nay con Liễu không khóc, nhưng mê man bằn bặt bên những lời vỗ về cô đơn của má tôi và chị Lệ, tôi nghe đáng sợ hơn. Má đây, cưng của má, tội nghiệp con; con đau sao, con nóng quá ; con không thương mà sao, con đau sao, nói má nghe, con đau chỗ nào, cưng, cưng cưng của má,
– Mày nói làm xàm hoài, Hai. Má tôi rầy lớn tiếng.
Con nghe không? Ngoại đang rầy má. Không ai thương má hết. Con Liễu chỉ ọ ẹ lên đôi lúc. Ví dầu... tình bậu... à ... muốn thôi ù ơ. Bậu gieo ơ... tiếng dữ... ở cho rồi... bâu ra... u ơ... Chị Lệ ngày nhỏ đâu khi nào học hát điệu ru, ngày yêu anh Tạc chị chỉ ca cải cách. Chị đã thành người đàn bà, giọng của chị mềm mại ẩn nhẫn tối mát như nước kinh chảy luồn qua đám cây trong các vườn. Ù ơ... miệng chị hé mở, điệu ngân kéo dài như hơi thở thổi bên tai. Đó là một buổi trưa hè trong đêm nặng nhọc, tôi vừa trải qua một giấc mơ.
Trong giấc mơ, tôi nhìn thấy người lạ mặt đi cạnh chị Lệ trong ngày tháng xa lắc lơ. Dáng dấp lênh khênh của anh trôi nổi giữa đám đông trên hè phố. Hiệp, tôi nhìn ra Hiệp. “Tện em là Lệ.” Hiệp không nghe, anh ngó lơ về trước, nắm bàn tay mềm mại, sốt nóng của chị Lệ. Hai người lẫn vào đám đông. Tôi hỏi : “Anh không biết chị ấy là…” “Tôi không biết. Tôi không để ý.” Tôi nhảy đánh tới tấp vào mặt, vào đầu, vào cổ anh, Hiệp lảo đảo như người say mắt lờ đờ “Không phải tôi. Không phải tôi”, cho đến khi tôi mệt nhừ tựa vào vách. Hiệp ngó thẫn thờ và chúng tôi buồn vô hạn. Hiệp nói một câu, và tôi la lên: Tôi là Trí, anh nhớ chưa? Hiệp lắc đầu, nói một câu. Tôi la lên: Tôi là Trí. Hiệp lại nói, tôi lại la : tôi là Trí, tôi là Trí, tôi không điên. Hiệp cười, tiếng cười đơn độc dội trên các vách tường. Tôi phủ phục xuống mặt hè la thất thanh như con chó bị đánh đập mà ngọn roi ác nghiệt là giọng cười quái gở. Rồi tôi khóc nức nghe rõ những hồi dồn đập ứ tràn, như buổi tối nào tôi đã chạy đến bên bờ sông ngồi gục mặt. Lúc tỉnh, tôi thấy tôi không khóc chút nào mặc dầu những hồi âm của giấc mơ còn vuốt ve mặt mũi... Bỗng tôi nghe những tiếng súng máy nổ ròn ngoài đồng, phía xa bên Ấp Chiến lược. Chó sủa ran lan truyền vào xóm. Một hồi lại im lặng. Rồi những tiếng súng bì bọp rời rạc khua động những con chó ở xa. Trong thinh không vang vọng những hồi trống dồn xen trong tiếng súng như lối cười giễu, tiếng chó xôn xao không dứt. Sự náo động như bị dồn thu vào trong các bức tường vây, bên ngoài là một vùng nín khe âm u. Tiếng súng im bặt mở một bầu trời sâu không đáy, từ nơi đó đột nhiên cất lên tiếng loa vang không nghe rõ lời. Người ta đang kêu gọi nhau chăng? Tiếng văng vẳng xa xôi không bay vượt hết được cánh đồng trống bị những tiếng trống dồn đuổi theo khỏa lấp. Tiếng trống nôn nao đập lộn trong màng nhĩ, trong lồng ngực như những hồi của trái tim náo loạn. Ngoài cửa sổ trên những lá cây, trời lóe sáng. Tiếng nổ ùng ục xào xạc cây cối trong vườn. Chó không sủa nữa, chỉ còn tiếng trống thúc hối và tiếng đại bác câu tới mỗi lúc thêm rung chuyển.
Tôi bỏ ra ngồi trên chiếc đôn sành ngoài hiên trước. Tiếng súng bặt hoàn toàn. Sự chết lặng xung quanh và trong tôi giữa màu ánh sáng lợt lạt như ánh ngày hoang tịch không còn thời khắc. Rất lâu tôi nghe mơ hồ tiếng nước chảy ngoài lạch thao thức, cây cỏ động đậy như ảo giác vờn múa. Trên mi mắt khô nặng dấu nước mắt, hiện xuống những hình bóng nhạt nhòa, bất biến. Không còn gì phải tự dày vò, hành hạ, con đường mày đã bước tới, mày phải đi tới cùng. Nơi hẹn ước với đồng bạn mày đã chậm trễ, nhưng rồi cũng phải đến. Chỉ còn Hiệp, Hiệp ở đâu đó, như một thù ghét quyến luyến và thừa sót.
Đêm với màu sáng chìm đắm dãn nở theo hơi lạnh và gió không biết đến khi nào sẽ lẩn biến. Dường như tôi đã sống những giờ khắc đêm nay một lần y hệt nhưng không nhớ rõ. Tôi quên dần mình, chuyển hóa thành một nỗi trắng như khoảng trời len giữa những gốc cây trong vườn ở ngoài cánh đồng. Tôi rùng mình nhận thức là đã sống hết, sống trọn cả đời mình từ bao lâu nay, mọi giây phút sau sẽ chỉ là sự lập lại, sự mô phỏng tầm thường của quá khứ. Toàn thân tôi mọc gai khiếp hãi.
Bằng trí tưởng tượng bị thúc quật bởi nỗi đau đớn đột ngột, tôi nhìn thấu suốt mọi chuyện đã xảy ra giữa chúng tôi. Tôi nhìn vào tôi như nhìn vào một cơn mộng, cơn mộng triền miên nếu tôi còn thức. Đam mê không phải niềm hy vọng, tôi đã lớn lên trong một nỗi đam mê khốc liệt che cái mặt nạ lãnh đạm dữ dằn, Hiệp đã nói như thế. Nhưng còn Thuận, còn Diệp? Và Hiệp nữa. Anh vẫn còn sống, nhưng đối với tôi anh cũng là kẻ khuất bóng. Sức lực nào đã đưa đẩy cuộc hiện hữu của mấy người hợp với tôi thành một Định Mệnh? Cũng vẫn chỉ là những Đam mê cô đơn nên tuyệt vọng. Dưng không trồi lên những sự thật. Những khoảng trắng được lấp đầy. Tấn kịch vang từng hồi mãnh liệt. Tôi hiểu thấu những điều xảy ra sau lưng tôi.
Đêm vẫn tuôn chảy theo ánh trăng hạ tuần như cơn xuất huyết không cầm giữ được. Mai sáng mờ đất, tôi sẽ lén bỏ đi như tên ăn trộm không dám gặp mặt ai Tôi cũng biến mất.
