Chương 1.1
Sự cô đơn của buổi chiều tỉnh nhỏ nổi trên góc phố. Ánh nắng như đám lửa bất động, sáng, không chói (ngọn lửa đam mê yếu ớt) che mặt tiền dãy nhà trệt kín cửa, trước kia là phòng ngủ, mỗi căn đều có hàng rào gạch ra tới sát lề đường vây lấy miếng sân xi-măng. Một mảng tường hông của căn nhà đầu dãy phố chính, cắt thẳng góc với phố, khuất tối hoen ố rêu phong của những mùa mưa cũ, viền một bên đường (Bích chương quảng cáo, khẩu hiệu tuyên truyền chồng chất lem luốc). Cổng chào giấy phết dựng một lần không tháo gỡ dùng cho mọi dịp lễ – màu nâu xỉn, màu vàng kim nhũ bay hết óng ánh như một niềm vui quen lạnh nhạt – quay lưng với vùng nắng trước nhà việc thị xã trông xuống vườn bông trên phố chính dẫn tới chợ, bến xe, bến sông. Sự vật đột hiện trong hình thù biệt lập như một bộ mặt nhăn nhó, Hiện tại trở nên xa mút như một nhịp cười. Cùng lúc sức hút đè nén của vật thể và sức đẩy tách lìa bơ vơ trong chân không chống chỏi nhau và thần trí rạn nứt, thụ động, rã rời như lớp tường cũ kỹ bỗng dưng xụp đổ.
Trời dần dần dịu, rớt xuống lượn lờ như một tấm khăn choàng mỏng trong gió. Cảnh vật khép lại, trồi lên. Buổi chiều này từ những ngày nào trôi dạt về trong thoáng chốc mang dấu tích mông lung. Trên khu đồi xa, đường cây cao um tùm, vọng tiếng reo hò của trẻ nhỏ. Kèn hơi bị kẹt thốt kêu không dứt. Một tiếng gọi giọng kim sắc gọn tan trong thinh không.
Con đường đất dốc thoải, cứng sạn, nối con lộ chính dẫn vào chợ và quốc lộ bọc vòng ngoài châu thành đưa tới cao nguyên. Dãy nhà chừng mươi căn, căn cuối cùng nằm bên bờ đường lở của quốc lộ – những góc đá xanh tròn nhẵn – nhìn sang một khu vườn chuối rậm, cách đường một con mương um cỏ sũng nước. Căn nhà ấy Hiệp và Thuận đã ở. Hai cánh cửa gỗ khóa trái, đóng chặt. Những khe hở cúp xuống, như những mi mắt đã khép. Thuận đã chết. Không còn ai ở, có lẽ không còn ai dám đến ở. Cửa sẽ đóng vĩnh viễn.
Hồi chiến tranh một gia đình cũng đã tự sát trong nhà ấy. Gia đình này từ Sài gòn tạm lánh lên tỉnh. Người chồng xếp đặt chốn ở cho vợ con yên ổn, bỏ chạy xa hơn nữa vào chiến khu. Một bữa lẻn về thăm nhà, người chồng bắt gặp vợ ngoại tình chém vợ sáu dao, lấy dây siết cổ bốn đứa con trước khi tự vẫn. Nhà bỏ hoang một thời. Viên Trưởng Ty Công An của tỉnh thời bấy giờ mua căn nhà với giá rẻ. Không rõ vì cảm tình đặc biệt hay có mối liên hệ nào, viên Trưởng Ty Công An cho một người đàn ông miền Bắc, bị đưa về tỉnh an trí vì hành vi chính trị, tới ở, phái một nhân viên thuộc hạ, vừa làm chân giúp việc vừa có phận sự canh chừng người bị giữ. Người đàn ông ít người thấy mặt, ông ta không khi nào xuất hiện, chỉ quanh quẩn ở phòng trong; hàng xóm cũng không hề nghe lọt tiếng. Lâu lâu viên Trưởng Ty Công An sau giờ làm việc hay buổi tối rảnh rỗi, ghé thăm người bị giữ chuyện trò; người ta chỉ nghe tiếng nói ồm ồm của y, tuyệt nhiên không thấy tiếng đáp lại và có cảm tưởng như y đang nói với hồn ma nào đó. Một buổi sáng (buổi mai non như vết thương mới nguyên), nhân viên có phận sự canh chừng phát giác người đàn ông tự tử cùng với người đàn bà đến thăm ông tối hôm trước do viên Trưởng Ty đưa lại. Hồi đó người bị giữ đã ở được cả năm yên ổn, không chuyện gì xảy ra, nên nhân viên lo việc canh giữ ỷ y, tối bữa trước bỏ đi xem cải lương rồi về ngủ với mèo bỏ mặc người đàn ông và người đàn bà được tự do. Hai người dùng lưỡi dao cạo cắt mạch máu cổ tay và khi nhân viên canh giữ trở về họ đã chết lâu. Người đàn bà trẻ đẹp mặc áo trắng vài – người kế cận nom thoáng thấy, lúc từ xe díp của viên Trưởng Ty Công An bước xuống – có lẽ là tình nhân của người bị giữ tận ngoài Hà-nội tìm vào. Do vụ này viên Trưởng Ty Công An phải đổi khỏi tỉnh, bán rẻ căn nhà cho má Diệp. Nhà khóa cửa bỏ trống cho tới hồi di cư Hiệp và Thuận đến mướn.
Chị Thuận. Chị Thuận. Trí đây. Sau cánh cửa kia là cõi chết, tôi không bước vào được. Tôi đứng ngoài, dán mình vào tường, ướt như chuột, trong đêm mưa giông tháng mười. Tôi dọng thình lình vào cửa, lay khắp mọi cánh, kêu gọi tuyệt vọng: Chị Thuận, chị Thuận. Ba bốn giờ sáng, mưa tạt trôi tiếng gào của tôi. Ngay phút ấy tôi chưa hay biết gì hết, tôi chỉ nhập vào sự sợ hãi tăng dần thành kinh hoảng do tưởng tượng dồn đẩy, tôi không ngờ Thuận ôm ghì cái chết quằn quại với bao nhiêu đồng lõa. Chị Thuận, chị Thuận. Cửa không mở, không khi nào mở nữa, nó khép lại những gì tôi muốn nhìn. Không còn ai sau đó. Hiệp, Thuận và Diệp.
Tôi trông từ xa mái ngói nâu xuôi dốc thản nhiên như một khoát tay không nghĩ. Trong thời gian Hiệp và Thuận trú ngụ, cửa ngoài cũng ít mở. Trong ngày một lúc vào buổi sáng, người qua đường có thể thấy Hiệp ngồi uống trà, hút thuốc lá, đợi giờ đến trường nơi bàn tiếp khách giữa nhà; một lúc buổi chiều mát Thuận hé cửa đón thêm ánh sáng để làm việc, chị ngồi trước bàn máy may bên cửa vào buồng trong, dáng nhìn nghiêng im mỏng. Mỗi lần từ Sài-gòn về ghé thăm, tôi ngập ngừng trước thềm, ngại khua động vào sự trống trải. Hiệp và Thuận có hay vắng mặt, nhà không ghi một dấu hiệu. Ngó qua cửa sổ thấy tường vôi trần không tranh ảnh trừ tấm lịch sơn màu đỏ thẫm chỗ bàn máy (một nhánh lau gầy mầu vàng không nền, bóng, trơ vơ); đồ đạc gọn ghẽ, giản dị: bàn ghế mộc, máy may với chiếc ghế đẩu, cái ghế vải bố xanh dựng bên vách. Căn nhà như vẫn không thuộc về ai, lần nào tôi cũng cảm tưởng đứng ngoài vòng thân mật của sự vật. Tôi ngồi trên những cái ghế nhẵn trơn, mặt và lưng ghế dốc cong, tay tựa cứng uốn lượn rõ rệt, ngó mặt bàn tròn nổi vân, những mảnh tường xanh, khuôn mặt, dáng dấp, cử chỉ của chủ nhân, ngó mãi và gặp toàn ảo giác. Hiệp và Thuận lẩn khuất bên nhau giữa sự lặng lẽ đắm chìm như những sự vật được bỏ không, ngăn nắp, sạch sẽ. Ngoài đường hiếm xe cộ qua lại, lâu lâu một chiếc thổ mộ lọc xọc leo hoặc đổ khúc dốc ngắn trước nhà.
Thuận chết ở buồng trong, nơi đó tôi chưa một lần đặt chân tới. Tấm màn vải hoa, những chùm cúc vàng nhạt, buông rũ che khuôn cửa, Tôi thường tưởng tượng, và nghĩ chắc đúng, nơi chốn riêng biệt của Hiệp và Thuận. Gương rộng nệm phẳng như không có người nằm, bàn viết lớn nặng khó xê dịch, cái tủ đứng không gương soi (tại sao không gương soi?) và những khoảng trống thừa dành cho hai người di chuyển không vấp đụng nhau. Một cửa sổ mở ra sân, nhìn lên khoảng trời với đỉnh cây rậm như rừng, hàng cây trên con phố thuộc khu đồi sau lưng nhà. Sân hẹp và sạch không bể chứa nước, chỉ có một chiếc “phuy” đen trát hắc ín cao ngang tầm ngực (Thuận phải kiễng gót mình múc nước, mái tóc trễ lệch một bên những đêm mùa hè sáng) bên mấy chiếc thùng thiếc mỏng xếp hàng đều đặn. Một buổi chiều mưa lớn tôi đã được bỏ ngồi ngoài bàn khách một mình trong khi Hiệp và Thuận vào nhà hứng nước. Cái máng xối di động hắt nước ầm ầm xuống đáy thùng mỏng. Vào những tối mùa khô Hiệp và Thuận xếp thùng trên chiếc xe gỗ bánh sắt, tự tay đẩy xe đến nhà ông pháp chuyên nước về dùng.
Con đò quay ngang mũi, rời bến chợ. Vào đầu mùa trái cây, thuyền san sát trên bờ, chất đống những cần xé măng cụt, sầu riêng, chôm chôm, mít… Chiếc xuồng bảy lá rộng thênh với hai người qua sông – một thanh niên dắt theo chiếc xe máy mới gắn đèn lớn nhô cổ dài trên tay lái – quay mũi về phía quán nổi. Quán cây, rào lan can thưa trông đủ bốn mặt, những nhịp hình chữ nhật với hình chéo góc, cái bàn trải vải ny - lông xanh đỏ chưa có khách, bốn mảnh mái chụm vào nhau trên đỉnh. Buổi chiều đã nhẹ lắm sắp sửa tan nhanh. Từ thành lính trên dọi đất, chỗ sông tỏa vòng, vang hồi kèn đồng rời rạc, khúc âm thanh vàng xỉn như nắng. Đường dọc bờ sông cây thẳng tắp duỗi ra ngoài châu thành, vượt khỏi cây cầu ngắn trên một lạch nước cạn mặt nhựa hóa thành đất bụi đỏ, nằm dưới chân đồi um tùm đất các công thự trong tỉnh. Bên sông lẩn sau hàng dừa nước chi chít, nhấp nhô chuyển động chiếc xe đò muộn trên con đường liên quận.
Sông lớn hiền lành. Không còn vẻ hoang vu sắc bén trong những trưa ngút nắng đứng đợi đò, mặt nước chói như tấm gương lớn, bờ lởm chởm trần lấn những bụi ô rô dằng dặc như điệu “vi dầu, hò ơ” của má tôi ru đứa cháu ngoại đẻ hoang trong trái bếp. Không còn là nỗi sợ hãi trong đêm giông, nằm một mình nhà trên kế cửa sổ, thân thể lột truồng, cuốn trong mền và giấc ngủ xao xuyến đâu đâu đâu; nghe gió từ cuối sông trở ngược thổi băng qua đồng trống, đập các tàu lá dừa, đám cây ngoài vườn, cùng tiếng nước ào ào miên man, tưởng sông chảy siết biến dạng, muốn lụt ngập trôi phăng cả vùng vườn tược nhà cửa. Cảm giác tiêu tan trong dòng cuồng bạo của tạo vật, cơn dục trơ trọi đốt cứng thân xác. Mai sáng trở dậy, nhà sạch ẩm cũ, đất cát mềm đi, lá cây rũ nước, nước tuôn đầy bốn phía, trong các mương lạch. Thân xa lạ như trời nhờ nhờ dục khói trên đồng. Tôi thả tay xuống nước, ngập đến cườm tay. Tuổi trẻ trôi mất như dòng nước nhờn luồn qua các kẽ ngách, chỉ để lại cảm giác ẩm và chịu nặng. Tuổi trẻ ở lại khuất sau cái chết của Thuận, cái chết của Diệp, và cơn mù mịt của thần trí (một vùng nín thinh tuyệt đối) từ đó tôi bị thảy trả ôm theo sự tĩnh mịch khuya khoắt.
Bóng tối đang bôi nhòa cảnh vật trên bờ sắp tới, dìm dần nó xuống thấp ngang với mặt nước. Tôi vẫn còn đang ở giữa sông. Tiếng mái chèo tạt nước ì ụp. Người thanh niên bấm vài tiếng chuông xe máy kêu chơi. Sau những ngọn cây đang nhỏ dần, điện châu thành thắp lên từng chập đẩy xa những phố tối dưới chân đồi. Khu chợ nhấp nháy đèn khí của những xe quán. Ánh điện lưng chừng ngọn cây, quay mặt vào phố, sẽ sáng dần lên mãi rồi từ từ nhạt bớt theo đêm và lênh đênh. Đêm nào, tôi cũng tông cửa chạy cuồng dưới mưa trong sức thôi thúc vô phương hướng. Trên đường đất trơn trượt men theo lạch nước như roi quất vào mặt, tôi chỉ còn là những vung vẩy của tứ chi và hơi thở dồn đứt. Tôi nhảy xuống nước lội. Không phải con sông này, hiện giờ nước lặng và nghiêng sánh. Con sông kia như một vòng tay lạnh lẽo, dữ tợn choàng siết lấy mặt mũi với sức mạnh tàn bạo của trí nhớ ấu thơ. Lội khỏi bờ vài mươi thước, tôi thả ngửa, hớp những đám mưa phủ xuống mặt. Mày là Trí, mày là Trí. Mày không điên đâu. Tôi không thể nào điên được thì đúng hơn. Trở lên bờ, nghe tiếng má tôi và chị Lệ kêu hò sau đám mưa kín như lưới khít, những khoảng vườn xa, dưới nền trời nhạt như sắp rạng: chạy về núp trong lỗ chó ngoài rào. Mày đâu, Trí? Chuyện chi vậy Trí? Con sao đó Trí? Tôi ra ngoài sông tắm. Má khỏi lo, tôi không điên đâu. Để cho tôi ngủ. Ra sông tắm giờ này? Trời đất ôi. Xức dầu đi con. Má liệng đó cho tôi, Tôi ở truồng mà. Tôi co quắp thân mình trong mền, tứ chi bải hoải. Mùi dầu cay nóng làm ứa nước mắt, nỗi hư không ghì siết, vây bọc. Mưa mỗi lúc một thêm dữ. Con sông xô trườn ngoài xa, tuôn vào giấc ngủ. Mày là Trí, mày vẫn là Trí.
Con đò trôi chậm, xuôi theo dòng chênh chếch. Người lái thuyền thân ngả trên nền xám nhạt của khoảng không, đưa đẩy theo nhịp chèo. Người thanh niên đứng giữa lòng thuyền, chốc chốc lại bấm chuông, lắng tai nghe. Tôi ngồi đầu mũi, cầm ống lon méo mó múc nước trong sạp trút ra sông.
Người thanh niên, vác chiếc xe máy lên vai, dẫm trên những miếng đá lún ngập dưới sình làm lối lên bờ. Hắn đặt xe xuống đất, thót lên yên, chiếc xe loạng choạng chao nghiêng, hai chân đung đưa tìm bàn đạp; lấy được thăng bằng, hắn đạp mau vào con đường hẹp giữa những bụi cây. Tiếng chuông xe rối rít, bình điện quay sè sè theo vòng bánh, dây sên nhấn trên mấu răng cưa, ổ líp bỏ lơi, tắt lần sau lối quanh.
Gà đã lên chuồng, chỉ còn nghe tiếng lục cục trong ức, ổ rơm lạo xạo. Thấy người qua, đàn chó rút vào trong rào sủa ran. Đèn dầu tù mù như tiếng nói động trong các nhà. Bóng tối loãng nhạt từ ngoài đồng và sông trống lùa vào đặc sệt trong vườn tược giữa mùi hương nồng pha trộn của cỏ bãi bùn đất, kinh lạch. Đâu đây vẳng tiếng máy phát thanh, giọng xướng ngôn viên đều đặn, trung lập, tạo nên chuỗi tiếng động lạ hoắc. Trong đám dừa nước đan kín lọt một vài khe sáng kỳ lạ như bên kia con lạch còn là ngày (ngày của một thế giới khác). Con đường này không dẫn tôi trở về, tôi đi ngang qua thêm một lần nữa trong đời. Lần chót, phải không ?
Đầy cánh cửa rào, đi trên những viên gạch vuông xếp lối hàng một, qua sân trước – mùi dạ hương, bóng những chậu kiểng, tàn trứng cá, cây ổi thưa cành, cây mận, cây điều lá rậm – tôi bước lên thềm. Mái ngói thấp xuống sau lưng. Tôi dừng nơi ngưỡng cửa, thanh gỗ chắn ngang đụng ống quyển. Từ cõi chết trở về tôi đã đến nhà. Ánh đèn le lói dưới nhà ngang, trên nhà im vắng. Tôi gõ nhẹ mấy tiếng lên cửa. Vệt sáng trên thềm sau lung lay, chuyền động. Ngọn đèn giơ cao xuất hiện trong khung cửa tỏa sáng về trước, đẩy lui khuôn mặt của má tôi vào bóng mờ.
– Ai ngoài đó ?
Giọng run rẩy như ngọn sáng. Tôi cố gắng thốt : Con, Trí đây má. Cánh cửa mở, tiếng khô kít kéo dài, tôi nheo mắt, ngọn đèn soi lên ngang tầm mặt.
– Ủa, con. Trí.
– Má tôi né sang bên nhường lối. Bà lắp bắp: Con, Trí, con ở đâu về tới ? Tôi bước vô, đi vào quãng trống nằm trong bốn cây cột giữa nhà. Và tôi đứng trơ, không nói cũng không nghĩ. Má tôi đặt cây đèn xuống bộ ván bên cửa và bà ngồi ngay xuống nức nở. Ngày trước khi cha tôi chết, tôi bảo : thôi má đừng khóc nữa, má tôi nín ngay lúc đó. Bộ ván cập kênh, ngựa đặt trên mấy miếng gạch bể, nơi ấy xưa là chỗ nghỉ của bà và chị Lệ. Trong góc chéo đối diện với bộ ván là khu vực riêng của tôi. Giường sắt hẹp một người, cọc mùng cao lênh khênh. Bàn học, sách vở vẫn xếp thành chồng gọn gàng hơn trước. Ngoài cửa sổ, cây vú sữa lá dầy. Những vật ấy thuộc về tôi, không chút xê xích thay đổi trong khi tôi vắng mặt. Giả thử tôi đã chết hoặc mai kia tôi sẽ chết, sự hiện diện của tôi vẫn còn đó. Tôi đã tạo dựng được nó giữa những người thân, bằng độc đoán, tàn nhẫn ích kỷ. Những sự vật ấy vững mạnh vô lối như cuộc hiện hữu côn đồ của tôi. Bên bộ ván, trên cái tủ gỗ sơn đen chắc chắn đựng quần áo, vật dụng hàng ngày, đặt bàn thờ cha tôi. Phần đất của tôi từ cửa sổ đến cửa ngoài, không đồ đạc, trơ hai chiếc băng dài đặt sát vách không dùng đến. Không ai đi qua cửa trước, qua gian trên này, trong mấy năm gần đây, trừ tôi. Khách tới thăm má tôi hay chị Lệ vòng theo lối ngoài vườn vào nhà ngang. Tôi sống biệt lập nghênh ngang, vây kín thế giới của mình trong vòng cô đơn dữ dội.
– Chị hai đâu má?
– Nó xuống dưới xóm Đình.
Tôi tới ngồi trên giường của tôi. Má tôi đưa cánh tay áo quệt nước mắt. Bà gài cửa, bỏ xuống nhà dưới. Cây đèn để yên trên bộ ván, ngọn sáng chốc chốc phựt lên nhún nhảy. Lát sau bà trở lên, mở tủ kiếm mùng mền xếp lại dưới chân giường cho tôi.
– Con ăn cơm chưa?
Bà lén ngó tôi, hơi lùi về sau, chờ phản ứng của tôi : Cơn nóng nảy thình lình phát ra những tiếng la ngắn, những câu đáp cộc lốc. Tôi chỉ nhíu mày rồi mỉm cười. Bà ngạc nhiên, vịn vào thành giường, bóng của bà mờ mờ ở sát ranh giới của thị trường, không còn đè nặng như ngày trước.
– Con về ở luôn nhà há?
Không. Tôi từ cõi chết trở về, không phải để ở lại. Không phải để ở lại. Thân tôi đã trống vắng, mù mịt không còn một hối thúc hay quyến luyến nào ngoài cơn gió triền miên của một vùng đen đặc hun hút. Có lẽ má tôi cũng rõ, bà đã biết mất tôi từ lâu. Bà im tiếng, thở dài, gượng cười.
– Tại sao con không về nhà, không báo tin về nhà? Hay tin má với chị Hai con có lên kiếm nhưng con đã đi mất...
Tôi không trả lời được. Sự thật tôi cũng không thiết nhớ những ngày ấy tôi đã làm gì, tôi đi đâu. Cái chết hụt bôi trắng một quãng ngày tháng, tôi chỉ còn tôi, một cõi hư vô rung động. Mày không điên nổi, nếu mày điên mày sung sướng biết mấy. Tôi chú mục vào bức hình bán thân của Thuận lồng khung còn nguyên vị trên một chồng sách. Người đàn bà đang nhìn thẳng và xa như muốn bắt gặp những vật khuất sau lưng kẻ đối diện. Mái tóc đen mướt không uốn ôm khuôn mặt thuôn nghiêm trang kín đáo. Tấm hình này tôi bắt gặp trong một cuốn sách mượn của Hiệp và giấu lấy, màu thuốc phai lợt trông như bức chân dung họa bằng chì than.
– Tội nghiệp con Diệp. Má thương nó. Ba má nó đã đổi xuống lục tỉnh.
Tôi vẫn nhìn người đàn bà trong hình. Lúc lâu thị giác mỏi mệt nhập nhòa, giật mình ngó lại, má tôi đang quay lưng đi xuống nhà dưới. Tôi còn lại cô đơn, những ý nghĩ đáp xuống mặt buồn bã rồi vụt bay đi như những bóng chim nhỏ lao nhanh trong buổi chiều chạng vạng.
Trước đó vài phút, bầu trời xanh thoảng, len giữa những đám tối trong vườn màu lửa lưu huỳnh chấp chới, Và con trăng đầy mọc. Vùng chân trời đỏ ửng nhô lên một chúm cầu dần dần thành hình chiếc dù không bị hút xuống mặt đất mà bồng lên không, thành quả bong bóng hơi màu cam. Lên cao chừng ngón tay con trăng khựng lại. Cánh đồng bên kia lạch nước bật sáng trắng, nước dưới lạch chảy thao thiết hơn.
Căn nhà đã yên ngủ trong bóng vườn cây phủ quanh như ngôi nhà mồ. Bốn bức tường ẩm quanh năm, mái rêu phong cũ như chùa cổ, nền gạch tàu đỏ hỏn vì chùi rửa mỗi ngày, không khí giam hãm giăng tấm lưới của tình yêu đan kết bởi hai người đàn bà góa bụa chụp xuống tôi như một con mồi ngon. (Con thú vùng vẫy phá phách). Tôi đứng ngoài. Trăng sáng rỡ như một hiện tượng kỳ lạ tôi chưa hề được thấy lần nào. Sự lan tràn xao xuyến của tạo vật bủa vây. Hạnh phúc mềm mại vuốt ve các giác quan. Hạnh phúc đột ngột hé mở vòm cửa bất trắc, biếc và vắng. Hạnh phúc thiết tha chới với như giọng hát đang ngân lùa thời gian vào trong mình rồi tắt chỉ còn âm vang. Hạnh phúc vô lý không nên có, khích động sức hủy hoại ngầm dưới đáy thân, tôi đã từng từ chối quyết liệt. Có lẽ mỗi định mệnh thắt chặt từ đó. “Anh kỳ cục lắm. Anh sợ hạnh phúc” “Phải anh sợ hạnh phúc” “Anh không sợ, nếu anh yêu em” “Anh yêu em, anh yêu em. Nhưng anh sợ” “Không, anh không yêu em. Anh muốn được chết trước em mà”. Diệp, Diệp, tôi tự dưng kêu khẽ,
Tôi đứng bên bờ nước, bị thôi miên trong sự huyền hoặc của ánh sáng và hình thể quanh mình, không còn sức chống cưỡng. Sức mạnh vẫn thôi thúc tôi ngày trước đã liệt. Gió thổi là tới từ những bãi cỏ đồng, qua mặt nước đang dâng. Tôi yên tĩnh nghe hơi thở, tự khử mình vô tri giác như một thân cây trong vườn (Những bước tạo vật mơ hồ qua thân thể.) Đột nhiên, tôi nghe rõ tiếng má tôi khóc dấm dứt trong nhà, nghe rõ sát bên tai, bàng hoàng và tôi vẫn đứng trơ cho đến khi chợt thức. Tiếng khóc đã nín lúc nào.
Một tiếng kêu tan trong luồng sáng đang chảy. Vài giây sau tôi quay mình ngó lại. Chị Lệ bồng con khuất dưới bóng cây vú sữa, đứa nhỏ gục đầu trên vai mẹ, chiếc áo bà ba trắng ngần. Khuôn mặt chị là một vệt sáng bầu dục trong bóng mờ của tàn cây.
– Phải Trí đó không ?
Chị sang tay, đổi vai gối cho con. Đứa nhỏ bị động, khẽ rên trong cổ, chị ấm ứ trong miệng điệu ru không thành lời, đợi cho đứa con im ngủ lại mới lặng thinh. Chị đứng một chỗ hướng mặt về phía tôi, đưa cánh tay rảnh lên cao trong dáng ngập ngừng bối rối. Có lẽ chị vuốt tóc, nhưng tôi chỉ trông thấy một vệt trắng dài cử động.
– Trí về hồi nào ?
Chị tiến vài bước tới chỗ thoáng dừng lại, khoảng cách giữa chúng tôi là độ dài của sự nín lặng đang rung. Dưới ánh trăng chị hiện rõ, đầy đặn yên tĩnh. Cặp mắt chị hút lấy những ánh xanh ướt. Tóc chị cắt cụt, mọc bờm xờm tới gáy, chiếc khăn đội đầu chị giữ trong tay. Chị đã xuống tóc để cầu nguyện cho đứa em trai được bình yên vô sự, tôi biết như thế, như hồi xưa khi tôi bị tù. Mái tóc của chị mềm ướt, óng ả, đẹp nhất xóm lúc tuổi con gái. Trông chị với mái tóc ngắn như một bà cốt trẻ đẹp trần tục và ma quái.
– Thôi chị vô nhà cho con Liễu ngủ.
Chị xoay mình chậm chạp, hy vọng tôi cất tiếng, bước ríu ríu đạp lên bóng mình. Chiếc bóng nhỏ bị nuốt vào trong gian nhà ngang. Chị không đốt đèn, mò mẫm trong tối. Tôi không chủ ý vẫn nghe những tiếng rõ rệt phân biệt. Má tôi còn thức. Chị Lệ ru con khi đặt nó xuống ngựa, má tôi ho húng hắng. Im lặng bốc lên theo vùng xôn xao của cây cỏ côn trùng. Tiếng nước sối rửa chân bên hàng hiên, tiếng guốc đi trên nền đất. Tôi nhìn suốt tôi như một kẻ khác đứng giữa bóng đêm biếc như một khối pha lê.
Buổi mai thơm ngát ngoài vườn, nền tím hư ảo chập chờn cuối tầm mắt. Bóng lá động đậy trong khung cửa sổ như một đường vòm sâu trong rừng sáng. Tiếng động loang trong xóm, xe gắn máy nổ ròn về phía bến đò. Má và chị Lệ nói chuyện tuốt đâu dưới nhà bếp. Tôi nằm im trong thấp thỏm rũ liệt, cố nhìn trước mọi cử chỉ sắp tới khi trở dậy.
Con Liễu mò mẫm dưới chân giường, tay quờ níu mùng. Nó bám vào mép sắt, lần đi mở mắt nhìn qua màn vải thưa. Cặp mắt dài, ướt, trong, Liễu nhoẻn miệng cười giống như mẹ nó. Tôi vén mùng chui ra, buông thõng cẳng, ngó con nhỏ. Tôi đưa tay muốn kéo nó đến gần, nhưng nó thụt lui không rời mắt tôi, miệng mếu máo mỗi lúc thêm rõ. Chập choạng con nhỏ buông tay khỏi gióng sắt mép giường, té ngồi xuống gạch òa khóc.
– Má đây. Má đây. Coi kia, cậu ba con đó. Cậu ba con đó mà. Chị Lệ bồng con lên, vỗ nơi lưng nó, lặp đi lặp lại : cậu ba con đó, cậu ba con về đó.
Tôi gượng cười, bỏ xuống nhà rửa mặt. Chị Lệ nói: Thôi nà... thôi nà... đề má cuốn mùng cho cậu ba. Má tôi lúi húi múc nước dưới mương tưới mấy bụi bạc hà và xả nơi góc vườn. Tôi nhìn lên ngọn cau để khỏi nhìn ai. Cuộc hành trình đã đưa tôi đi quá xa, lạc hết mọi người. Tôi không thể nào bảo cho mẹ tôi hay rằng tôi về nhà lần này là lần chót và sau đó tôi sẽ biệt tích. Biệt tích mãi mãi mang theo nốt những khoảng trống tôi đã đào bới trong nhà này.
Đã bao nhiêu lâu nay, tôi cũng đã biệt tích rồi, tôi ở chỗ khác. Gia đình đối với tôi là nhà tù, bóp nghẹt mọi khát vọng bằng những bàn tay dịu dàng chăm sóc. Những người thân bao vây với mớ yêu thương bủn xỉn của họ khuấy rối chân trời viễn vọng của tuổi thanh niên. Tôi cưỡng chống bằng cách trốn lánh ẩn giấu mọi cảm tình.. Nỗi kinh hoảng chết đuối trong ao vũng hạnh phúc, dìm ngập cuộc hiện hữu độc đáo tôi mơ mộng, tạo những thói quen, phản ứng bất mãn hằn học xấc láo trong cách cư xử, dựng bức thành phân cách với kẻ xung quanh. Những vách dày của mặc cảm nhốt chặt khó thở, tôi trở thành hung bạo vô lý. Những cơn điên tỉnh táo ngắn, nối tiếp mối ân hận luyến tiếc (vòng tròn miệt mài không hở) đục rỗng bản ngã. Trước mắt má tôi và chị Lệ, tôi là kẻ xa lạ, độc đoán, ích kỷ, sống trong nhà như một khách trọ nhiều uy quyền. Tôi xô dồn hai người thành những cái bóng, những cái bóng khó chịu, vướng víu. Những người thân phải ra khỏi thế giới của tôi, cuộc hiện hữu khốc liệt đòi sự tự hủy của những hiện hữu kế cận, thâu gồm mọi tự do cho riêng mình. Họ sợ sệt quanh quẩn dưới nhà ngang, ngoài vườn với những con vật thân tín. Tôi chiếm ngự gian trên với một người chết - cha tôi. Lúc nào tôi cũng chỉ thấy mình, chỉ nghe vô vàn thứ tiếng hỗn độn trong vùng hư không ẩn giấu trong mình.
Cha tôi chết vì cuồng trí. Tôi luôn luôn lặp ở trong đầu : mày không điên, mày không bao giờ điên được. Thường ông uống rượu vào giấc chiều trong bữa cơm. Khi vợ con đã rời khỏi mâm, tản mỗi người mỗi nơi, ông còn ngồi ngây trên ván. Rượu bắt đầu ngấm, mặt ông tím xám, mắt trương lồi như sắp lọt khỏi tròng ngó tới một điểm cố định, dường như ở đó là khe hở của một thế giới nào khác. Ông không nói năng hay la ó gì hết, rồi sau ông leo lên võng ngủ, giấc ngủ lúc chạng vạng. Bữa kia nước mắt chảy ròng từ tròng mắt bất động như hai con ốc chết trong chén nước mắm. Tôi kêu : Coi kìa, chị Hai. Tía khóc. Chị Lệ lôi tay tôi ra ngoài vườn đứng dưới gốc mít. Buổi chiều hấp hối trên bốt canh mới mọc, đám cây cỏ ven sông được phát quang, những rào kẽm gai lăn tròn như con trăn lớn. Đôi khi ông leo lên võng, bất tỉnh sùi bọt mép. Mấy người đàn bà lăng xăng cứu cấp. Tôi ngủ chung với ông kề bên một làn hơi nóng lộn mùi rượu, mùi dầu cù là ; và hơi thở khò khè tắc nghẹn. Một đêm ông bật khóc nỉ non. Tiếng nức nở bị kéo níu vùng vẫy làm rúng động cơ thể từng nhịp như mắc chứng kinh phong, truyền lan sự khiếp hãi kinh dị qua ván gỗ dày lạnh ngắt. Má tôi mời thầy pháp về bắt tà. Đèn nến thắp giữa sân khuya, đám đông hàng xóm bao quanh và vùng tối đen cây cỏ ngoài đồng như gần tới. Chiêng trống xập xòe lẫn với những câu thần chú và tiếng hú man rợ của ông thầy ăn mặc dị hợm : đầu đội khăn, thắt lưng đỏ, cắm hai cây cờ bắt chéo phía sau. Người bệnh ngồi xếp bằng trên ván trong nhà, nhìn qua cửa sổ, miệng cũng làm xàm không dứt. Đột nhiên người bệnh xuất hiện ngay trên thềm sau bàn thờ cười khạch khạch tiếng cười vỡ đục như miểng sành. Thầy pháp trỏ tay, bắt ấn, quát lớn. Người bệnh vùng quơ tay nhào tới, mọi người túa chạy như Tâv vô làng. Ông xách dao rượt thầy pháp chém loạn đả vào bờ bụi và ngất xỉu dưới mương. Từ đó hằng đêm, tiếng khóc lẫn tiếng cười mỗi ngày thêm dài lâu đến đứt hơi. Ban ngày, trưa nắng, ông leo lên nóc nhà, xé toang áo quần, râu quai nón tua tủa, ngồi chắp tay niệm Phật. Cuối cùng trong giờ giới nghiêm, ông phá cửa, chạy ra sông nhảy lội về phía đồn Tây. Súng trên bốt bắn xuống. Đầu ông nổi dập dình trong vùng đèn pha sáng quắc lờ đờ. Vợ con trốn trong bụi cây ven bờ kêu la. Tía ơi. Tía ơi... Xác hai ba bữa sau, nước rút trôi táp vào con lạch sau nhà.
Những ngày tháng chật chội, nhiều lúc tôi muốn điên như ông, vùi dập thế giới vào hư vô, tự trầm xuống vực tối tăm cuốn xoáy. Nhưng không thể được, cho đến mãi mãi không thể nào tôi điên được. Anh khùng, anh khùng lắm, Diệp bảo. Anh muốn điên. Điên như một cơn bão trong đêm trên đồng hoang. Sự xóa trắng những ngày tháng cũng là lối thực hiện của ý thức tự phủ che. Tôi tỉnh hoài và tôi làm ngơ. Và tôi trở lại chốn cũ, (không phải, không phải là đứa con hoang đàng hối lỗi), để hồi tưởng Định Mệnh. Bởi tôi phải sống hết Định Mệnh của tôi.
Khi bồng được con Liễu lên tay, nhìn đôi con ngươi đen láy, hơi thở thơm tho của nó phì phà trên má, tôi không biết phải làm gì nữa. Bàn tay bé nhỏ bóp nắm vành tai tôi nhột nhạt, tôi bắt cười sặc: nhột quá mày. Má tôi và chị Lê nơi góc nhà ngó tới chằm chằm, nửa mừng rỡ vì sự vui vẻ hiếm có của tôi, nửa lo âu sợ tôi như thứ quái vật có thể làm hại đứa nhỏ. Sự ngạc nhiên trân trối của người lớn cùng tiếng la lớn của tôi khiến con Liễu khóc ré, ưỡn người đạp căng đòi thoát khỏi tay bồng. Tôi trơ khấc như thân cây, không phản ứng. Chị Lệ sáp tới đỡ lấy con rơi vào ngực mình.
– Cậu ba thương con đó mà........... cậu ba thương con mà...
Tôi nín câm như hòn đá, bỏ ra vườn. Tôi sẽ như thế trong những ngày ở lại trong nhà. Im lặng buông thả như len lách thầm thì đến với sự vật và ôm ấp chúng trong sự trìu mến không biểu tỏ. Tôi nhìn ngoài trong thời khắc đợi chờ những lối hoang mang của kỷ niệm. Kỷ niệm ? Không phải. Tôi không có quá khứ, tôi chỉ có một cuộc hiện hữu vẫn vang ngàn như những làn sóng đùa tới. Mớ cảm giác, ý tưởng vẫn còn rung, không mang dấu thời gian. Tôi thả trôi trong hiện tại dập dềnh, những ngày thảnh thơi vô định, giữa cảnh vật dưới bầu trời không thay đổi quen mắt. Quyết định sắp tới giữ chặt trong trái tim rỗng tuếch chưa muốn cho trồi lên.
Con đường đắp nứt nẻ quanh vườn, những rễ dừa trườn ngang. Con mương nước váng Cây cầu khỉ rung rinh trên lạch. Lối mòn cỏ phủ dẫn ra đồng, bầu trời nhờ nhạt của mùa mưa sẽ tới. Đầm vũng cỏ gianh cỏ lát, những đàn le le đã bay đi, mấy tháng nắng chúng bay về đây cả ngàn con ngủ trong đầm, chiều tắt nắng liệng rợp trên đồng cỏ, tiếng kêu ríu rít hỗn loạn. Buổi sáng bàng hoàng tan mau mang theo những vùng tưởng tượng của tâm trí. Vài buổi sớm, tôi ngược con đường xóm ra bến đò, đứng lại trên bờ. Đất lạch bốc dưới gốc hàng dừa nước đắp lên dẻo và đen. Cửa lạch chảy ra sông vẫn in dấu chân người trên sình lầy khi nước cạn, Tôi nhìn mặt nước êm ả. Châu Thành xa khuất tẻ lạnh, câm nín. Sự im lặng di chuyên tôi đến sự vật, đời sống. Tôi chợt nghĩ nếu không bao giờ tôi vượt sang đó, tôi chỉ lớn lên trong xóm đồng này, tôi sẽ có cuộc đời khác. Tôi không là Trí, tôi sẽ là cậu Ba, thằng Ba, chú Ba, dượng Ba, anh Ba... Trí, Trí. Nhiều người gọi tôi bằng cái tên ở đây không ai biết. Tôi không còn là đứa con của cha mẹ tôi nữa, tôi sinh ra từ những người khác, (Những người đâu đâu tôi không hay biết).
Tôi nhớ Diệp, nhớ những phút cuối cùng trong cuộc phiêu lưu của chúng tôi. Tôi đã lôi cuốn nàng vào trong cơn điên tỉnh thức. Nàng dại dột biết chừng nào. Diệp, phải không Diệp ? Em là người tình, khuôn mặt của cái chết. Tại sao tôi lại được cứu thoát? Tại sao người ta gỡ tôi khỏi tay Diệp ? Buổi mai nhờ tối không khi nào lui thành dĩ vãng. Khuôn mặt xanh xao đau yếu của Diệp, sau đêm mưa lũ, hốt hoảng trong cuộc trốn chạy không định trước ra khỏi châu thành chưa thức dậy. Châu thành mù sương, tiếng vó ngựa trên đường phố ướt át, máy xe nổ hực vì khí lạnh chưa tan. Chuyến xe rộng cho riêng hai đứa, Diệp nằm gối trên bắp đùi tôi ở băng sau. Sương trên đồng, trong vườn là là khắp mặt sông nước, đón chúng tôi lưng chừng các dốc. Chúng tôi chạy tới chốn hẹn ước, chốn im lìm tuyệt đối là cõi điên và cõi chết.
Những giấc ngủ muộn chán chê, ủ trong không khí cũ xưa, như ánh nắng tàn nhạt trên đồng, nghiền nát cảm xúc thành bất giác kinh hoàng. Tỉnh dậy tôi vẫn ghi giữ ảnh tượng không thể tan nhòa, dấu tích của nhịp bước hiện sinh, nếu còn sống tôi chẳng sao từ chối thay đổi. Những cuộc gặp gỡ phát hiện bản ngã, tự do. Những khuôn mặt ghé nhìn tìm bóng dáng. Những biến cố đẩy xô tôi chọn lấy định mệnh. Hằng giờ tôi thu hình trong câm nín. Sự im lặng di chuyển tôi đến sự vật, đời sống. Tôi không còn nghe thấy hỗn độn quay cuồng. Tất cả tĩnh mịch phẳng lặng. Tôi đã đứng sau lưng cái chết và chẳng thể làm gì được. Sống là bị cuốn hút vào các thế lực ngoài mình trong nhịp hồi tưởng cưỡng chống không dứt.
Có lẽ chị Lệ đã có người tình mới, tối tối chị bồng con xuống xóm Đình. Phải ngày trước tôi đã nhìn hằn học nghiêm khắc, chị len lén sợ sệt như kẻ tội phạm trước quan tòa. Một buổi trưa, tưởng tôi ngủ, má tôi khuyên chị nên coi chừng, đừng chọc giận tôi, bà vẫn nhớ thái độ bất mãn khinh bỉ của tôi trước đây, mỗi lần bà tỏ vẻ bênh vực chị Lệ. Hồi ấy tôi nói: “Đừng ai nói chuyện ấy với tôi… Đàn bà khốn nạn, dâm đãng” chị Lệ cúi đầu cam chịu. Tính chị thích nói chuyện, ưa cười, tôi trả thù chị bằng cách không khi nào nói với chị trong suốt thời gian chị mang thai con Liễu và sinh nó. Lúc sau, tôi coi chị như kẻ dưới, nói vắn những lệnh sai khiến của tôi.
Chị Lệ được học đến lớp nhất, chị thông minh hơn tôi. Ngày nhỏ, hai chị em học một trường, mỗi buổi chị đều đưa tôi gần đến cửa lớp rồi mới trở lại với các bạn gái; giờ tan chị đón tôi ngoài cổng trường với những gói tầm ruộc mắm ruốc hoặc trái ổi, trái điều. Trên con đò lênh đênh ngang qua sông chị tháo kẹp tóc cho gió bay, cùng tôi vẩy nghịch nước sông và chị thường nhát tôi khi đò chông chênh giữa dòng. Chị lớn hơn tôi bốn tuổi, học hơn tôi hai lớp. Năm mười bảy, tóc chị xức dầu dừa, áo túi trắng nõn, chị yêu anh Tạc, viết những lá thư tình dài trên giấy mỏng xanh, mỗi lần chị đều đọc cho tôi nghe trên bàn học những buổi tối. Anh Tạc đi bưng kháng chiến, thư anh gửi chị viết trên những mảnh giấy ô vuông xé trong sổ tay, chữ viết chi chít, chị khoe với tôi. Tôi nhớ một câu: Yêu em anh không thể nào chết được, anh sẽ trở về. Tôi không biết mặt anh Tạc, nhưng những lá thư của chị Lệ cũng làm tôi yêu anh. Thỉnh thoảng chị Lệ xin phép má xuống tận Chợ-lớn gặp anh Tạc trong những dịp công tác ghé về thành. Chúng tôi dậy sớm, nắm tay nhau ra bến đò, đường xóm còn vắng những buổi mai dài trên bài trời hư tưởng. Toi đứng lại trên bờ, nhìn chị xuống thuyền, nhắc chị cho tôi gửi lời hỏi thăm anh Tạc. Tôi theo rõi hình bóng chị nổi đều đặn trong tấm áo bà ba trắng như chiếc bình sứ trôi xa trên hàng cây châu thành. Chiều tối trở về, má hồng hào, hơi thở thơm tho, chị ca cải cách. Chị thuật chuyện ban ngày gặp anh Tạc bằng một giọng thần bí, tôi ngây người nghe. Một lần nghe anh Tạc bị bắn chết bên cầu chữ Y, chị khóc ngất mấy ngày đòi tự vẫn. Tôi khuyên chị: “Chị Hai. Chị phải sống và lấy chồng nữa”. Năm anh Tạc tập kết, chị xuống Cao-lãnh vào trong khu cả tuần lễ. Tôi tưởng chị đã theo anh Tạc luôn. Về nhà chị buồn bã hết mấy tháng. Nhưng một năm sau anh Tạc đi, chị mang thai. Con Liễu sinh ra theo họ mẹ, tôi không biết cha của nó và tôi cũng không muốn biết. Tôi không thể hiểu được sự phản bội của chị, tôi không thể tha thứ. Tôi đuổi chị ra khỏi ý nghĩ của tôi, đuổi ra khỏi tầm mắt của tôi. Tôi lớn thoát đi một mình, muốn quên hết mọi người thân.
Bây giờ tôi nhìn chị Lệ như một người quen không nhớ rõ tên. Trong bữa cơm, chị vừa ăn vừa đút cho con Lệ, chuyện trò với má, thỉnh thoảng liếc tôi. Tôi cắm cúi, lâu lâu trả lời một câu hỏi của má tôi. Đôi khi tôi cũng nói với chị Lệ qua trung gian con Liễu. Chiều tối, tôi thơ thẩn ngoài vườn, bỏ trắng mọi cảm xúc. Tôi đi trong không khí những ngày cũ với cơn khủng hoảng rình rập. Và tôi tự nhủ: không còn gì nữa. Không còn gì đâu Trí. Tuy nhiên, tôi biết tôi không thể nín câm mãi mãi, người xung quanh không đề cho tôi yên.
