favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Đông 2025
Next

Walser và Tanner

15/01/2026 04:40

Text dưới đây là lời bạt của dịch giả Jean Launay cho bản dịch tiếng Pháp Anh em Tanner.

 

Geschwister Tanner là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Robert Walser, khi đó hai mươi bảy tuổi. Nó đã được viết trong vòng ba hoặc bốn tuần giữa tháng Giêng và tháng Hai năm 1906, tại Berlin. Một bài chronique mà Walser cho đăng trên tờ Neue Merkur năm 1914 kể lại:

"Lóe sáng của các ngọn đèn, không thể cưỡng nổi vào buổi tối trên các phố của thủ đô, những con người, anh trai tôi. Tôi, ở căn hộ của anh tôi. Một căn hộ ba phòng hết sức đơn giản, mà tôi sẽ không bao giờ quên. Cứ như thể có một bầu trời, với các ngôi sao, các đám mây, và trăng, tại đó. Lãng mạn, những dự cảm tuyệt diệu! Anh tôi ở nhà hát cho đến đêm muộn, tại đó anh làm décor. Anh về nhà vào quãng ba hay bốn giờ sáng và thấy tôi vẫn ngồi trước bàn, bị bỏ bùa bởi tất tật các ý cùng các hình ảnh chạy ngang qua đầu óc; tôi không còn cần ngủ nữa; nghĩ, viết, thức đối với tôi thế chỗ cho giấc ngủ và với tôi thế giới chẳng còn là gì khác ngoài bàn làm việc của tôi, suốt nhiều tiếng đồng hồ. Sự tận hưởng, nỗi xả mệt cùng ngơi nghỉ, tất tật cùng là một. Bàn làm việc, u tối và có hình dạng cổ tới nỗi nó khiến người ta nghĩ đến một nhà ảo thuật già. Những khi lôi các ngăn kéo nhỏ của nó, vốn dĩ là sản phẩm của một thợ mộc cao tay, tôi tưởng tượng mình nom thấy từ đó nhảy vọt lên các từ, các lời, đủ các câu. Những tấm ri đô trắng, tiếng hát của khí đốt trong cái đèn, căn phòng, về phía cuối dài hơn và tối thêm, con mèo, và toàn bộ sự bình thản của biển trong những đêm chậm chạp và đầy oặp các ý nghĩ ấy. Thỉnh thoảng tôi tới chỗ các cô gái tại quán cabaret của họ, điều này cũng thuộc vào mọi sự. Nhân nhắc đến con mèo: lúc nào nó cũng ngồi trên những trang mà tôi đã viết bỏ sang bên và nó nheo mắt nhìn tôi, bằng cặp mắt vàng không thể dò thấu của nó, với dáng vẻ riêng của nó, để tra hỏi tôi. Có lẽ tôi nợ rất nhiều nơi con vật tĩnh lặng và dễ thương ấy, làm sao mà biết đây? Theo lối chung, càng viết tôi càng cảm thấy mình được canh giữ và như là được bảo vệ bởi một sinh thể đầy từ tâm. Một tấm mạng được dệt quanh tôi, êm dịu, mảnh và thoáng. Tôi cũng cần nêu lên thứ rượu màu nằm trên tủ com mốt. Tôi vinh danh nó thường xuyên hết mức mà tôi cảm thấy mình có quyền làm thế, nếu còn đủ sức. Toàn bộ những gì vây quanh tôi đều làm cho tôi khoan khoái. Đột nhiên có những hoàn cảnh hoặc cuộc gặp có lẽ sẽ chẳng bao giờ còn xảy ra lại nữa, hay là chỉ vào cái ngày nơi người ta ít dự tính chúng nhất. Chẳng phải những dự liệu cùng ước tính là một cái gì đó quá phàm, hỗn láo và tàn bạo sao? Nhà văn phải tự để mặc mình, đủ can đảm để lạc đường, dám mọi điều, lần nào cũng vậy; anh ta phải hy vọng, anh ta chỉ có thể hy vọng. Tôi nhớ mình đã bắt đầu viết cuộc sách bằng cách giăng hàng các từ không đầu không cuối, trộn lẫn vào với những bức họa cùng các nghuệch ngoạc chẳng nói lên điều gì. Khi ấy hẳn tôi không bao giờ có thể nghĩ mình làm được một điều gì nghiêm túc, một điều gì đẹp và tốt. Các ý, và cùng chúng là lòng can đảm, đã tới hết sức chậm chạp, theo một lối đối với tôi lại càng bí hiểm hơn vì chúng đi lên từ những vực thẳm nơi chẳng có gì nếu không phải sự từ chối tự coi tôi là nghiêm túc và sự nhẹ nhõm của việc không tin vào những gì tôi đang làm.

"Chuyện đó đã thật giống một cuộc mặt trời lên. Buổi tối cùng buổi sáng, quá khứ, tương lai và hiện tại đẹp trải rộng dưới chân tôi, phong cảnh khởi sự sống ngay dưới mũi tôi và tôi có cảm giác mình có thể đưa tay chạm vào tất tật những con người kia và các áp phe giữa họ, cả cuộc đời họ, vì cuộc đời đó ở ngay kia, trước mắt tôi. Một hình ảnh đã thay thế hình ảnh khác và các ý khởi sự chơi với nhau giống một băng vui tươi gồm toàn những đứa trẻ đáng yêu. Chính tôi thì vui sướng, tôi bám chặt vào cái sung sướng chính yếu và tôi càng tiến thêm, một cách đều đặn, thì câu chuyện mà tôi đang viết càng có được một nghĩa."

Bản thảo viết tay của lần đầu tiên, vốn dĩ còn được lưu giữ cho chúng ta, làm chứng cho trạng thái nhận hồng ân ấy: trên hai trăm trang người ta chỉ thấy có tổng cộng bốn chỗ sửa, mà cũng chỉ là thay thế hoặc thêm vào một từ. Nhưng nhất là, điều gây kinh ngạc nằm ở sự đều đặn của việc viết: bản thảo gồm hai phần, mỗi phần có mười chương, mỗi chương mười trang.

Sở thích cân đối và con số tròn đã rất đáng kể ở cuốn sách đầu tiên của Walser, xuất bản ba năm trước đó ở Leipzig. Fritz Kocher's Aufsätze tập hợp 55 text gồm hai trang mỗi text, được phân bổ theo chuỗi 20+10+15+10. Và có lẽ chính chứng cứ cho sự làm chủ này là thứ đã khiến nhà xuất bản Berlin Bruno Cassirer quyết định trao cho chàng thanh niên đó, người mặt khác được nồng nhiệt giới thiệu với ông, vốn dĩ vừa tới sống lâu ngày tại Berlin với mục đích duy nhất là viết, cơ may được thử một cái gì đó nhiều tham vọng hơn: tại sao lại không phải là một cuốn tiểu thuyết? Hai tháng sau, Walser nộp quyển. Sự dễ dàng quá lớn của ứng cử viên khiến tất tật các ban giám khảo khó ở, điều này thì ai cũng biết, và bản thảo được đón nhận không mấy hồ hởi. Việc sửa chữa được giao cho biên tập của nhà xuất bản. Đấy không phải là bất kỳ ai, bởi vì biên tập viên chính là Christian Morgenstern, nhà thơ tác giả của Palmström, hơn Walser bảy tuổi, mà ông quen biết, mà ông yêu quý, mà ông tiếp tục ủng hộ, như ông nhắc lại trong bức thư đi kèm bản thảo đã xem lại và sửa chữa. Nhưng bức thư cũng viết: "... Thoạt tiên tôi đã chỉ thấy - chuyện hay xảy đến với tôi lắm - toàn các khiếm khuyết về phong cách của anh, những chỗ quá dài không cần thiết, sự lỏng tay nơi các kết cấu, sự tự mãn vốn là thứ dẫn đến tầm phào, những thiếu chắc chắn về ngữ pháp, những vặn vẹo cùng sự thiếu hụt tính liền lạc trong lựa chọn một số hình ảnh. Anh hãy tự tra hỏi mình về tất tật những điểm đó, bằng không trong khi anh viết, ít nhất và dẫu sao thì cũng là sau khi viết xong trang ấy, đoạn ấy hay cả cuốn sách lần thứ nhất..."

Walser đã từ chối công việc sửa lại kia như nhà xuất bản lúc đầu muốn ông làm, nhưng không phản đối gì những sửa chữa của Morgenstern. Chúng đi từ chấm phẩy cho tới đôi khi nắn lại cả một câu. Nhưng chúng gần như không tự cho phép mình cắt bỏ gì. Nhà xuất bản thì đòi phải cắt bớt. Hai mươi chương sẽ chỉ còn là mười tám chương (những chỗ bị lược mất nằm ở tám phân mảnh), một trường đoạn (giấc mơ Paris) bị chuyển từ chương 17 sang chương 8. Vài vá víu là cần thiết và Walser, chẳng phải là không khó chịu, như bản thảo cho thấy, viết chúng.

Câu chuyện này hẳn sẽ có thể hội vào với những câu chuyện mà Marthe Robert nhắc tới trong lời tựa của mình cho Viện Benjamenta (Jakob von Guten) để mang lại hình ảnh về một nhà văn nếu không phải bị nguyền rủa thì ít nhất cũng ít được biết và bị xử tệ theo lối dị thường. Ba tập sách vinh danh Robert Walser, do Katharina Kerr tập hợp và giống như một phần phụ cho ấn bản toàn tập mà Suhrkamp ấn hành vào năm 1978, sửa chữa một chút hình ảnh đó, tôi thấy dường là vậy. Người ta thấy, chẳng hạn, rằng Franz Blei, tiểu luận gia và nhà phê bình avant-garde, người ngự trị trên phơi-ơ-tông Munich thời ấy, theo dõi Walser từ những bài thơ đầu tiên mà ông cho đăng, lúc ông mới mười bảy tuổi, trên một tạp chí Thụy Sĩ. Bài báo mà ông dành cho Anh em Tanner kết thúc như sau: ... "Ngày hôm nay vài trăm người sẽ tìm thấy nơi cuốn sách của Walser một trong những niềm vui của cuộc đời mình. Và sau này, lúc gió thu đã thổi qua trên văn chương Đức và những lá vàng của nó chỉ còn dồn thành một đống thối rữa, người ta sẽ thấy là còn lại trên cây cái quả đẹp mạ vàng kia, cùng vài quả khác, và cái đó sẽ làm nên một mùa gặt nhỏ, nhưng có trọng lượng riêng của nó." Không lâu sau đó, trong một bài báo viết kỹ về ba tiểu thuyết của Walser, in nối tiếp nhau trong vòng hai năm, Hermann Hesse phát triển một chủ đề sẽ hay được dùng lại: "... Những khiếm khuyết của Walser, hay cái mà tôi gọi như vậy, thuộc một thể loại khiến rốt cuộc chính tôi cũng không còn biết nữa, là mình có muốn thoát khỏi chăng..." Và chính Morgenstern, sau khi nhận được từ Walser cuốn tiểu thuyết thứ hai được viết với cùng độ nhanh và cũng ít được đọc lại hệt như cuốn thứ nhất, lần này viết thư cho Cassirer: "Phải, đây đúng là cách của Walser nhằm "đi theo con đường của mình", mang tới không nhiều hơn cũng không ít hơn những gì có thể mang tới vào lúc này, sự vắng mặt hoàn toàn của thứ savoir-faire sớm sủa kia mà rất nhiều tác giả trẻ tuổi ngày nay đang cho thấy ví dụ đầy bất hạnh, chính đây là điều khiến tôi tin vào anh ta gấp đôi..."

Như vậy, sự bên lề của Robert Walser trước hết được nhận ra và chào đón như một đặc quyền, có chút giống tự do của kẻ điên, trong khi xung quanh ông người ta chỉ nói đến các chương trình, ở ngay trước biểu hiện luận và ở ngay giữa "vấn đề xã hội". Đặc biệt, chính bằng cách này, Musil tiếp tục nhìn ông vào năm 1914, Những nỗi hoảng hốt của cậu học sinh Törleß in cùng năm với Anh em Tanner: "... Ở ông đôi khi một đồng cỏ là một đối tượng thật, nhưng đôi khi lại là một cái gì đó chỉ có trên giấy. Những lúc ông phấn hứng hay phẫn nộ, thì ông không bao giờ để hụt mất khỏi tầm mắt chuyện đấy là những gì mà ông đang viết, chính những tình cảm của ông đang được nối vào dòng. Đột nhiên ông bắt các nhân vật của mình im miệng và để cho câu chuyện cất lời như một nhân vật... Tôi rất muốn đấy là các trò chơi, nhưng đó lại không phải là những trò chơi của sự viết - mặc cho một sự làm chủ ngôn ngữ không ngừng khiến ta choáng mắt - đấy là những trò chơi của con người nơi có nhiều dịu dàng, giấc mơ, tự do cùng toàn bộ sự phong phú về luân lý của một trong những ngày có vẻ bề ngoài thật vô tích sự, lười biếng kia, nơi các lòng tin đinh ninh hơn cả của chúng ta nới ra bớt chặt và bước vào một nỗi thờ ơ dễ chịu."

Nỗi thờ ơ dễ chịu có phải là thứ giải thích cho sự ngoan ngoãn của Walser trước những "lời khuyên" của Morgenstern và Cassirer hay không? "Hãy làm những gì mà các ông muốn, cái đó không còn liên quan đến tôi nữa..." Người ta từng miêu tả ông là người quá mức nhạy cảm, dễ bị tổn thương trước phê phán dẫu nhỏ tới đâu. Biện hộ nào tốt hơn so với cú cúi gập người sát đất, "xin được phục vụ!", và cũng có chút giống thế mà người ta thích tưởng tượng ra ông, như là người đưa thư cho chính ông, đặt lên bàn làm việc của nhà xuất bản hai trăm trang giấy được buộc dây một cách hết sức chỉnh tề, đáp ứng đúng com măng. "Mich foutierend", như ông hẳn từng có lần nói bằng âm sắc Bern của mình, "các luật của thể loại". Nhưng người ta cũng truyền tụng câu sau đây, muộn hơn rất nhiều, năm 1933, về một kỳ tái bản Anh em Tanner, mà ông đã không muốn chăm lo: "Bị thừa mất 70 hoặc 80 trang."

Chắc hẳn sự không ảo tưởng ấy là sự không ảo tưởng của một người vừa vĩnh viễn thôi viết và sẽ còn sống hăm ba năm ở tư cách bệnh nhân tại một nhà thương điên, nhưng nó chẳng phải là không có các sắc thái. Walser sẽ không bao giờ nói điều gì xấu về hai cuốn tiểu thuyết kia và đặc biệt ông đánh giá cuốn thứ ba, Jakob von Gunten, là rất thành công. Ở hai trường hợp, có một thay đổi về thang bậc trong tương quan với Anh em Tanner; đấy là sự mở rộng một trường đoạn hẳn chỉ là một chương trong cuốn tiểu thuyết đầu. Người phụ tá sinh ra từ một trong tám phân mảnh bị cắt bỏ của Anh em Tanner, như một kịch bản cho một bản tóm lược. Có phải vì thế mà nó được "cấu tứ" hay hơn không? Dẫu thế nào thì, được viết một mạch, trong vòng vài tuần, giống quyển trước và quyển sau. Nhưng bên cạnh ba cuộc a la xô thắng lợi đó, đi đến được cuối một cuốn sách như Simon Tanner đi hết được một quả núi, sẽ có những lần khác bị đánh giá là hụt mất. Ba cuốn tiểu thuyết, dường như vậy, được viết rồi bị hủy. Toàn bộ chuyện ấy giữa năm 1906 và 1909. Sau đó Walser quay trở lại với "hình thức nhỏ", các text từ hai tới mười trang, hiếm khi nào hơn, và trì mình ở đó.

Có cần phải thấy trong sự thu mình lại đó dấu hiệu "nhiều triệu chứng của sự rối trí nghiêm trọng, nó, dần dà, đã hoàn toàn làm tê liệt hoạt động sáng tạo của nhà thơ", như Marthe Robert gợi ý, hay có lẽ cũng là sự trả lại tự do cho "băng trẻ con đáng yêu vui tươi", vốn dĩ thích hợp cho giờ ra chơi hơn nhiều so với cho những tiết học dài?

"Dẫu sao thì ông chỉ có thể miêu tả các "hero", chỉ có cái đó cho nhân vật chính, và ông cũng đã bám chặt vào ba cuốn tiểu thuyết viết hồi trẻ, để kể từ bấy chỉ còn sống trong cảnh bầu bạn với hai trăm nhãi ranh vốn dĩ là lũ bạn của ông..." Hẳn sẽ cần trích đủ luôn bài báo đáng ngưỡng mộ của Walter Benjamin, viết vào năm 1929, để đặt Walser về lại thứ hạng của ông vào lúc chẳng còn ai nhắc đến ông nữa. Từ đó tôi đặc biệt giữ lại ý theo đó các nhân vật của Walser đi ra, theo đúng nghĩa đen, từ những câu chuyện cổ tích. Họ đã sống như thế nào sau đó, sau khi hết câu chuyện? Nếu ý này có vẻ không ngay lập tức sáng sủa ở đây, thì đấy chính là vì Anh em Tanner đã không hoàn toàn chịu sự chuyển hóa hẳn sẽ biến nó trở nên giống các con ma không thể hủy diệt, bay là là ngoài tầm với của những sự kiện được kể lai, thứ tạo ra sức quyến rũ tang tóc và có chút hài của Jakob von Gunten. Một phần lớn của nó rất thực; một phần tệ hại, Walser sẽ nói (có lẽ là bảy mươi trang thừa), bởi, vẫn ở trong sự tự phê bình muộn đó, điều mà ông ít tha thứ cho mình nhất, ấy là "những đánh giá quá thiết thân về những người anh và người chị (của mình) theo lối đó mà được trao cho công chúng". Quả thật những bức chân dung của Anh em Tanner khá tương hợp với những gì mà người ta biết về gia đình Walser và, trừ một người em gái của Robert, không thành viên nào của nó thiếu mất. Người ta dễ dàng nhận ra Zurich bên bờ cái hồ của nó cùng những ngọn núi của nó và ngôi làng Bern nhỏ bé Täuffelen, nơi cô giáo Hedwig, tức Lisa Walser, chị gái giám hộ, trung thành cho đến khi chết vào năm 1944, sống vật vờ. Sự nghiệp của Kaspar, họa sĩ, ngược lại quá mức khiêm nhường, nếu đem so với sự nổi tiếng của nguyên mẫu, Karl Walser, họa sĩ chuyên trang trí tại nhà hát Max Reinhard lúc đó đang hưởng vinh quang đầy đủ, họa sĩ và nhà minh họa được săn tìm, người tiếp đón Robert ở Berlin và đóng góp không ít vào việc lăng xê cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông bằng cách vẽ maquette.

Cái bóng tới từ giấc mơ và các truyện cổ tích chỉ bảo vệ độc một hình tượng, lúc nào cũng được tái sáng chế và không thể vét cạn: hình tượng bà chủ nhà. Người phụ nữ đằng sau cánh cửa, dame bảo trợ hay bà chủ, nhưng luôn luôn với "khuôn mặt tuyệt vời kia mà tôi yêu điên cuồng, khuôn mặt của đất mẹ cứ muốn tôi bị trừng trị". Tôi thấy dường như những trang cuối của cuốn sách, nhờ đó nó hẳn có thể "hoàn chỉnh" hơn so với có vẻ, mang lại về điều đó tất tật các ánh sáng cần thiết, kể cả những ánh sáng mà hẳn người ta vẫn còn cần nhằm hiểu gạch ngắn cuối cùng, rất kỳ quặc ở chỗ đó, và nó chỉ nói: còn nữa.

 

Robert Walser

Người phụ tá

Benjamenta

Nhật ký

Nhà văn

Berlin

Kleist ở Thun

 

Bình luận Paul Cézanne

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công