favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

Phần thứ hai - Chương II (III)

III

 

An ghé nhà; Người tớ gái mở cổng báo tin: Thưa cậu, bà đã về sáng nay; Bảo cô Nga, tối nay tôi ăn cơm nhà và nhảy xe điện xuống thẳng Đồng. Đứng bên cạnh người “vát-man” lầm lì, mắt hướng thẳng phía trước, chân đạp chuông liên hồi mỗi khúc quanh, bánh sắt nghiến rít, lá khô cuốn chạy sào xạc theo sức hút của tầu. An nhỡ một trạm đỗ và đến trạm cuối đường Thụy-khê phải đi bộ ngược lại, giữa một phố buôn bán thưa thớt như một thị trấn vắng. Cổng ngoài nhà Đồng mở. Đồng có vẻ yếu mệt trở lại, đang ngồi xệp trên hè nhìn hai con chó nô rỡn dưới sân. Tóc không chải rối loạn, mắt trương lồi, ướt, nhiều vân máu, da xanh mét, môi tái thiếu máu; nhưng nụ cười vẫn vỗ về ấm áp. Đồng hỏi: Đi đâu đấy? Sao không gặp ở trường? An cũng ngồi xệp xuống bên cạnh: Tưởng cậu ốm, tôi vừa gặp thằng Cảnh ngoài thư viện. Một con chó bỏ chạy lại ngửi chân An và giật lùi, trong khi con khác vẫn lăn lộn theo cắn cẳng nó. Đồng quát: Chỗ khác, chúng mày... Sao không rủ cả Cảnh xuống chơi. Mới đi được mấy hôm đã thấy mệt, không thấy hứng thú học. Đồng dẫn An ra vườn, đứng dưới một gốc nhân, hỏi: Thế nào? Có gì thay đổi? Có, có. An ngước nhìn khói bốc khét bên kia bờ tường, bay tản mạn trong các đám lá, người ta đốt những lá khô rụng trong vườn. Đồng nói: Hả, ông cụ lên rồi hả? An mỉm cười chua cay, ông có quyền làm như vậy, nhưng tôi phải gánh lấy trách nhiệm về hành động của ông... Chắc chắn là tôi phải từ chối làm đồng lõa ông. Đồng: Tôi nghĩ mình chẳng làm nên cái gì thì tự dằn vặt mình làm gì cho mệt. Đến đâu hay đấy. Cậu cứ nhân cơ hội này bảo ông cụ cho sang Tây học... lúc nào tình hình sáng sủa thì về cũng không muộn. Ở đây mãi cũng thế thôi. Hắn nói thực hay mỉa? Chúng nó ở lại chết dần mòn, vô nghĩa, còn mình... Mình cũng sẽ phải như chúng nó, nghĩa là chết dần mòn, không thể thoát thân lấy mình. An hỏi: “Thành thực cậu nghĩ như thế... cũng như thằng Cảnh. Tôi không thể tự giải thoát khỏi những mối liên hệ gia đình, giai cấp?” Đồng tụt một bàn chân ra khỏi guốc gác lên thân cây: “Không... tôi không đặt vấn đề theo lối ấy. Tôi cho không nên... không nên đặt vấn đề... Tại sao? Tại sao hả? Tôi nghĩ là các vấn đề đều được đặt và giải quyết bằng các ý niệm... ý niệm trừu tượng…” Đồng thun mũi tự chế riễu, ngắt ngang lời, sỏ chân vào guốc, phủi những con kiến đen bò nhanh trên tay áo. An ngắm kỹ Đồng hơn, đôi lông mày rậm sếch, hàm râu xanh lởm chởm ôm khuôn mặt vuông, có thể sẽ chết trước khi trở thành một thi sĩ. Những ý nghĩ, những con vi trùng, cuộc chiến tranh tàn phá, cái xã hội cạn nguồn sinh lực... bóp nghẹt dần nó, tất cả, cả một thế hệ...

— Chính chúng ta có thể gọi là một génération perdue. Phải không Đồng? Không tin tưởng, lạc lõng... Các bậc đàn anh, cha chú ở ngoài kia cũng như trong này đều chống lại chúng ta... Hay chúng ta chống lại họ cũng vậy. Thế hệ trước chúng ta họ có lịch sử và chúng ta thì không. Chỉ còn một thái độ hư vô. Nous sommes perdus...

Đồng lẩm bẩm nhắc lại câu của An... perdus và cười khí khí: Có thuốc không? Đồng hít hơi thuốc, vẻ say sưa ngon lành, đi khỏi gốc cây nhãn tiến tới phía bụi chuối và đu đủ sát chân tường, đứng tiểu tiện. Đồng hỏi: “Xuống bằng tàu điện hả?” An đuổi theo.

— … Như thằng Thạch đấy? Nó phiêu lưu... Tôi nhớ một lần nó có nói: nó đi lính là đánh giặc mướn, đánh giặc mướn ngay tại xứ sở của mình. Cũng như bọn Lê-dương vậy... Nó nói lâu rồi... Mình rồi có làm gì cũng đến như thế. Tiêu tan dưng không chẳng ra cái gì cả.

Đồng đi trở lại, ném mẩu thuốc xuống đất, lấy guốc đi: “Thôi cậu nói mãi cái chuyện ấy chán ghê. Cứ luẩn quẩn, loanh quanh...” An quên hẳn ý định thúc dục mình xuống gặp Đồng, ngừng nhìn trời đang đùn những đám mây khói. Phải, thôi đi, im lặng đi, nhắm mắt vào lao mình tới... Mẹ Đồng từ bên mảnh vườn trồng rau, tay xách những nắm cỏ mới nhổ đi sang; bà hỏi: Cậu nào đấy? và An đáp: Thưa con. Bà cười bảo: Cậu ở lại chơi ăn cơm với em nó. An từ chối, Đồng nháy mắt và dẫn An đi trở vào sân gạch, thủng thỉnh ra ngõ. Đồng nói: “Cậu viết đi?” Hỏi viết cái gì mới được. Viết không phải là một lối quên, viết là phải chạm trán rõ rệt hơn với cái thân phận của mình, viết để làm gì? Đồng bảo: “Viết chuyện tình chẳng hạn; tôi giúp cậu một đề tài: một thanh niên như bọn mình chẳng hạn, ban ngày hắn bận tâm thảo luận, lo lắng tìm kiếm lịch sử và đêm đến hắn giam mình trong phòng kín, trần truồng viết thư tình, toàn là thư tình không có đối tượng...” Đồng cười dài tiếp: “Morbide hả, cậu thấy thế nào?” An đáp: “Nó vẫn chỉ thấy nó, thấy nó một cách mù tối hơn và chắc chắn là nó thủ dâm”. Đồng vỗ mạnh vào vai An: Bon écrivain. Ngoài đường cái hai anh lính Tây đen chân dài lòng cong lưng cưỡi hai chiếc xe đạp lảo đảo đuổi nhau, la hét ầm ĩ. Đồng đứng lại bên đường sắt: “Cậu thử viết xem”. Chuyến tàu điện lên phố, chạy ngang và đỗ lại cách chỗ đứng vài chục thước. Không định trước An bắt tay Đồng bảo: Về đây và chạy đuổi theo tàu sửa soạn chuyển bánh. Nhà vẫn như chưa có ai về. Đi ngang buồng Nga, cửa mở nhưng không thấy người. An vào buồng riêng đóng chặt cửa, thay quần áo, lên giường nằm. Đầu óc trống rỗng, giấc ngủ vùi kín mít, thân xác bở rã như đất khô nắng. Lúc An tỉnh lại, mất phương hướng, không hiểu đang nằm chỗ nào. Buồng tối đen, cửa số không mở, An mò mẫm trong bóng tối, mở cửa kính và cửa chớp. Mưa bụi mơ hồ trên các lá cây trong vườn, ban-công nhà đối diện sáng đèn, buồng bên cạnh nghe tiếng dép của Nga. Nga đến cửa sổ buồng, ngó đầu nhìn sang hỏi: “Anh về bao giờ đấy? Em tưởng anh chưa về?” Rửa mặt mũi xong vào bàn ăn, An chỉ gặp Nga. Bà cụ đi với bạn, giải quyết mấy công việc cần, không ăn cơm nhà; sẽ dọn cả gia đình vào Sài-gòn trong vòng tháng này, Nga nói vậy. An nói: Thế hả? rồi cắm cúi và cơm. Trong ra-đi-ô, một nữ ca sĩ đang nức nở rên rỉ, Nga buông bát định đứng dậy tắt máy. An nói: “Để nghe mày”. Nga cau mày: “Em không hiểu tại sao anh lại nghe được loại nhạc lải nhải này”. An bảo: “Bình dân mà... Tao mơ mộng một cách bình dân thế thôi”. Khi ăn tráng miệng, Nga hỏi: “Vào Sài-gòn, anh nghĩ thế nào?” An ngồi thoải mái trong ghế dựa, nhấm nháp tách cà-phê đậm hỏi lại: “Cô nói trước nghe thử xem”. Nga lộ vẻ đăm chiêu, ngừng tay xỉa răng: “Ха Hà-nội buồn; nghe nói Sài-gòn ổn và hỗn tạp lắm”. Có lẽ nó bỏ lại Hà-nội một anh chàng thất tình nào? Nó yêu ai? Có thể là một đứa mình vẫn gặp ở trường Đại-học mà không biết, một anh bác sĩ tương lai, nối nghiệp bố vợ, một anh bộ trưởng tương lai... Và nó trở thành một bà mẹ thứ hai khuôn đúc. “Chắc anh thích vào Sài-gòn đổi không khí?” An lắc đầu hỏi lại: Nhất định rồi. Nga đáp: “Mợ nói thu xếp xong việc có thể đi sớm hơn; em nghe nói có thể anh vào trong ấy trước... cậu gọi”. Lúc này là lúc quyết định, không thì sẽ không bao giờ, tôi phải quyết định. Phải tách rời khỏi cái quá khứ đã tạo thành mình. Tôi sống một cuộc đời khác do tôi lựa chọn và tạo lập. Tôi sẽ trở nên? An trở lên buồng, dặn Nga: “Tao mệt đi ngủ sớm đây…” Nga nhìn bằng con mắt khác lạ như muốn soi thấu tâm trạng.

An mở tung các cánh cửa tủ quần áo và đựng sách để nguyên, đến ngồi trước bàn viết, suy nghĩ không biết nên mang theo thức gì. Mọi thứ đều như cần thiết, quen thuộc không thể thiếu, quá khứ thật là nặng. An rút trong ngăn bàn tập sổ ghi chép những ý nghĩ bừa bãi, những thắc mắc loanh quanh, những nhận xét đột ngột không ngày tháng rõ rệt đã bỏ quên hẳn lâu ngày không thể hình dung lại được tâm trạng của thời khắc đã chôn vùi. Tiếng kèn xe hơi gọi ngoài cổng. An vội tắt đèn, ngồi trong bóng tối lắng nghe tiếng chân chạy vội trên lối sỏi, cánh cửa sắt được kéo mạnh, giọng nói thanh tao đài các của mẹ hỏi chuyện người nhà. Giọng nói ấy vang âm dưới phòng khách lẫn với giọng của Nga ấm và trầm hơn một cấp, tên An được nhắc đến. Rồi một ngày sẽ tới, cái tên ấy sẽ thưa được nhắc đến ở đây... Trong ánh sáng mập mờ của ngọn điện ngoài hè phố xuyên qua các lùm cây trong vườn, An xếp một vài món đồ cần thiết nhất, ba bộ quần áo vào một sắc tay du lịch. Không đem theo một quyển sách nào, không phải là ngày nghỉ về quê hay ra biển tắm... Những quyển sách như môi giới của thế giới khác, trở nên vô dụng, chính tôi tôi đi đến những thế giới ấy và có thể tôi sẽ tạo nên những quyển sách của tôi. An thức rất khuya, nghe im lặng của phố phường lùa lên theo những cơn gió, mệt bã người, nỗi nhọc mệt cắn rứt lại như môi nhớ nhung kêu gọi một thân thể khác ôm ấp vỗ về mơi yêu. An tưởng đến Phúc, những cử động nghèo nàn trần trụi không thoát khỏi thói quen khêu gợi dục tình và sự kinh tởm. Qua cửa số An nhìn thành phố câm nín trong giờ giới nghiêm, hiện lên trong ánh đèn vàng những bóng cây lớn sù sì, mái nhà lô xô, mặt đường lá lăn chạy nghe tiếng ẩm ì của nhà máy đèn vọng tới. An chợt vểnh tai chú ý tới tiếng sầm sì trong buồng Nga, đèn tắt tối om, tưởng như tiếng người trò chuyện. Một lát nghe rõ hơn chỉ là giọng của một người nho nhỏ đều đặn như đang cầu kinh. An ngạc nhiên, đứng lặng trong tối, tĩnh trí, đúng là Nga đang đọc kinh; mi mắt nặng chĩu, tay chân không muốn cất nhắc nhưng thân trí tưởng như tỉnh táo lắm, Nga đang đọc kinh, nó yêu một đứa theo đạo, nó buồn, sợ... An ngủ đứng một chỗ, không biết là bao lâu, và khi giật mình thì phòng bên cũng đã im tiếng. An chập choạng nửa thức nửa ngủ vào giường, vùi mình vào trong chăn, tự nhủ: Mai, mai đi. Cần một món tiền. An dậy muộn và khi đi qua phòng khách, chỉ gặp Nga đang ngồi tiếp Hán, thư ký riêng của ông bố. Hán đã bỏ đôi dép cao su ngày mới hồi cư, bộ quần áo tây vàng xin được của lính ngày ra khỏi camp Máy Chai Hải phòng, được thay bằng bộ complet màu sáng, đầu tóc ngắn bờm xờm đã cắt tỉa thành một mái chải gọn như cái chứng tích cuối cùng cố ý lưu lại cho mọi người thấy hắn là một cựu cán bộ kháng chiến về thành. Không hiểu ai giới thiệu Hán với ông bố, ít lâu sau khi nghe hắn nói chuyện tại nhà Hát lớn với tư cách một cán bộ kháng chiến phản tỉnh trở về, An gặp hắn đến nhà bàn luận với ông bố và được coi như người thân trong gia đình. Hán gọi ông bố và bà mẹ An bằng anh chị và được gọi lại bằng chú. Hán bắt tay An siết mạnh mời: “Anh ngồi chơi”, giọng Nghệ-tĩnh nặng nề chối tai, Đồng đã phê bình: Nghe cái giọng xứ Nghệ cứ lạnh cả xương sống, chỉ thấy những sắt với máu. An ngồi xuống nhìn Nga, nghĩ tới tiếng đọc kinh nửa đêm và nghi hoặc không rõ mình có thể là nằm mê không. Hán nói ông cụ dặn hắn ra mời An vào Sài-gòn như một người cộng tác. Nga xen lời: “Cậu cũng gửi tiền bảo anh đi kiếm mua hộ một ít sách cần dùng mang theo vào”, trao cho An một cái phong bì lớn dán kín, Hán nói tiếp: “Trong ấy có cả tiền vé máy bay của riêng anh. Ông cụ nhờ tôi nói cẩn thận với anh là không phải vì bố con mà nhờ anh. Ông cụ hiểu giá trị của anh. Dù có bất đồng ý kiến chăng nữa, ông cụ vẫn tin là anh sẽ làm được việc. Đây là dịp để anh làm việc, ít nhất cũng có hiểu biết thực tế. Ông cụ định mời anh làm Tham chánh văn phòng...” An mân mê chiếc phong bì trong tay, hỏi Nga: Mợ đâu? Hán thuyết về sự tiêu cực trùm chăn của các trí thức trong thành không dám dứt khoát lập trường tư tưởng. “Tôi cũng thấy như anh và nhiều lần tôi cũng đã bàn với ông cụ. Đồng ý là thối nát, là không có quyền chủ động nhưng nếu cứ thụ động thì biết đến đời nào mình thay đổi được tình thế. Chỉ còn có nước đợi Cộng-sản về và đi công trường hết cả. Anh thấy không? Mình phải lăn vào, làm cái gì để thức tỉnh người khác chứ. Tôi đã sống với Cộng-sản, tôi không thể khoanh tay mà nhìn chúng nuốt nốt cái vùng chúng ta có thể cướp làm của chúng ta”. An mỉm cười làm bộ chăm chú lắng nghe, thái độ nhiệt thành hăng say của Hán chỉ làm mình thêm chán nản. Hán tả Sài-gòn một cách mâu thuẫn, lúc hắn thích thú vẻ nhộn nhịp tưng bừng sinh khí cởi mở không gò bó như Hà-nội lúc hắn bất mãn hằn học về cái xã hội trụy lạc ngoảnh mặt với chiến tranh và lý tưởng. Nga xem chừng cũng sốt ruột nhấp nhổm, chắc nó có hẹn. An ậm ừ cho qua câu chuyện: “Tôi đâu đã già để chùm trăn, ông cụ không muốn cho tôi đi Pháp nữa à?” Hán đáp: “Ông cụ nghĩ rằng anh không thích đi, anh muốn làm việc... Để anh làm ít lâu rồi trở về học cũng không muộn”. An tự hỏi: cái gì đã cố kết Hán và ông cụ? Lý tưởng chăng? Hán là cái mẫu người của một chế độ, orgueilleux et prétentieux, hắn muốn biến mọi người trở nên giống như hắn để chống lại cái chế độ đã tác thành hắn. An đứng lên: “Ngồi chờ bà cụ tôi hả? Tôi xin lỗi đi chút việc riêng”. Hán đi theo ra tới ngoài hành lang phòng khách: “Đây là cơ hội tốt cho chúng ta…” Chúng ta, tôi ở trong cái chúng ta ấy ư? Không đời nào, An bỏ đi thẳng. Bước xuống xích-lô, An tần ngần trước cổng tò vò dẫn vào khoảng sân rộng yên tĩnh một cách đáng ngại. Từ giờ phút này, tôi phải làm chủ, chủ hết thảy: đời tôi, đời Phúc và đứa con của Phúc. Phúc đang ngồi chơi với con ngoài bàn, da mặt hồng hào mạnh khỏe, nụ cười tự nhiên như đã quên hết quá khứ. “Lân lại vừa đến đây, em không tiếp. Em nhất định đuổi, cãi nhau với bà cụ...” An đóng cửa buồng, ngồi xuống ghế: “Thế hả? Tốt lắm”. Rồi An ngồi im, nhìn bức ảnh Đức Mẹ đặt trên đầu tủ nhỏ. Đứa con quờ quạng nhoài sang tay ghế An ngồi, Phúc đẩy nó sang. An bồng lấy, vừa khó chịu vừa buồn cười, cúi xuống nhìn thằng nhỏ. Không có một mối liên lạc nào, trừ mối tự mình ràng buộc lấy nó, lớn lên nó phải nhận. Tội nghiệp. Nét mặt Phúc hân hoan sung sướng rõ ràng, An mỉm cười. An trao trả con cho Phúc: “Em phải đi tìm nhà khác... Bà cụ có thể ở lại đây. Bà ấy có thể sống một mình không cần đến em”. Phúc cúi đầu suy nghĩ. Em, em cũng phải lựa chọn và hy sinh như anh vậy. Biết không? Chỉ có như thế, mới có thể... “Anh muốn như thế. Em phải dứt khoát...” Phúc thở dài, nàng ôm sát đứa con vào trong ngực. “Còn con?” “Anh là cha của nó”.

Thêm vào giỏ hàng thành công