favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

XXXIII

XXXIII

Vào khoảng cuối mùa đông năm trước, trong nhà hát ả đào ngoại ô, Bạch gặp lại một người bạn học cũ hiện giờ mở hiệu ảnh ở một tỉnh phía bắc Trung Kỳ. Người ta cũng nhắc đến tên thầy học cũ và hỏi thăm nhau về thân thế một vài người bạn đồng song. Thì ra trong cuộc sống của mỗi người, vẫn chỉ là rặt bất đắc chí là bất đắc chí. Rượu giở về sáng, người bạn ấy mới kể lại rằng:

- Tôi đi Hà Nội thế này có phải là đi chơi không đâu. Lo làm ăn tối mắt tối mũi lại, công việc có đáng phải đi thì mới đi chứ, ai mà ngao du sơn thuỷ như anh được. Chẳng giấu gì anh tôi ra chuyến này là lấy thêm giấy ảnh và kính ảnh để ngày mai về, theo ông Tây Cờ Lốt lên làng Xuân Phả chụp những tích múa thờ thần của dân làng này. Ông ta bắt chụp rất nhiều, mỗi điệu múa chụp riêng một kính và sau bắt phóng đại ra theo khổ mười tám hăm bốn. Mẻ ảnh này mà làm xong, trừ tiền giấy kính và xe pháo đi về làng sở tại rồi, cũng còn lại hơn trăm bạc anh ạ. Ông ta đã đặt trước năm trăm bạc rồi.

- Hình như ban nãy anh có nói chuyện ông Cờ Lốt định mang bọn người làng Xuân Phả qua Mỹ dự kỳ đấu xảo San Francisco 1939?

- Phải. Ông ta đem cái tuồng Xuân Phả này đi, cốt để bày trò lạ cho người Mỹ xem. Người Mỹ có tính hiếu kỳ thấy nó vui mắt, sẽ tha hồ mà quẳng tiền mua vé xem.

- Thế ông ta mộ người như thế nào?

- Nguyên làng Xuân Phả có năm tích tuồng thờ thần vừa múa vừa hát, mỗi năm múa ở đình làng một lần, lúc múa có đeo mặt nạ. Nó cũng chẳng lấy gì làm ngoạn mục, nhưng trông thì cũng ngộ, có lẽ không chỗ nào múa hát giống như cái lối ấy. Ông Cờ Lốt vốn chú ý đến những việc tuồng kịch và ca vũ của xứ mình, nay thấy một điều kỳ dị như thế, ông muốn đem sang kỳ đấu xảo San Francisco, phụ nó vào những món hóa phẩm bày ở gian Đông Dương, để lấy ít tiền của người Mỹ. Chính vì thế mà ông cậy tôi chụp ít ảnh làm tài liệu trình với Chính phủ bản xứ và với Hội Đồng tổ chức đấu xảo Mỹ. Việc làm cẩn thận lắm anh ạ. Mỗi người làng Xuân Phả mộ đi, đều có giấy hợp đồng ký kết làm ra ba bản, ba thứ chữ Ăng Lê, Pháp, Quốc ngữ gửi về phòng Lao Động Trung Kỳ ở tòa Khâm Huế. Hợp đồng hạn mười tháng, mỗi ngày, tiền lương mỗi người ăn sáu đồng bạc Mỹ. Đau ốm đã có đốc-tờ. Lúc đi và lúc về đều có ghé Nhật Bản.

- Vui đấy nhỉ. Thế anh có biết bao giờ họ đi không?

- Đáng lẽ thì đến hạ tuần tháng chạp này là bọn Xuân Phả đều phải khởi hành vào Sài Gòn, rồi đáp qua Hương Cảng, chuyển sang tầu đi Mỹ. Nhưng dân làng kêu với ông Tây rằng chẳng còn mấy hôm nữa là năm hết, họ xin lùi đăng trình lại cho họ được ăn cái tết Nguyên Đán năm nay ở nhà đã. Ông Cờ Lốt cũng hiểu người mình nặng lòng với quê hương vào những ngày tết nhất, cũng phải cười và chiều lòng họ, lùi việc khởi hành đó ra ngoài ngày khai hạ.

- Cái tích tuồng Xuân Phả, họ múa may và trò bè làm như thế nào?

Úi già chán mờ đời. Cứ con mắt mình thì không tài nào mà ưa được. Ấy thế nhưng mà đưa sang Mỹ mà lại “ăn” kia đấy nhá. Kết quả cuộc trưng bày tuồng Xuân Phả ở ngoại quốc ra sao mình chưa biết, nhưng hiện giờ ở làng Xuân Phả, nhiều bác nông phu suốt ngày chỉ bàn tán về chuyện bên Mỹ. Họ nhao nhao lên như đứa trẻ được manh áo mới. Lắm lúc họ lại ví cuộc đi này như là đi phu “Tân Thế Giới” hoặc là đi lính mộ? Nhưng mà lại được lĩnh những sáu đồng bạc Mỹ tiền ăn, tiền đi về có người chịu, ốm đau có người nuôi, gì mà chẳng đi. Chỉ có việc lúc nào người ta ra hiệu là nhảy múa tíu tít lên một lúc trong khu trường đấu xảo, diễn lại cái trò múa hàng năm ở đình làng mình, thực chẳng có gì là khó nhọc.

- Giá mình nhập được vào cái bọn ấy mà đi một chuyến thì cũng dễ chịu đấy nhỉ.

- Tôi cũng nghĩ thế. Giá tôi không vướng cái cửa hiệu và lũ trẻ thì tôi cũng đút lót cho một tên người làng Xuân Phả để nó nhường cái chân nó cho mình. Mình được đi, có lẽ còn thú vị và bổ ích hơn. Các bố nhà quê ấy mà lại đi sang Mỹ thì khác gì xẩm lạc vào rừng hoang.

- Người ta chỉ lấy toàn người làng sở tại thôi thì chen vào thế nào được. Gia dĩ lại còn phải biết tích tuồng làng, biết múa và thuộc bản hát.

- Anh Bạch nói chuyện lẩm cẩm quá đàn bà. Không hiểu trước kia anh phiêu lưu bốn bể, anh phải luôn luôn mang trí khôn ra mà đối chọi với thiên hạ thì anh tính toán mỗi việc như sao, chứ thực ra hồi gần đây tôi thấy người anh mụ đi nhiều lắm. Nếu đã có bụng đi làm tuồng Xuân Phả sang Mỹ một chuyến, dễ thường anh không còn biết tìm được cách nào. Tôi không định đi, chứ nếu mà muốn thì một chân chứ có ba bốn chân cũng cứ đánh lộn sòng được.

Bạch nằm lim dim mắt trong nhà hát đã lạnh tiếng cười, tiếng đàn, lạnh cả đến một cái tàn đèn đầu lạc. Chàng vắt tay lên trán, đầu óc đang phác họa một chương trình giang hồ bỏ lại Dung. Hình ảnh Dung chợt hiện ra nhưng lại nhoè tan ngay và không đủ để cắt quãng cái tư tưởng giang hồ của Bạch kết tụ trên cái ý định gia nhập vào một bọn làm tuồng cổ để qua Mỹ. Bạch lại tính trước đến cả cái nước qua đến San Francisco rồi, xong hết thời kỳ đấu xảo chàng sẽ tìm cách huỷ bỏ hợp đồng hoặc làm thế nào mà rút được tên ra khỏi giao kèo, ở lì lại luôn bên kia biển Thái Bình Dương. Có thế thì mới bỏ cái công. Chứ đi để rồi sau mười tháng lại lộn về như một anh khách du lịch cốt đi để xem phong cảnh một vùng cho con mắt đỡ thèm thuồng, rồi lại xách khăn gói trở về cố hương thì chán lắm. Chuyến này mà lên đường thì thôi chứ ai còn mong về nữa. Con hạc vàng... một bay... làm gì còn có chuyện lộn lại.

Cách một ngày hôm sau, Bạch đã tót vào Thanh, đáp chuyến ô tô hàng lên ngay Phủ Thọ Xuân. Nhớ nhời anh bạn chụp ảnh chỉ vẽ đường đất cho. Bạch đi ngược theo con đê độ hai cây số, rẽ xuống và gõ đúng cửa nhà ông lý làng Xuân Phả.

Bạch ướm chuyện, mới gợi đến việc tuồng hát Xuân Phả có mấy câu thôi ông lý đã nhanh nhẩu mời chàng ra đình xem.

- Cũng là một điều may cho quý khách. Xin mời ngài ra chơi luôn ngoài đình làng với chúng tôi. Hiện dân làng tôi đang tập múa, ôn lại tích tuồng ở ngoài đình. Chỉ có ngày tế thần, thì mới múa; một năm một lần. Nay ông Tây định đưa dân qua Mỹ, quan phủ cũng có hiểu dụ cho đồng dân biết đó là một mối lợi, nên các cố lão, hương chức và trưởng tộc và tôi cũng đều thỏa thuận để dân đi một chuyến và hiện mấy bữa nay tập tành luôn luôn. Cũng kíp ngày lắm rồi. Thỉnh thoảng ông Tây lại cho người đến chụp ảnh. Ông ta đã đưa cho đồng dân tôi trăm bạc để sắm quần áo mới và mặt nạ mới. Hôm nay ngài ra xem, quần áo mũ mới cả. Đẹp lắm. Thửa tận ngoài Nam vào kia đấy.

Bạch chêm vào một câu làm quà:

- Thế cái duyên nợ làng ta với ông Tây Cờ Lốt như thế nào mà lại thành ra có cuộc đi sang Tân Mỹ múa tuồng?

- Ấy, cũng do cái hội khánh thành đường hỏa xa Đông Dương mở tại Sài Goòng năm 1937 đấy chứ. Hồi đó các nơi có phong tục trò bè gì lạ thì đem vào diễn ở Sài Goòng góp vui vào ngày hội Thiết Lộ. Các quan địa phương ở đây có cử dân làng tôi vào Nam Kỳ và do đó mới gặp ông Cờ Lốt. Chuyến này đi Mỹ ông còn mang theo cả mấy chục cô gái Thái ở các châu đi nữa.

Giữa sân đình, một bọn trai tráng đang làm tuồng, quần áo lôi thôi, giọng hát ề à, vẽ mặt, đội mũ cầm bơi chèo và có người lại sắm giả vai nữ nữa. Tính cả người đánh trống mõ cẩm nhịp cho điệu ca vũ, cả đàn bà là hai mươi hai người. Hai mươi hai con người Việt Nam lèm nhèm như thế mà qua nước Hiệp Chủng Quốc bôi râu vẽ hề thì có khổ người ta không hở giời! Bạch không đi sâu vào cái ý nghĩ lố bịch ấy; chàng đang chăm chú nhìn một bác nhiêu đánh chiếc mõ gỗ rời rạc, phụ họa với dịp trống tiếng một.

Bạch thấy điệu múa, tuy thế mà cũng phải tập tành trong ít lâu thì mới thành thuộc được. Chàng ngắm kỹ, thấy chỉ có cái công việc anh gõ mõ kia là dễ thôi. Cái điệu gõ mõ dịp một, dịp đôi thế kia thì ai mà chẳng gõ được. Chàng nhất quyết nếu có nhập vào đoàn tuồng Xuân Phả đi Mỹ thì chàng nhận làm cái chân gõ mõ ấy. Chàng sẽ ngồi gõ mõ giữa trường đấu xảo San Francisco! Trước kia chàng đã từng cầm chuôi xoong bưng cà phê, đánh giầy hầu khách của các hàng hải luân thuyền; mai kia chàng sẽ gõ mõ cẩm nhịp cho phường tuồng Việt Nam ở giữa chợ xứ Hoa Kỳ, kì thú thay cái đời giang hồ!

Buổi tối hôm ấy, ngồi giữa nhà ông lý làng Xuân Phả, Bạch nói như một người diễn thuyết ở đám đông. Để sửa một cái lễ tương kiến với dân làng, Bạch đã đưa tiền rất hậu nhờ ông lý cho người nhà ra chợ phủ từ lúc chiều mua mấy cái sỏ lợn và đồ cho mấy mâm xôi, và nhờ ông lý mời hộ các cụ đến và thứ nhất là những bác nhiêu có chân trong đoàn múa tuồng để chàng được hầu chuyện phải trái với toàn dân. Ông lý là người đã “từng đi thấu đến nước Sài Goòng từ năm kia” lại là người đạt lý, thấy Bạch muốn xin một chân đi làm tuồng và bày ra những lẽ hơn thiệt nghe thông lắm, ông cũng thuận và vui lòng triệu tập dân đến nhà ông để xem làng định như thế nào. Một mình ông, ông không có quyền.

Bục bên kia là bọn trai làng sắp đi Mỹ.

Bục bên này là hương chức.

Phản giữa là ông lý và các cố lão. Lấy tư cách mình là khách phương xa đến và là người chủ cuộc hội họp này, chàng ngồi ở phản giữa. Người ta cũng lặng lẽ đánh ngã dăm ba chai rượu ty. Bấy giờ Bạch mới để đũa xuống, cất tiếng nói dõng dạc:

- Thưa với làng, chúng tôi là người phương xa đến đây lần thứ nhất, được có đủ các cụ, các bực hương chức trong làng và các anh em quá thương, quá tin yêu mà chiếu cố cho như thế này thực là quý hóa không biết thế nào mà kể. Sở dĩ có cuộc hội họp này, là để chúng tôi muốn được trình vài điều ích lợi với đồng dân về việc làng ta sắp cử người đi múa tuồng Xuân Phả ở hội đấu xảo Mỹ. Chúng tôi đã trình qua với ông lý Bá làng ta rồi, nhưng còn phải trình lại với đồng dân nữa thì mới đủ lẽ. Việc nên hay không nên còn tuỳ ở làng định cho.

Ông lý vừa thở xong khói điếu thuốc lào, đỡ lời Bạch:

- Ông khách đây tôi mới được tiếp hồi trưa và chắc anh em đã được gặp ông lúc tôi đưa ông ra đình xem làng tập múa. Tuy ông không là người đồng hương đồng tỉnh nhưng cứ thẻ và căn cước ông đưa tôi xem, thì ông là một người lương thiện. Nhân thấy dân làng sắp đi ngoại quốc, ông có tìm đến tôi nói chuyện và muốn được gia nhập vào dân làng, xin một chân làm tuồng. Cứ lời ông nói thì nếu dân làng thuận để ông đi kèm với, lúc ra ngoài ông cam đoan sẽ giúp đỡ cho được nhiều việc. Lẽ thứ nhất là ông thông thuộc phong tục người Mỹ, dân làng được có ông làm hướng dẫn lúc ở đồng đất nước người, mình sẽ khỏi bị bắt quých và những lúc mua bán hoặc xem phố phường khỏi bỡ ngỡ. Lẽ thứ nhì ông nói được và nghe được tiếng ngoại quốc, ông sẽ làm thông ngôn cho cả đoàn, và những lúc có việc lôi thôi, ông biết đường lối bênh vực quyền lợi cho anh em. Nam quốc Nam nhân nếu làng thuận nhận ông đi cho một chân tưởng cũng là hay lắm. Ấy tôi từ hôm đứng làm trung gian giữa anh em đây và ông Tây Cờ Lốt và nhận nhời trước mặt quan phủ, tôi cũng lấy làm áy náy về chỗ dân làng ta xưa nay chỉ quen việc cày cấy giống giọt nơi thôn quê, nay nhất đán vượt bể sang tận nước Mỹ, lượt đi lượt về mỗi lần mất hàng tháng, những lúc ngôn ngữ bất đồng, lạ thung lạ thổ, đường sá cách bể cách giang chứ nào phải đâu thông đồng bén giọt, ấy phỏng thử như thế mà xảy ra chuyện không may thì làm thế nào? Thật là Thành Hoàng Thổ Địa làng ta linh thiêng lắm mới run rủi ông khách tìm đến đây với đồng dân, giải quyết hộ tôi mỗi băn khoăn đó. Vậy, trên có các cụ, dưới có anh em, tôi đã trình bày mọi lẽ, còn dân làng có thuận hay không, cứ nghĩ thế nào thì nói thẳng ra để khỏi phụ đến người hảo tâm ở phương xa tìm đến mình.

Theo cái lối họp làng bàn chuyện, lúc đã nói thì tất cả đều nhao nhao lên và lúc đã ngồi yên thì tất cả đều nín thít. Cả ba bàn rượu, hình như không nghe nhời ông lý nói, đều lừng khừng kẻ hút thuốc, người véo xôi, xoa kẽ chân hoặc nhìn mãi lên rui kèo trần nhà. Một cố nhìn tận mặt Bạch như là định xem tướng. Vị bô lão suy nghĩ về việc ông khách lạ và không khỏi ngờ đấy là một dị nhân. Ông cụ nhìn chán chê, rồi mới vuốt râu hỏi Bạch:

- Lão dám hỏi ông khách một câu. Ông khách có thể nói cho lão biết vì lẽ gì ông khách định đi ngoại quốc mà lại mày mò vào tận đây để cùng đi với dân làng.

Bạch lễ phép:

- Có lẽ cụ ngờ chúng tôi là một người có lý lịch không tốt và định dựa vào dân làng đi múa tuồng để làm điều phi pháp chăng? Thưa cụ, chúng tôi đã có trình với ông lý đủ cả giấy má hình thẻ.

Bạch vừa cười xòa vừa ứng biến bằng một câu nói dối vừa nghĩ ra vì sự thực chàng cũng thấy lúng túng trước câu hỏi rất có lý của ông cố.

- Chẳng nói giấu gì cụ, chúng tôi là một người buôn bán hàng ren, muốn qua Mỹ một chuyến khảo sát xem ở bên ấy họ ưa những kiểu mẫu đan dệt nào. Cứ kể ra, viết thư gửi mẫu hàng sang cũng được. Nhưng giao dịch thế, đâu có bằng được hai mặt một nhời, mình trực tiếp với họ, ăn giá hàng, vẽ mẫu hàng đặt xong xuôi đâu đấy rồi, lúc về chỉ có lập công ty, gọi thợ làm, rồi gửi hàng qua cho họ theo lối lĩnh hóa giao ngân. Vì chúng tôi muốn đỡ tốn phí, nên mới xin lập vào với dân làng và đi đông như thế, nó có vui hơn. Cụ tính con nhà buôn bán, đi ra ngoài làm ăn xa, cần kiệm được chút nào hay chút ấy.

Các cụ xem chừng bằng lòng câu Bạch trần tình và cười khà, lại uống.

Một người vẻ mặt gân guốc, ngồi ở cái bục dành riêng cho đoàn múa tuổng Xuân Phả, nhổm đít lên hỏi sang phản giữa:

- Tính đến cái lợi của ông, thế còn tụi tôi ra chịu thiệt sao? Ông lý nói ông xin đi là có ích lợi cho dân làng và bênh vực cho dân làng ở chỗ đồng đất nước người. Lợi chưa biết đâu nhưng nếu bây giờ hàng dân thuận để cho ông gia nhập vào bọn tôi, thì anh em tôi, sẽ có người bị thiệt thòi. À thế này nhá. Ông Tây chỉ định lấy có hai mươi hai người cả người múa người hát, người đánh trống gõ mõ. Muốn thông ngôn, thư ký hoặc bầu lấy chánh phó, trưởng đoàn gì, ông Tây không biết, ông biết là hai mươi hai cái đầu người thôi. Nay có ông khách vào một chân thì phải xếp bớt lại một người làng. Ai là người đó? Ông lý có tư tình với ông khách như thế, dĩ công vì tư, như thế đồng dân chúng tôi không phục. Không được, không được.

Nhiều người từ nãy giờ không nói gì, giờ cũng nóng mặt hoa chân múa tay, dấm dẫn phụ họa vào.

Sau một hồi nhốn nháo như sắp đánh nhau, kéo bè đảng đến nơi, Bạch mới nói tiếp được:

- Xin làng bình tĩnh lại một chút để cho tôi xin nói nốt. Chúng tôi đã thưa chuyện xong đâu...

Ông lý cũng nói thêm vào:

- Xin đồng dân nghe ông khách. Ông đã nói hết đâu.

- Chúng tôi cũng đã nghĩ đến điều đó rồi. Là nếu trong số dân làng ta dự định đi múa tuồng, vị nào định nhường chân cho tôi, chúng tôi xin đưa riêng một số tiền là bao nhiêu đó. Và trước hôm đi, tôi xin có mặt ở đây để cùng đi với anh em, và bàn định công chuyện. Mọi việc ở dọc đường xin dân cứ tin vào sự linh lợi và sốt sắng của tôi. Trước ngày khởi hành xuống tỉnh đáp tầu tốc hành vào Sài Goòng một hôm, tôi xin biện một cái lễ đem ra đình, trước là tạ đức Thánh Hoàng làng ta, mong ngài phù hộ độ trì cho cả dân làng ta và cả tôi nữa, được bình an vô sự những khi sông nước đò giang và sau là làm duyên với làng ta đây. Tôi định hôm đó sửa lễ một con lợn và cậy ông Bá đỡ cho một tay về việc hương đăng trầu rượu.

Các cụ gật gù nói khẽ với nhau:

- Ông khách đây người tỉnh thành, ăn vận tây, thật bọn ta không ngờ ông ta xử sự chu đáo và cũng còn biết đến những chuyện cúng bái thần thánh và hiểu đến tục lệ hương thôn. Ra ông ta cũng chưa đến nỗi quá văn minh theo lối tỉnh thành.

Và các cụ nhìn vào ông lý và nói to:

- Lời lẽ ông khách đến thế là trung hậu lắm rồi. Các cố lão bọn tôi, các vị hương chức và đồng dân cũng không ai là không thuận. Vậy ông lý cũng nên áp triện nhận cho ông khách sớm đi là hơn.

Nhưng mà ở cái bục dành riêng cho bọn làm tuồng Xuân Phả, cái người mặt gân guốc ban nãy lại nhổm lên nữa và nói như cãi nhau với ai:

- Thong thả đã, xin ông lý thong thả hãy áp đồng triện để anh em chúng tôi vấn lại ông khách xem ông ta định mua cái chân nhường đó bằng cái giá tiền là bao nhiêu. Xin các cụ bề trên biết cho rằng ở nhà quê bây giờ có cao lắm chúng tôi cũng chỉ được có hai hào rưỡi một ngày làm mướn. Nay được dịp tốt theo ông Tây qua Mỹ, mỗi ngày được những sáu đồng. Và lại ăn no rồi múa hát, cơm nhà chúa tha hồ múa tối ngày. Anh em nay phải nhường cho ông khách một cái may mắn như thế, ông định trả là bao để bù lại sự thiệt thòi? Xin cho biết và cứ nói thẳng ra chỗ đồng dân này, rồi ai thuận nhường chân cho ông thì nhường. Riêng về phần tôi, sao tôi cũng đi. Đi một chuyến cho biết đó biết đây, và chuyến này mà chúng ông đi Hoa Kỳ về đứa nào ở làng này còn giở lối hà hiếp chúng ông, tranh chỗ ngồi ngoài đình với chúng ông, ông đánh tan xương cho mà xem.

Hò hét xong anh ta quẳng luôn một cái bát đèn ra ngoài sân, vỡ tan. Các cụ bàn giữa biến sắc mặt, mắng:

- Anh nhiêu không được hỗn. Đừng có mượn chén mà nói láo ở đây.

Thế là anh nhiêu bưng mặt khóc hu hu kêu ẩm lên “lạy các cụ con khổ lắm”.

Cuộc rượu nhũng nhiễu ồn ào đã bãi, Bạch và ông lý đã thỏa thuận với nhau về mọi điều và cái anh đánh mõ trong bọn tuồng Xuân Phả đã nhường chân mình cho Bạch. Tiền, Bạch hãy đưa một phần, còn thì hôm nào lĩnh tiền vay trước của ông Cờ Lốt chàng sẽ đưa nốt cho y.

Việc đến thế, tưởng là xong, Bạch có thể trở về Hà Nội - cốt để sống liền liền bên Dung lấy độ ít ngày cho thật đầy đủ. Trước khi lên đường để đi gõ mõ cho một bọn làm tuồng xứ quê qua Mỹ và rồi để đi mất không bao giờ trở lại Bạch tin chắc như thế, chàng muốn để lại một cái kỷ niệm tốt cho người vợ tội nghiệp của mình. Từ cái phút đi Xuân Phả về cho đến lúc xuống tàu với ông bầu Cờ Lốt, Bạch muốn tìm hết cách chiều chuộng để làm cho ấm lòng Dung. Ngày mai ngày mốt, lòng Dung sẽ lạnh, rồi sẽ phải lạnh.

Bạch cũng thừa biết những cảm tình dịu dàng sắp đem ra đãi Dung, dẫu sao cũng chỉ giống như cốc rượu mía mạnh đưa cho tử tù, trước cái lúc vĩnh biệt trên đoạn đầu đài. Nhưng đã biết không thể gần nhau suốt đời để mà cùng bạc bốn mái tóc, thì sao lúc này còn làm được một điều hợp với thiên lý nhân lý, Bạch lại chẳng cố mà để lại cho Dung dấu vết một cử chỉ đẹp đẽ, trước ngày đoạn tuyệt nhau trong không gian.

Vào những ngày thường, Bạch thù oán Dung, vừa thù oán, vừa hiểu rõ những ý nghĩ ấy là điều bất công. Phút này, nằm ở làng Xuân Phả với cái giấy nhận thực có dấu lý trưởng sở tại, Bạch thấy ngậm ngùi thương vợ. Chàng mà xách cái va-li lên đường với bọn dân làng này thì là tự nhiên, bỗng không, mà Dung hóa ra người vị vong.

*

*          *

Từ giã ông lý Xuân Phả về Bắc, Bạch có cảm tưởng là chuyến này mình trở về Hà Nội để tế sống một người quả phụ ở ngay giữa nhà mình. Và rồi chàng sẽ tha lê cái tâm tang ấy qua Cựu Kim Sơn cùng với một tấm hình hài từ nay chỉ còn có nghĩa lý trong sự đổi dời.

Bạch cầm tay ông lý Xuân Phả, dặn dò những điều cuối cùng, trao cho ông một lá thiếp có chứa địa chỉ của mình, và bảo ông lý nên đánh dây thép nếu có việc gì gấp xảy thêm đến. Bỗng có một người, bộ dạng giống một anh nho hay thì thụt ở huyện nha phủ nha, kéo ông lý ra một chỗ, nói thầm một cách rất quan trọng, rồi đi. Ông lý, vẻ mặt băn khoăn, quay lại bảo Bạch:

- Việc của ông mười phần, như thế là đã xong được chín rồi. Thực là không may cho ông mà cái phần còn lại lại là phần khó nhất. Cái ông cửu ấy vừa đến bảo cho tôi biết một điều khó nghĩ quá. Việc này té ra lại có cả quan phủ tôi cũng muốn gửi một người cháu vào nữa. Mãi bây giờ tôi mới biết. Người cháu quan phụ mẫu chúng tôi cũng muốn lấy thế quan phủ bảo dân làng để giữ lấy cái chân thông ngôn cho dân đi múa tuồng qua Mỹ. Cậu ấy trẻ người non dạ, gia dĩ lại mới đỗ có bằng Cơ Thuỷ Pháp Việt, việc đời chưa có kinh nghiệm, tôi dám chắc những lúc ra ngoài, đâu có bằng được ông. Nhưng vì có lời gửi gấm của quan phủ, chúng tôi không thể không nhận cậu ấy được. Vậy ông phải gặp cậu ta hoặc quan phủ tôi mà điều đình xem. Tôi rất phàn nàn cho ông. Và mong ông hiểu cho bụng tôi và dân tôi đối với ông là rất chân thành... Thế mà cũng nên cho là may đi. May mà cái tin cuối cùng này lại xảy đến lúc ông hãy còn ở đây. Chứ ngộ ông về Bắc rồi, thì có phải lại thêm phiền ra nữa không. Ông cứ nghe tôi, tạt vào trong phủ, nói chuyện thẳng với quan tôi xem ngài định lại như thế nào. Ông cứ nói rõ hẳn ra là ông cũng định đi đấy.

Bạch cáo từ ông lý. Chàng đứng trên đê nghĩ, nghĩ nhiều. Rồi không cần rẽ vào phủ Thọ Xuân, chàng đi thẳng xuống tỉnh, tìm vào dinh quan Công Sứ Đê-ra-bê, một người quen cũ.

Hồi ở Pháp về nước, cách đây hai năm, Bạch cùng đi một chuyến tàu bể với ông Đê-ra- bê, lúc bấy giờ vừa tốt nghiệp trường Thuộc Địa, qua Đông Dương cung chức. Ông là hành khách hạng nhì. Cùng đáp một con tàu với ông Đê-ra-bê, Bạch đã trở về cái xứ này thăm lại cha - cụ Tô - bằng cái tư cách bồi bàn dưới tàu. Bạch trông lịch sự, linh lợi, lễ phép, bệ vệ, nên bác cặp-rằng cầm đầu đám nhân công Việt Nam dưới tàu đã cắt chàng dọn dẹp ở khu buồng hạng nhì. Dưới tàu không phải ai cũng làm được bồi bàn ăn hạng nhì. Phải có cảm tình riêng của cặp-rằng, phải có thiện cảm của cẩm tàu, nét mặt phải thích hợp với hoàn cảnh xa xỉ có rặt những khách phong lưu, và phải khéo chân khéo tay nhanh mồm nhanh miệng những lúc đưa món ăn vào và bưng món ăn ra. Một ngày bể động sóng ngầm, đại dương cứ đội đứng được tàu lên, cầm nổi một liễn súp loan mời thế nào làm cho nó đừng chao chát ra sàn, hoặc đi vòng quanh bàn ăn mà trì hồ thế nào cho chai rượu đừng rớt giọt vào vai thực khách, đâu phải là dễ.

Từ Địa Trung Hải cho đến Ấn Độ Dương, ông Đê-ra-bê không bữa nào ra phòng ăn. Ông ăn luôn trong buồng cabine riêng của ông, lấy cớ là say sóng nhức đầu và muốn tránh những trò ồn ào nơi công cộng. Bạch được cắt riêng ra để đưa bữa ăn vào cho ông Đê-ra-bê. Chàng đã làm hết phận sự mình với tính vui vẻ. Cái tính vui vẻ ấy, cứ bao giờ Bạch được ở trên mặt nước động là dễ phát lộ ra ngoài cho đến kỳ cùng. Thấy tính Bạch vui và ngoan, có lễ độ, lúc ra lúc vào rất có ý tứ và nói tiếng Pháp không những là đúng văn phạm mà lại còn văn hoa nữa - đấy là những cái xuất kỳ bất ý của một người có sẵn một cái vốn văn tự ở trong bụng, chứ đã làm thân một anh bồi để ẩn một cái tung tích giang hồ, Bạch muốn gì đến sự khoe khoang, trong lúc trôi nổi, càng giấu được cái bản ngã mình được đến đâu là thêm hay đến đó - ông Đê-ra-bê phải để ý và một hôm ông cười hỏi Bạch:

- Anh có một lối thưa gửi với tôi nó tố cáo cái sức học của anh ít ra cũng vào bực tốt nghiệp ban trung học. Thông minh như anh, trẻ như thế, sao lại đi vào con đường này.

Bạch cứ dọn bàn làm như không nghe thấy. Ông Đê-ra-bê hỏi gặng lần nữa, Bạch mới dè dặt thưa:

- Như chúng tôi mà được có công việc hầu cận các bực đài các như các quý ngài đây thì đã lấy gì làm bất hạnh. Dạ để xin bưng cà phê vào.

Bạch không dám nhận trước mặt ông Đê- ra-bê rằng mình là một người trí thức. Nhưng ông Đê-ra-bê thì đã định được cho Bạch là một người vào hạng nào rồi, khi, một hôm, ông bắt chợt được Bạch lúc chờ ông ăn xong bữa điểm tâm, đang tỳ lưng vào cửa ngoài đọc một cuốn: “Những cách đo lường sức gió trên Bắc Băng Dương” đầy rẫy những định thức rất khó về vật lý học và đại số học.

Tàu cập bến Sài Gòn. Theo lệ thường, ông Đê-ra-bê đãi Bạch một món tiền rất hậu. Bạch từ chối, làm cho ông Đê-ra-bê phải kêu:

- Một người như tôi quen sống ở một xã hội mà nhất nhất sai khiến ai một điều gì đều phải có tiền đầu sai kèm theo, sự từ chối của anh làm cho tôi ngạc nhiên lắm. Thôi, tôi đổ bộ và tôi chúc anh gặp được nhiều sự may mắn trong cái đời của anh rất có vẻ bí ẩn. Tôi chắc cái đời làm bồi tầu bể của anh chẳng qua cũng chỉ là một mẩu đời mượn tạm, là một cái cớ đó thôi. Tất cả những sự vui sướng sẽ về phần tôi, nếu, có một ngày nào tôi lại được gặp anh trên miếng đất Đông Pháp này.

Cuộc đời vốn không bao la như ông Đê-ra-bê tưởng, nên ít ngày gần đây ở trường bay Gia Lâm, sự tình cờ đã dắt Bạch đứng cạnh ông Đê-ra-bê, lúc chiếc phi cơ thông thương hãng Eurasia sắp cất cánh bay đi Vân Nam phủ. Hôm đó Bạch tiễn chân một người bạn qua hồ Côn Minh mua ngọc thạch và ít tranh cổ tự và ông Đê-ra-bê thì đi đưa một ông quan thầy sang công cán vùng Vân Nam.

Ông Đê-ra-bê vồn vã chạy lại hỏi Bạch:

- Tôi đã gặp ông ở đâu nhỉ?

- Trên chiếc tàu Aramis.

À, ra phải rồi. Cố nhân! Bây giờ tôi làm Công Sứ tỉnh Thanh Hóa. Nếu ông có dịp đi qua hạt tôi, hoặc có việc gì trở ngại ở vùng ấy, nên vào thăm tôi. Tôi vẫn giữ nguyên vẹn cảm tình ngày nọ đối với anh. Bây giờ tôi phải ra luôn ô tô về Thanh Hóa, không tiện nói chuyện lâu. Cũng tiếc. Thôi, hậu hội.

Buổi hậu hội ấy là buổi sớm này, Bạch e lệ bước vào bàn giấy ông Đê-ra-bê, đường đường là một ông quan thủ hiến, đang cầm danh thiếp chàng đọc đến cái tên Bạch mà ngài cũng không hiểu là ai (từ lúc gặp Bạch trên tàu Aramis cho đến hôm ở trường bay Gia Lâm, chưa bao giờ ông Đê-ra-bê hỏi tên Bạch và cũng chưa bao giờ chàng xưng danh). Nhưng nhác trông thấy Bạch, quan Công Sứ liền đổi nét mặt nghiêm nghị ra vui vẻ:

- A, mơ-si-ơ Bạch. Mời ngồi. Tôi có thể giúp ích cho ông những việc gì?

Bạch kể rõ ràng việc Xuân Phả. Ông Đê-ra- bê tủm tỉm suốt từ đầu đến cuối:

- Tôi tưởng là việc kiện tụng, xin đẫn gỗ trong rừng hoặc chưng thuế phà thuế chợ gì, chứ chỉ có thế thôi à? Thôi được, để tôi viết giấy cho ông phủ Xuân Thọ và tôi viết riêng một lá thư gửi cho ông Cờ Lốt. Ông Cờ Lốt, cũng vừa ăn cơm ở Thanh với tôi cách đây không đầy một tuần lễ. Anh cứ yên tâm, rồi anh sẽ được qua San Francisco như ý anh muốn.

- Xin đa tạ quan Công Sứ.

Từ khi tôi làm quan cai trị ở xứ này, những việc người ta cậy cục nhờ vả tôi, tôi nhận ra nếu không vì danh thì là vì lợi cả. Chứ tôi chưa thấy người nào đến nhờ tôi giúp đỡ cho để mà du lịch. Anh thích bỏ xứ sở à? Tôi ở xứ này chưa được lâu, nhưng tôi nhận xét ra cái thế hệ thanh niên các anh đang vướng vào cái bệnh gọi là bệnh thời đại. Ở cái đám đồng bào du học sinh các anh, lúc trở về nước thì khủng hoảng đó lại càng rõ rệt quá. Nghĩ cũng tội cho các anh lắm.

Ở tòa sứ ra, Bạch ngoảnh lại nhìn cái cửa hầu tới tấp lũ dân sự đợi chấp đơn. Ngẫm đến sự chạy chọt len lách của mình với việc Xuân Phả này mà chàng càng thấy mình đi tìm dịp giang hồ, vất vả có như là kẻ khác mưu việc công danh.

Thăm thẳm từ cửa công đường trông ra, ông Đê-ra-bê nhìn theo hút Bạch tập tễnh trên lối cuội, ông lại liên tưởng nhớ đến một người bồi tàu Aramis. Ông Đê-ra-bê vốn có cường ký tốt, nên ông còn nhớ luôn là hồi ấy, Bạch làm bồi đeo một con số hiệu 61, lúc ấy tinh nhanh hơn bây giờ. Nghĩ đến cái việc người trí thức trẻ tuổi ấy vừa vào nhờ cậy mình, ông Công Sứ lắc đầu, cười và viết luôn một lá thư gửi gấm Bạch cho ông bạn Cờ Lốt.

Ấy thế mà việc Bạch định đi San Francisco vẫn không thành. Đến phút cuối cùng ông bầu Cờ Lốt thấy đem tuồng Xuân Phả qua Cựu Kim Sơn tốn nhiều quá, ông bèn huỷ những hợp đồng với dân làng. Bạch chưng hửng và tết Nguyên Đán năm đó dồn dập đến, chàng nằm lắng những tiếng pháo nổ mãi và nhìn theo cái mộng Cựu Kim Sơn rất đẹp và rất xa kia dần dần rụng theo với những cánh pháo đỏ là là bay trên mặt cỏ rơm rớm hạt sương. Vậy mà Bạch có được nằm im để mà buồn tiếc cho yên một bề đâu.

Sớm mùng một Tết, Dung đã trang điểm hớn hở bảo Bạch ngồi cho thằng Phong nó mừng tuổi. Dung vừa cầm tay cho con vừa bảo nó lẫy (chữ lễ nói chệch thành, nghĩa là thủ lễ, làm theo đúng nghi thức người xưa để lại). Trẻ thơ bị ba bi bô chưa xong thì cụ Tô đã vào.

Nguyễn Tuân

Thêm vào giỏ hàng thành công