favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

XIV

XIV

Ba trăm thước phố nhà một tầng, tường trát đất. Những cái túp ấy, cái nào cũng giống cái nào mái lợp bằng những cái trôn rổ rá dùng vào việc lọc lựa than quả bàng lúc chúng còn nguyên vẹn cả cạp. Hai dãy nhà đối diện nhau, nhìn nhau chán nản như những cặp vợ chồng khổ sở bỏ thì thương, vương thì tội. Lũ nhà tồi xám như tro và tái như đá đen. Trên một mái xám ấy, có một cái thập ác cũng xám, tiêu[1] cái mái tranh tầm thường kia lên thành một nhà thờ cầu kinh hằng ngày cho những linh hồn đau khổ. Giữa cái phố độc đạo xám nhợt là một con đường sắt đen. Từ đầu xa là những đồi than tảng đánh đống, mỗi tảng óng ánh như nhọ nồi quét mỡ nước. Ngoài xa nữa là bể, là cửa sông, lấp ló vài ống khói tàu thuỷ lớn. Trong không gian, lúc nào cũng có vô số mảnh cám than. Dưới đất, bụi than đọng lại thành cục óng ánh rời rạc như những chấm ngân nhũ.

Giữa hai dãy nhà xám, những toa tàu xám dè dặt lăn vòng bánh, nghiến xuống những lớp than nhỏ bừa bộn nghe rào rào như cỗ xe đòn đám kêu trên lớp sỏi nghĩa địa. Ấy trông toa xám ấy lăn vòng bánh chầm chậm qua phố độc đạo, người ta lại càng thấy các căn nhà phố kia là những cái mồ sống, là những ngôi mả nghèo xấu tẻ ngắt, không có bia – nhà phố Port Redon không có số hiệu. Đấy, Port Redon ta gọi bến Điền Công – cái bến của mỏ xuất cảng than có khi đến mười vạn tấn trong một ngày, mỗi tấn ba chục bạc. Tính từ Vàng Danh đến đây là tột đường hỏa xa mỏ, mất mười sáu cây số, và tàu mở tốc lực mỗi giờ nếu chạy đúng thì được tám cây số một giờ.

Sương bỡ ngỡ, kéo Bạch vào một tiệm phở lủng lẳng súc thịt bò ôi mà bụi than bám kín, trông như rắc bột hồ tiêu. Bụi than đá dính vào phiến thịt, có mảnh to và ánh xanh chẳng khác gì con nhặng bám chết vào đấy. Tần rảo bước đi xoay tiền và hẹn tí nữa sẽ quay lại đấy.

Ngồi chờ, buồn, Bạch và Sương đánh ngả một phần ba chai rượu ty. Sương ngà ngà, ngây ngất, cho luôn ngay cái buổi sớm mai này ở đây cũng chỉ là một đêm trăng suông soi xuống cái xám lạnh của một cuộc sống hỗn thế và hỗn trần. Sương gật gù tự bảo mình rằng nhiều khi đối cảnh người ta có thể khóc được lắm. Chàng ngắm cảnh, bị hôn mê vì chất ma tuý của Port Redon, lan man nghĩ đến cái địa ngục của người đã viết: “Hỡi kẻ kia đã tới đây, hãy nên trút hết hy vọng”.

Có rất nhiều bóng người đi làm luôn luôn lướt qua tiệm phở. Hỏi đấy là đàn ông hay đàn bà, Bạch và Sương cũng rất khó mà trả lời và chỉ biết rằng từ lúc bắt đầu đặt chân lên cái nghĩa địa tê tái này, Bạch và Sương chưa thấy người nào hở răng ra để mà cười. Một đứa bé con cũng biết thận trọng ở dáng đi, nét mặt. Hình như ở dãy phố này, mỗi người đều có một điều u ẩn gì cất kỹ trong lòng. Và cứ như sự quan sát tuy nhanh mà rất chắc của Bạch thì nơi ăn chốn nằm của đám người ở đây đều tố giác sự ăn xổi ở thì của họ. Đến để quên chuyện cũ. Đến đây để đánh tiếng bạc cuối cùng. Nặng bồng nhẹ tếch, khăn gói gió đưa ra bến Điền Công: gây nên một quãng đời hoặc lập lại một cảnh đời. Khá lên thì lại tìm đi. Chứ ai đỉnh chung lưu luyến gì với Port Redon. Cảnh ở đây thì đen và lòng người thì bạc. Tro muội ở trong lòng người thì cũng nhiều như tro muội ở ngoài trời.

Có những tiếng ồn ào từ ngoài cái phố đen dội đưa vào đến tiệm phở. Đặt chén xuống bàn quán, Bạch và Sương đều ra xem. Một bọn tráng sĩ Tây Phương cao như cây phướn, mũ dạ lật ra phía gáy, áo khoác lên vai, giang tay vừa đi vừa hát và nói cười om sòm, mặt người nào cũng chín dừ. Một lũ vô lại áo cộc đi theo họ thành một cái đuôi ầm ỹ nhộn nhạo. Chốc chốc bọn tráng sĩ thất thểu ấy lại rộ lên: “Well! Well”... Họ đứng trước tiệm phở. Bạch nói một câu tiếng Anh, họ hỏi lại:

- Anh có nói được tiếng Nam Tư Lạp Phu[2]?

Bạch lắc đầu. Họ cười “Well! Well!”. Bọn thất phu chạy theo mấy người ngoại, quốc cũng nhại lại “Oeo! Oeo!”. Thế rồi cứ thế mà rầm loạn cả xóm than lên. Bọn tráng sĩ bực mình, kéo nhau về tàu họ đỗ ngay ngoài bến chỗ đầu phố.

Cái tàu Nam Tư Lạp Phu hai ống khói nâu ấy vào Port Redon ăn than từ hôm qua và đâu ăn độ một ngàn tấn than đá. Cứ lời những người cai phu tọc mạch và bép xép thì lúc xếp than cho tàu Nam Tư Lạp Phu kia theo giao kèo, nếu xếp sớm được một ngày thì được thưởng hai nghìn đồng và mỗi ngày chậm, sở mỏ phải bồi thường cho họ những tám nghìn đồng.

Tần đã trở về tiệm phở và buộc Sương và Bạch uống nhiều rượu vào mới được. Chàng gọi lấy chén tống. Rồi trịnh trọng Tần đứng dậy, gập tờ giấy bạc một trăm lại làm tám, găm vào túi trên áo Bạch. Sương cảm động quá, nắm chặt lấy bàn tay Tần rất lâu. Tẩn cứ để nguyên thế mà nói:

- Bây giờ cũng quá mười một giờ. Có về ngay Uông cũng lỡ mất chuyến ô tô trưa. Đi chuyến chiều bốn giờ vậy Thôi ở đây chơi và uống rượu.

Ba người uống hết chai rưỡi.

Trời chiều đã gần vàng mặt, cái bộ ba ấy mới bảo nhau nhảy lên xe song loan rời khỏi Bo về Uông Bi.

Từ Uông, Tần đi thẳng về Vàng Danh mà bọn Bạch và Sương thì đáp ô tô ngoặt trở về Phòng. Cảm giác sung sướng giúp được tiền, giúp được việc cho bạn, chốc đã nhường chỗ cho phút chia rẽ bùi ngùi.

Tần cầm tay Sương:

- Nhất định 26 này anh đi chuyến Compiègne?

Sương cũng cảm động:

- Vâng. Chỉ trừ khi, ngày mai ngày kia còn xảy ra những trường hợp ngoài ý định của mình.

Tần cười, quay về phía Bạch:

- Anh không ngại. Có anh Bạch đây đỡ đầu cho thì còn gì là ngại nữa.

Bạch châm điếu thuốc, giọng hể hả:

- Tiền đã có anh giúp cho. Anh Sương thì đã thừa có một tấm lòng. Còn tôi, tôi hết sức để đưa Sương đi cho lọt. Ba đứa chúng ta tuỳ tâm tuỳ lực, mỗi người góp vào một chút mà nhiều đã đến thế, thì cái chương trình xuất dương đây, sao mà lại chẳng thành.

Sương muốn để một lời cảm ơn, tần ngần đặt hai bàn tay lên vai Tần mãi mới nói được một câu nghẹn ngào:

- Rời khỏi được xứ sở, ở xa, dù trên cạn hay lênh đênh hàng tháng trên biển rộng, tôi không bao giờ dám quên anh. Không bao giờ tôi quên được anh và anh Bạch.

Bạch ngắt lời:

- Anh chớ nên thốt ra những lời tình cảm tầm thường như vậy của đám chúng nhân. Tôi nói thiệt đó, anh đừng hiểu lầm và mang lấy giận một cách vô ích. Anh Tần thì tôi không rõ như thế nào, chứ riêng về phần tôi, tôi rất mong anh quên phắt hẳn tôi trong khi anh đi tới bất cứ bến xa, đất lạ nào. Đừng có nhớ tới ai - mặc dầu đấy là ai thì mới đi mãi mãi được. Muốn làm một người du tử tàn nhẫn thì phải quên hết, mà mỗi lúc được vứt bỏ lại mọi cái ở sau mình là nên lấy làm hoan hỷ để lại bắt đầu đón nhận lấy một cơn gió mới của một ngày khác mở đầu cho một độ đường mới.

Tần lĩnh hội được ngay cái tứ đau buồn chứa trong một lời nói của kẻ đã dạn mặt với phong sương, gật gật mãi đầu và tàu mỏ huýt còi rồi mà Tần còn chưa chịu rút cả hai chân lên cấp toa song loan. Bạch và Sương đùn chàng lên:

- Thôi anh về cho mạnh.

Tàu mỏ mở máy, chậm như một con tàu thuỷ nhả bến, kéo dài ra cái giây phút nặng nề của từ biệt.

Sương nhìn cái bóng trắng của Tần lâu mãi mà không chịu nhoè với khói than đá, nhớ đến cái thú vị cuộc tiễn đưa về thời xưa cũ, người ta bày một cái đoản đình, rồi lại một cái trường đình, uống cạn một chén rượu, người ngồi trên ngựa dùng dằng mãi mới ra roi và nới cương, kẻ đứng dưới thì ngậm ngùi vòng hai cửa tay áo rộng lại, lạy một lạy và hướng mãi về phía đám bụi hồng không chịu tan bay sau móng ngựa.

Bạch không nỡ kéo Sương quay đi ngay vì dẫu sao, anh Tần trắng lôm lốp vẫn còn lưu luyến, đứng nán lại ở rìa toa chưa ra khỏi ngoài đầu ghi kia... Như thế này mà có thêm một người đàn bà đứng ở đây thì có làm khổ người ta không, thì con tàu kềnh càng kia còn lấy thêm có chán vạn là nước mắt của người ta. Bạch bực mình vì lối chạy đờ đẫn, chậm chạp của tàu than, vì hình bóng của tàu chưa khuất, vì cái dư vị quá dềnh dàng của từ biệt. Chàng nghĩ đến một cảnh chia tay ở một chỗ rất chóng vánh, chỉ có cuộc tiễn đưa ở bãi trường bay là gọn. Hết chỗ mà đặt tình cảm. Không đủ thời giờ để mà đem tình cảm ra mà dùng. Vù vù cánh quạt đầu máy xoay vài mươi tua, máy nổ đều, vụt một cái, con chim trời cất cánh, thế là xong. Hết cả lã chã.

 

[1] Đưa, nêu lên.

[2] Ngày nay chỉ gọi tắt là Nam Tư.

Thêm vào giỏ hàng thành công