XIII
XIII
Ra đến ngoài hành lang, gió càng rú mạnh và tiếng gió vỗ vào cửa càng trở nên khàn khàn.
Sương rùng mình thắp điếu thuốc một cách khó khăn. Gió từ trên các chỏm cao bị rơi thụt xuống thung lũng, không có một chỗ thoát, chạy quanh trong vực thẳm, hút bụi than lên và tung vãi rộng những mảnh bụi sắc. Đây là một lối gieo mạ quái gở của một thứ yêu tinh khoẻ. Bụi than bắn vào da mặt xót buốt như những mũi kim châm. Bạch kể cho Sương nghe cái hồi mình vào chơi vùng đồn điền cao su Sit Nun ở Cao Mên, có những trận gió lốc mỗi cơn hai tiếng đồng hồ cứ xoáy tít trên diện tích độ trăm mẫu, trông như rồng đất lấy nước trên cạn và xoáy đến đâu thì nhổ cả rễ cỏ và lá khô đến đấy. Cả cây lớn trong đồn điền nữa. Bạch lại tả cho Sương nghe cái tiếng gió rừng thổi vào tỉnh Lạc Hòn - một vùng địa đầu Xiêm La, cạnh sông Cửu Long, đối ngạn với tỉnh Lào Thà Khẹt - và mỗi lúc thổi mạnh thì những con chó Lào đều thất thanh mà rống lên như người bị bóp cổ kêu cứu.
Hai người rủ nhau vào một hiệu bán phở đêm cho phu mỏ. Bạch và Sương trầm ngâm trước cái phích cà phê rỉ rả đánh rớt xuống đáy cốc từng giọt nước đen đen sánh một thứ màu sinh vật bị thán khí đầu độc. Trước mặt chàng, người thực khách ấy là một người phu làm mỏ đen từ đầu đến chân, chỉ trừ có hai con mắt trắng, cái hàm răng trắng và cặp môi đỏ như miếng thịt sống nhầy nhờn.
Mái nhà tranh tiệm phở, có chỗ lợp bằng một cái thùng sắt tây đập dẹp ra. Gió lùa vào, vỗ mái, miếng sắt mỏng lúc mau lúc chậm, kêu lạch bạch lanh canh như tiếng những chiếc lá thiếc bọc kiện hàng bị sự đài tải của xe bò làm rung động trên một con đường lát đá gồ ghề cứng nhọn. Nghe rờn rợn và rầu rầu. Những giọt cà phê rỏ liên tiếp điểm dấu vào những đợt gió lê thê.
Ở quán bước ra, Bạch lấy mình làm một cái trục để xoay quanh mình đủ một vòng, giang thẳng tay, lấy ngón tay trỏ kéo một vòng qua bốn phương tám hướng. Sương cũng nhìn theo và làm theo. Hai người nhận ra là mình đang lọt thỏm vào một thung lũng mà chung quanh chỉ có những ngọn núi bao bọc. Thảo nào gió ở đây coi bộ tợn tạo quá. Ra nó đang bay ở trên không rủi đi qua vùng đây bị rớt thụp xuống cái vực này và cứ lúng túng chạy quanh mãi. Đây là một thứ gió lạc đường và đang hỏi đường. Gió mù nhưng mà không cấm. Lắng những trận gió quẩn, Sương liên tưởng đến những tên gian vào nhà Mường bứt trộm quả, bị ma Mường làm, cứ đi quanh mãi trong vườn thiêng. Một cơn. Hai cơn. Cứ thế mãi mãi. Và bây giờ nó họp lại thành một trận quần phong, thổi đến đâu là hút bụi than lên đến đấy.
Ở ria núi bọc lấy thung lũng, những đốm lửa đèn điện sở mỏ xếp thành những hàng lửa không có đầu có đuôi, liên tiếp nối nhau theo một vòng tròn. Nếu ví thung lũng Vàng Danh là một cái thúng thì dây đèn cao ấy là cái cạp lửa sáng rực. Đêm đen quá, không nhận ra những đường viền chỏm núi, thành thử có những phút mà Sương và Bạch lầm nhận đốm lửa đèn điện ở phía xa lẫn với những vì sao nhấp nháy gần quả đất. Hai thứ ánh sáng ấy cùng lấp loáng trên đêm mỏ. Bạch mới kể chuyện cho Sương nghe rằng đi Hương Cảng, cái diễm phúc của du khách muốn được say mê với cảnh là khi con tàu mình bắt đầu vào bến Hương Cảng thì cảnh cũng bắt đầu hoàng hôn. Tàu cứ lừ lừ vào bến. Bỗng hàng triệu ngọn đèn bật cháy lên, soi xuống một vũng nước. Hương Cảng là một thị trấn xây ở ria hòn đảo. Những cây đèn đường cắm theo những con đường chữ chỉ dẫn lên núi, những đèn của các biệt thự bám vào sườn núi chỗ cao chỗ thấp, cho ta cái ảo tưởng đấy là những ngọn lửa lơ lửng ở giữa khoảng không đang cháy nhấp nháy cùng với những đốm tinh tú.
- Cái cảnh ma quái của Hương Cảng khi tàu ghé bến một đêm du lịch, không khỏi nhắc mình nhớ đến chuyện Tuy Dạng Đế chơi lửa huỳnh ở dọc sông Vận Hà. Thuở ấy, cứ sách chép lại, vua Tuỳ bắt ba nghìn cung nữ xé gấm làm dây kéo thuyền, kéo chiếc thuyền rồng trên con sông đêm. Mỗi người mang sẵn một cái vỏ trứng chứa đầy đom đóm, khi nào nghe hiệu lệnh, ba nghìn cung nữ ở hai ven sông đều thả đom đóm cùng một lúc. Cái phần ác ngược của vị bạo chúa ấy, ta hãy gác ra ngoài, ta chỉ nên kể đến cái trò chơi lửa ấy; nếu mình cũng có thể cung cho thị giác mình, lối chơi lửa ấy, anh có thấy thú không?
Sương cười và cũng kể một chuyện chơi lửa ngộ nghĩnh, rất đẹp mắt, na ná thế.
Bạch giẫm mạnh quá, những than vụn kêu xào xạo như cuội dập nơi công viên. Những mảnh than ánh lên như mình loài kim bóng loáng và có cái công dụng ngược đời là làm tối bớt cái ánh sáng của đèn đêm. Những bụi đen ấy thấm hút mất cả tia sáng của đèn sở mỏ. Thành thử, ngày cũng vậy mà đêm cũng vậy, mỏ Vàng Danh chỉ là một cảnh tang tóc kéo dài mà bất phân mộ dạ[1]. Cái ánh sáng tê tái ấy chỉ đường cho Bạch và Sương lẫn về nhà Giây Thép. Sực nhớ đến câu chuyện đốt đuốc trên hồ Ba Bể, Sương đã kể ban nãy, đi qua cái cầu gỗ, bắc trên cái lạch ăn thông từ mỏ ra ngoài, Bạch vỗ vào vai Sương với giọng thân mật:
- Cũng đẹp đấy. Nhưng cảnh ấy, đời anh còn đi, anh còn được thấy nó hùng vĩ tráng lệ gấp bội. Cố làm sao mà gia nhập vào cái đám ngư phủ đi đánh cá và săn hải cẩu, hải mã ở Bắc Băng Dương. Anh học địa dư và đọc sách thường thấy người ta tả đến những cảnh mặt trời mọc trên những hải phận quanh năm chỉ có tuyết đặc cứng ở Bắc Cực đấy chứ? Lên đấy mà xem cái lửa chiêu dương[2] choé rọi tàn nhẫn trên đám cháy giá lạnh trắng ngần, thật là vô số cảm giác, cuộc sống đầy những bất thình lình nguy nga chưa có phụ lòng người ta bao giờ, nếu người ta biết tận tụy xê dịch và tìm lẽ sống của mình trong cái thú làm người giang hồ. Cứ như cái thằng Tần bạn chúng mình đây thì hắn cũng thèm muốn sự bay nhảy, đi đó đi đây. Nhưng hoàn cảnh mạnh hơn ý người. Nhưng thiếu nghị lực, hắn đâm ra nể vì sự sống. Cái lòng thương đối với những máu mủ thân thích chung quanh làm giảm cái sức sống của mình là thế đấy.
- Hình như Tần trước kia cũng đã đi nhiều lắm phải không anh?
- Đi đâu? Ai bảo thế? Đời hắn chỉ rặt là những cuộc lên đường hụt mà thôi. Cứ sắp sửa đi hoài mà không bao giờ đi cả. Ngày còn đi học hắn chỉ thích học môn địa dư nhân loại, các bài không mấy khi thuộc vì thời giờ học hắn chỉ đọc những sách du ký và tự hứa hẹn cho phiêu lưu sau này. Ông trời bắt tội, lúc còn đi học, ông cụ ở nhà đau tưởng chết vội cưới vợ chạy tang cho Tần. Vợ đẹp nhưng Tần vẫn cứ nghĩ đến cái chí hướng của mình muốn làm người lông bông. Đến kỳ thi ra, hôm lên Hà Nội thi, cái người định làm con chim trời ấy, chẳng còn một chữ nào trong bụng, mấy đêm cứ trác táng liền liền ở xóm hát, đến hôm nhập trường hắn viết bài quấy quá nộp cho xong chuyện. Thế mà đỗ. Thế là Tần lại khổ một lần thứ hai nữa. Tiểu đăng khoa và đại đăng khoa, đối với Tần chỉ là những cớ để mà khổ ngấm ngầm trong lòng. Giá được đi thi hỏng, thì chàng đã xác tín rằng ông trời điểm ra như thế để con người ta được dịp lìa nhà!...
- Tôi phải ngắt chuyện anh, Sương khúc khích nói chêm vào một tí truyện cổ tích hợp lúc. Ngày xưa trong truyện Tàu, có cái anh danh sĩ gì không muốn thi đỗ anh nhỉ? Lúc xuống Tràng An cố viết bài cho thật tồi, sợ làm văn hay thì đỗ, thì phải làm quan lưu lại Kinh, thì phải xa người yêu ở Bắc Phương ấy mài...
- … Nhà chẳng bỏ được mà cũng một năm ấy, vợ đẻ và hai cụ nằm xuống liền liền. Tần nhận thấy cái gì là bổn phận và cái gì là trách nhiệm cứ đè nặng trĩu lên đời mình. Hắn thi ra làm. Và đành nguôi chuyện cũ. Và lấy làm thương vợ quá mỗi khi đi xa độ vài ngày về, vợ rủ rỉ: “Mấy hôm cậu đi vắng, nhà không có người đàn ông nó thế nào ấy... Những lúc cậu đi vắng, nhà cửa y như là xiêu vẹo hẳn đi”. Thỉnh thoảng bây giờ nhớ lại cái mộng già, Tân chỉ còn biết phàn nàn vì đã không được sống theo cái ý muốn của mình. Tần vẫn tự ví mình như một gái tài sắc trót lấy phải chồng đần không tìm được hạnh phúc. Lúc bông phèng quá chén, Tần hay làm tuồng, bắt chước điệu chèo cổ, sắm cái vai gái tơ lấy phải một ông lão móm. Tần cho cuộc sống giờ đối với mình cũng chỉ là ông lão móm. Cả nhà bò ra mà cười. Cái trò ấy đã thành một thói quen, mỗi lúc con khóc, vợ Tần lại bảo chồng sắm chèo đi cho các con nó cười. Vợ Tần là người được cười nhiều hơn lũ trẻ. Những người thân thích chung quanh thực không ai hiểu đến cái thảm kịch trong thâm tâm con người bất đắc chí ấy. Tôi thật cũng là bất đắc dĩ lắm mới phải nói rõ với Tần về chuyện đi của anh. Thế này là Tần lại loạc choạc mất mấy ngày ăn không đều, ngủ không yên, làm việc hay lầm và chúa hay gắt gỏng vợ con đây. Cuộc đời bình lặng của một cái ao tù đã bị một hòn sành ném thia lia lên và đã bị gợn sóng trong khoảnh khắc. Anh tinh ý một chút thì biết ngay. Ban nãy uống rượu với mình, Tần nói chuyện như là người có ý oán tất cả thiên hạ. Cả đêm nay, tôi đoán hắn không nhắm mắt được để ghen với bọn mình và khóc thầm cho một đời người đáng lẽ không đến nỗi tẻ lặng như thế. Vậy trong khi gần anh Tần, chúng ta nên giữ ý tứ. Nghĩa là đừng có ca tụng rầm rĩ lên về cái khoái hoạt của người được đổi chỗ luôn luôn trên khoảnh đất. Nếu Tần có hỏi anh tại sao mà lại ra đi thì anh nhớ, chỉ nên trả lời Tần rằng vì cái thế nó bắt phải bỏ nhà với tất cả tấm lòng bịn rịn của một đứa trẻ Việt Nam; vì quê hương không dung nổi anh và anh ra đi như thế này để cho một vài người tạm quên mình, và lúc được trở về lại có thể yêu mến quê hương gấp mười gấp trăm lúc ở nhà. Nói như thế, Tần sẽ đỡ đau khổ và sẽ tin rằng việc giang hồ đâu có phải là một trạng thái vui thú của tâm hồn và không bao giờ người ta có thể nâng sự xê dịch lên đến thành một lý tưởng được – được như trước kia Tần đã tin chắc.
Ban nãy hai người rón rén mở cửa đi ra ngoài như thế nào thì bây giờ trở về, họ cũng rón rén khẽ khàng như vậy. Nhưng lúc Bạch và Sương phủi chân vào màn, ra Tần vẫn thức và nói chỗ sang:
- Cái gió hôm nay lạ lắm. Nghe mà cứ nản cả sự đời. Hay là tại có anh Bạch tới mà gió thổi một cách sốt ruột như vậy. Đấy, các anh nghe xem!
Bạch trao đổi ý nghĩ với Sương bằng mắt và không dám có ác tâm để mà cười nữa. Không những thế, Bạch lại còn cảm động, còn ngậm ngùi. Tần đã lần sang, vặn đèn sáng choang, thèm nói chuyện và ép bạn cùng uống chút rượu thuốc với mình.
- Cho nó đỡ buồn!
Bạch, Sương và Tần dềnh dàng ngồi uống với nhau thế mà đã gần một giờ sáng. Vợ Tần lại ho. Bạch nói tiếng Pháp với Tần:
- Thôi anh Tần ạ, đi ngủ thôi. Người anh yếu. Anh không quen thức khuya. Mai phải đi sớm. Anh nên nhớ rằng ngày mai anh phải ra Uông và có khi lại phải ra tận Port Redon nữa. Đi mượn tiền, không thể nói mạnh trước được. Chúng tôi muốn về kịp Hải Phòng nội trong ngày mai, được tiền hay không được tiền, chúng tôi cũng cứ phải về. Mai đã là 24 rồi. 26, chiếc Compiègne nhổ neo.
Tần tắt đèn. Hình như đèn tắt thì tiếng gió từ ngoài lồng vào kẽ cửa lại càng nhanh. Sự thật thì gió vẫn thổi đều mà từ nãy, vì nói chuyện phiếm với nhau, không một ai để ý đến gió vẫn khóc rỉ rên ngoài trời.
Đêm Vàng Danh vẫn giật bắn mình lên vì những tiếng còi thét vang. Những chuyến tàu lấy than đá từ trong ruột lò ra, cứ đều mà chạy, tiếng còi gắt, dịp ngân chưa tắt lại đến khổ dài, chốc lát lại làm át cả những tiếng sình sịch của các máy lọc than và bơm hơi dưỡng khí vào cửa lò. Ở đây người ta làm việc cả đêm ngày, thợ chia ra làm hai kíp kế tiếp nhau mà làm việc rút ruột quả núi cự phú.
Bạch không tài nào ngủ được. Sương cũng thế. Chẳng lẽ lại nhỏm cả dậy, thì Tần nó lại mò ra mà góp chuyện. Hai người đành nằm im, vắt tay lên trán mà nghe những tiếng hỗn độn của mỏ than nó ầm ầm như sóng bể Đông đổ xô vào bờ đá. Có những lúc tiếng ấy ú ở như cả một bãi bể có rừng dương liễu bị gió khơi vào bóp cổ. Vào khoảng hai đợt gió ào ào như cây ngàn thiêng gặp tuần rung lộc, những tiếng còi ai oán và gay gắt cứ xoắn vít vào lỗ tai người lạ cảnh. Người ta đang đào rút ruột dãy núi than. Nhiều thanh âm ghê lạnh kết hợp lại thành một thiên trường hận ca để khóc những người lạ nước lạ non, bị ký táng ở đây - vùi nông một nấm mặc dầu bụi than[3]. Những trận gió như được đánh xổng từ âm phần địa ngục nào vụt bay lên để ai điếu một loài sinh vật bị lấp vùi trong hoàn cảnh tối tăm của bụi loài khoáng. Tiếng động ở đây chỉ gửi vào thính giác rặt một lối thanh âm thê thảm, dài và lạnh và rợn. Lắm lúc lại bỡ ngỡ và đầy bí mật. Những đêm như thế này, Sương khó mà quên được. Chàng không ngờ mới “nhập nhĩ nhập nhỡn”[4] với đất mỏ mà đã giàu thêm được đến bấy nhiêu cảm giác lạnh lùng. Chàng thiếp đi lúc nào và bao lâu không rõ. Nhưng một hồi thanh la khua động. Rồi lại đến một hồi kèn vang. Chàng mở mắt thấy Bạch cũng thao láo nhìn mình, liền kêu: “Quái nhỉ! Cái điệu gì thế?”.
- À, đấy là người ta ra hiệu gọi kíp phu đêm dậy mà xuống lò than. Thanh la là hiệu để gọi riêng bọn cu li Bắc Kỳ và kèn là hiệu đặc biệt của đám phu xứ Nghệ. Ở đây, chẳng lại còn có một bọn phu người Nghệ nữa; kể đầu người ra đông lắm. Ba giờ sáng rồi.
Tần vừa ngáp vừa nói chõ ra. Vậy ra anh ấy cũng trằn trọc không ngủ và nói với sang thêm một câu nữa:
- Hai anh có tin rằng có những đêm người ta tư lự nhiều quá mà sớm mai bạc nửa mái đầu không?... Ừ phải đấy... Ngũ Tử Tư một đêm trước ngày qua ải... Các anh thế mà nhớ sách hơn tôi. Đi làm lắm lúc cùn hết cả trí tuệ và cường ký.
*
* *
Tiếng còi tàu âm hưởng trong thung lũng tờ mờ. Con tàu lắc lư như say rượu bên sườn non than. Từ trong mỏ đi ra ngoài đường dốc, tàu chạy có nhanh hơn lúc từ Uông vào. Trong một chiếc toa bẩn thỉu, chật hẹp mà người miền mỏ đều mệnh danh là toa “song loan”, Bạch cẩn thận đứng ép vào trong cùng, trái hẳn với mọi lần, ở những toa tàu lửa xứ khác, chàng bao giờ cũng đứng thèo đảnh ở đầu toa tàu hoặc ở cấp lên xuống. Lúc nào lượn đường vòng, trông đoàn xe chở than đá kíp lê cứ như là muốn đổ lật. Những tai nạn này có luôn và người vùng đây gọi là tàu cặm. Bạch chỉ chờ đợi tàu cặm luôn luôn và giữ mình làm trọng, đứng thủ thế vạn toàn trong song loan, chàng thoáng thấy buồn. Không dám sống với nguy hiểm nữa rồi sao? Chàng ngờ chàng bắt đầu sợ sống.
Tàu chui vào đường hầm Uông Thượng. Cả một chiếc song loan - bấy nhiêu hành khách kêu inh ỏi lên: “Tu-nền, tu-nền”, chừng như nhắc cho nhau rằng vào tụy đạo[5] rồi đấy, nên bám chặt cho vững. Sương buồn cười, quay lại cái lỗ mắt cáo trổ ở mặt hậu song loan, nhìn những cục cứt sắt than đá rụng xuống đường sắt, đốm lửa đỏ ối như những cục vàng bị thổi cháy. Trong tối đặc của đường tụy đạo, những tàn lửa than đá vui và sáng chỉ có một giây rồi lại chỉ còn là những chấm lửa hương đen ở bàn thờ ma mới một đêm khó ngủ tại nhà lạ. Mùi thán khí tuôn đầy một mùi hôi hám như là có người trong một lúc bẻ đôi ra hàng triệu quả trứng vịt luộc, vừa vớt ra khỏi nước sôi.
Đoàn tàu vẫn phụng phịu, ì ạch qua một đường hầm nữa. Con đường thiết lộ nhép thế mà cũng hai lần tụy đạo. Bạch bĩu môi nhìn xuống đường sắt goòng Decauville rộng chỉ có sáu mươi phân.
- Chắc các anh không để ý đo đến cái bề ngang đường sắt đấy nhỉ? Đông Dương thiết lộ rộng có một thước. Con đường xe lửa bên Tây và quốc tế mở rộng những hai thước. Bởi thế nên tốc lực một giờ của nó có khi linh trăm cây số. Của mình chỉ chạy đến sáu mươi là cùng, ấy là đoạn đường tốt đấy. Ở xứ mình thấy cách xa phí[6] về thời giờ mà không khỏi sốt ruột.
Sương đố Bạch một cây số hỏa xa ước độ bao nhiêu tiền, hãy kể cái chỗ sắt thôi. Bạch hóm hỉnh nhìn Sương đang muốn tập cái giọng kỹ sư cầu cống. Bạch tính một lúc rồi nói quả quyết:
- Một cây số thiết lộ không kể nhân công, đá và đất đổ nên và tiền đất ruộng qua các làng có địa bạ, chỉ có sắt thôi, phải mất hai vạn chín nghìn đồng, tính theo thời giá sắt còn tốt đem chặt ra bán lẻ mỗi cân ba hào. Từ Hà Nội vào Sài Gòn mất mất... mất độ hơn năm mươi triệu đồng bạc sắt.
- Anh tính thế nào mà ra đến bấy nhiêu tiền?
Trả lời Tần trố mắt ngạc nhiên nghi ngờ bài tính của mình, Bạch tiếp:
- Này nhé. Một cầu sắt bắc đường hỏa xa đo dài được chín thước. Bao giờ cũng phải hai đường song song, vậy là một cầu kép hai thanh mất mười tám thước, mỗi thước hai mươi lăm cân. Bốn trăm rưởi cân rồi. Mỗi cầu đường sắt phải dùng mất mười tà-vẹc, mỗi tà-vẹc bốn mươi cân và một bù-loong con cóc năm cân với lại ít ra là mười lăm cân đinh bù-loong búi tóc. Thế có là bốn trăm hai mươi cân nữa không. Tổng cộng trọng lượng một cầu đường sắt dài chín thước nặng tới tám trăm bảy mươi cân, nhân với giá ba hào một cân thì trị giá hai trăm sáu mươi mốt đồng. Một cây số chứa được hơn một trăm mười một cầu. Thôi cứ cho là 111 cho dễ tính. Các anh nhân đi!
Tần nhân.
- Anh nhân nữa đi. Từ Hà Nội vào Sài Gòn 1.728 cây số
Tần lại nhân.
Tần lác mắt, vừa phục cái tài hùng biện của con số, vừa phục Bạch:
- Nhưng sao anh tò mò thế?
Hơn năm mươi triệu bạc tiền sắt. Ấy là chưa kể đến đá, đất, ruộng mua và công nhân... À những lúc bị tàu chậm, gặp được viên kiểm soát địa phương nào của sở Hỏa Xa vui tính, tôi hỏi chơi thế để cho biết đại khái. Này, một cái toa xanh tốc hành hạng tư thế mà ba vạn bạc đấy. Toa buồng ngủ sáu vạn đồng.
- Làm toán pháp đùa với nhau thế mà đã đến Uông Bí lúc nào không biết.
- Các anh cứ đứng yên đây. Tôi chạy tạt vào nhà cai Khương vẫn bán chịu gạo mắm cho các ông ký mỏ và thợ thuyền, hễ lấy được thì tôi lại chạy ra lôi các anh xuống đây, đợi ô tô Đông Triều mà về Phòng chuyến trưa cho kịp việc. Nếu lỡ lão đi vắng thì tôi lại nhảy lên chuyến xe này ra Port Redon nó đỗ gần đây nửa giờ kia mà. Sáu giờ ở Vàng Danh chạy, tám giờ đã tới Port Redon rồi.
Tần xuống một mình. Và hơn một khắc sau, chàng vẫn tươi cười trèo lên toa. Lão cai Khương đi vắng nhưng không ngại. Ngoài Port Redon khối người sẵn tiền.
