XI
Sương thích quá. Vậy là chàng đã có một cuốn sổ căn cước để đi làm tàu. Nằm khểnh trong gian buồng cho thuê, mà vải phủ giường và tường đều trắng bốp, Sương vắt tay lên trán, ngửa nhìn cái trần cũng trắng bốp và bồng bột suy tưởng đến cái tương lai hàng hải của mình. Sương tin rằng rồi cái ngày mai của mình sẽ là xanh, sẽ là đỏ, sẽ là đủ các thứ màu tươi có sức chế biến được cả màu xám của nước, của bể và từ phút này làm mất hẳn cái màu đen những ngày quá vãng của mình. Từ trước tới giờ chàng không làm nổi được một công việc gì. Chàng chỉ chờ đợi ở cuộc sống một cái gì có thể nhấc bổng chàng rời khỏi cái xứ Bắc Kỳ này. Sương là một bệnh nhân của không gian. Chàng thèm đi đã từ lâu lắm. Sương thường tự nhủ mình: “Muốn gì thì cũng đi một chuyến cho dài, cho lâu đã. Để cho vợi bớt cái chất lang thang chồng chứa nặng ở trong người mình. Bao giờ về sẽ dúng tay vào việc làm ăn đứng đắn. Chứ mà còn chưa giang hồ được một chuyến lớn, thì còn vơ vẩn, khó mà yên được với cái sự định an cư lạc nghiệp”.
Được gặp Bạch, chàng cởi mở lòng và cậy Bạch gửi gấm cho những bạn làm tàu cũ ở dưới Phòng để vượt bể một chuyến. Sương đã phục Bạch là giỏi quá. Không đầy một tuần lễ mà Bạch làm thế nào đã lấy xong cho chàng cuốn sổ căn cước làm tàu bể. Sương phục Bạch nhất ở chỗ giúp mình thành công nhanh quá. Không đầy một tuần lễ mà có sổ thì phục thật. Trước kia cứ những mồm kẻ khác nói thì có chóng lắm cũng phải kéo dài ra đến mấy chuyến xuống Hải Phòng ăn chực nằm chờ hàng mấy kỳ nửa tháng một. Và không khéo thì còn bị lừa nữa, tiền mất mà việc cứ kéo dây ra. Trước khi gặp Bạch, Sương đã tưởng phải còn khó khăn mới đi cho lọt. Nghĩ đến những nông nỗi cứ phải ăn ở túc trực ở Hải Phòng, chàng đã lấy làm nản lòng. Vì sự thực, cái thành phố Hải Phòng này không thể gây cho chàng chút thiện cảm nào. Người ở đây chàng không thích và cả đến cảnh nữa. Chẳng biết những phong tục của bến ở vô số chỗ bến khác mà chàng sẽ có dịp được đến viếng thì sẽ như thế nào, chứ ở cái bến Hải Phòng này chàng không muốn ngừng chân lại tí nào. Tất cả vàng của thế giới và tất cả tình yêu đắm đuối tôn thờ của một mĩ nhân sinh trưởng ở cái tỉnh đồng chua nước mặn này cũng không thể làm cho Sương sống ở đây lấy một tháng. Cái gì mà người ta sống như ăn cướp, và nhà gạch ở mọi phố thì cái nào cũng giống cái nào. Hai tầng không cổng, chủ nhà trên đã có cầu thang thông ra đường. Trông như một lũ hộp. Và cao lâu[1], và ồn ào. Ăn sáng, ăn trưa, ăn đêm, cốt lấy nhiều, không cần lấy ngon. Người thì lại càng tai hại lắm. Đàn bà chỏng lỏn đanh đá, đàn ông thì hầu như tay chơi hết. Thứ nhất là từ khi có người Tàu sang lánh nạn, đổ xô vào cái bến này, cái giá trị đạo đức và tinh thần của con người hồ như đã tiêu hết. Nhớ đến tên một ít phố xóm, Sương lại càng thấy rằng ở đây người ta không thể làm thơ được vì bất cứ một lẽ cao hứng gì. Ở, cái gì mà lại ngõ Cô Ba Chìa, phố Ông Đồng Lùn, ông Lênh Cả, phố Từng Từng, Phọng Bớp, Cánh Gà trong, Cánh Gà ngoài, và cầu kiểu gì mà gọi là cầu Ca Rông. Ca Rông là cái gì? Hay là tên cái anh lái đò sông Hắc Thuỷ cho linh hồn người chết dưới âm phủ? Lại còn cái cầu Hạ Lý nữa. Trông như một cái máy chém đứng trên một con sông đen bẩn.
Sương lại nhớ đến một câu vè của lính khố đỏ tòng chinh qua Pháp hai mươi lăm năm về trước: “Anh nói ra đau đớn trong lòng. Vợ con có biết Hải Phòng là đâu...”.
Theo Bạch ra Phòng để lấy sổ làm tàu, Sương đã có dịp nói xấu đất cảng một cách tàn nhẫn. Bạch mỉm cười:
- Anh có nhiều thiên kiến lắm. Gọi là thương khẩu thì ở đâu mà chẳng thế. Tình thế thương mại và kỹ nghệ đã gây cho Hải Phòng một không khí đặc biệt. Ở đây, tuy anh không trở nên nghệ sĩ được, nhưng nếu anh đi buôn thì anh lại thấy thú vô cùng. Rồi anh còn được xem cái phố Cabennière ở Marseille. Người ở đây nói róc và tai ngược, dở dáo đã thấm gì. Rồi anh còn được xem những xóm dưới của New York, San Francisco, Hoành Tân, Thượng Hải và Hambourg, Rotterdam, v.v.. Phong tục thương khẩu thì đâu cũng vậy. Anh cứ muốn ai cũng đi tìm thơ như mình. Chỉ tổ tự mình đầu độc cuộc sống tinh thần của mình thôi. Cũng là một cái dịp tốt để cho anh tập sống với người chung quanh. Người lữ khách hoàn toàn, không nên yêu cảnh nào lắm, và thứ nhất là không nên ghét thù một cảnh nào ra mặt. Bởi vì thường hay ghét của nào, Thượng Đế lại trao của ấy cho ta. Còn ai ghê tởm Djibouti bằng tôi nữa. Vậy mà chính tôi lại bị “nhỡ” ngay ở chính Djibouti mất đâu sáu bảy tháng. Không có anh cặp-rằng bạn “sang sổ” đánh đổi cho thì có lẽ giờ tôi đã là chủ tiệm chết già ở Djibouti rồi.
Rồi Bạch còn đùa thêm Sương đang bực mình:
- Không có cái sông này trổ ra bể lớn, không có bến Hải Phòng thì anh xông ra khơi bằng con đường nào? Chẳng lẽ lại tìm con đường xa, mỗi lúc lại phải mất công vào tận Sài Gòn. Lấy ở trong ấy chật vật hơn ngoài này. Tôi đã lấy hộ sổ cho thì lấy ở đâu cũng xong cả. Nhưng thực sự, lấy ở Sài Gòn vẫn lâu hơn. Ở trong ấy, nhiều người đòi đi hơn ngoài ta.
Sương vẫn nằm dài trên giường, khoan khoái thở khói lên trần nhà. Sớm nay chàng đã ngâm mình rất lâu trong cái bồn nước tắm của khách sạn.
Bồn nước bằng sứ trắng, đựng nước ấm đến ba phần tư lòng bồn. Sương nhảy vào bồn, ngâm lút cả mình, chỉ trừ có mũi, mắt và điếu thuốc lá là nhô lên mặt nước. Sương đang ngây ngất hoang mang tự ví mình là một cái tàu - một cái tàu chỉ còn chờ con nước thuỷ triều dâng lên là kéo neo - và cái điếu thuốc lá vờn khói trắng đang ngậm là một cái ống khói, tí nữa người ta đổ nhiều tấn than đá vào lò là tuôn khói đen khác, là tàu quay đít, là còi réo ran, là người ta có thể vứt lại sau lưng người ta bao nhiêu sự đời ở đây.
Nằm trên giường, bấy giờ Sương nối điếu thuốc khác, lại muốn đi tắm lại để lơ mơ thêm trong đầu óc. Bỗng chàng vùng dậy, mở va ly tìm cuốn sổ làm tàu. Chàng không tin ở mình, chỉ sợ sổ lạc mất, mặc dầu chàng nhớ đã cất nó xuống đáy va ly. Nếu mất sổ thì khổ lắm, thì chàng đến điên mất, thì chàng còn làm ăn gì được nữa, thì đến quyên sinh. Hầy, cái cuốn sổ vẫn y nguyên trong cái phong bì giấy dày dạn. Sương bấm vào mép sổ, cho những trang giấy in bật bật đổ xuống rất nhanh theo một chiều, như lối ngày nhỏ đi học chơi lối xi-nê-ma giở sách có hình vẽ tiếp. Vui mắt ra phết. Chàng lại làm lại. Rồi chàng ngắm cái ảnh 4x6 của mình. Chàng cho mình là đẹp lắm. Cái ảnh này là ảnh chụp đẹp nhất trong những tấm ảnh vụn vặt chụp từ ngày đi thi Tuyển Sinh cho đến giờ. Cái hiệu ảnh ở phố Hạ Lý rửa nước ảnh già quá, lúc giao ảnh tưởng thế nào khách hàng cũng chê bai, chủ hiệu đã tìm câu nói dối vô lý để bênh vực cho tài nghệ của hàng mình. Ông chủ hiệu ảnh ấy hơi ngạc nhiên. Vì không những không kỳ kèo, ông khách lại còn vui vẻ một cách thành thực và ngắm mãi cái ảnh đen tối quá. Sương đã cho là với tấm ảnh ấy, chàng đã được đẹp nhất trong đời chàng. Cái nước ảnh bồ hóng này là chụp đúng cái nước da tắm nắng gió của người giang hồ. Mặt Sương giờ đã tráng bệch như mặt một “thằng Giồng” như mặt đứa con cầu tự, nhưng mai kia cũng phải đen như thế. Người con trai nước da có ngăm ngăm thì mới là có cái đẹp khoẻ của giống đực, thì mới có khí phách trượng phu.
Từ chiều, Bạch đi chơi không dặn gì Sương cả. Mãi đến khuya Bạch mới về. Sương vẫn còn bật đèn thức.
- Tôi đang bận nghĩ cái tương lai giang hồ, đâu có thời giờ để bụng đến những chuyện linh tinh ấy.
- Giỏi.
- Anh đi rồi không biết tại sao nằm một mình ở nhà, tôi thấy sốt ruột quá.
- Anh sốt ruột là phải. Anh có biết con tàu Compiègne hiện đang đậu ở bến đây không?
- Có. Và đến bữa 26 này thì nhổ neo qua Marseille chứ gì? Nhưng mà có chuyện chi mà tôi coi bộ anh băn khoăn bận bịu quá như vậy?
- Anh lấy xong được số hàng hải mới là được có một đoạn. Anh còn phải nghĩ đến cái đoạn khác tiếp tục ngay vào đấy. Nếu có cơ hội đi luôn chuyến Compiègne này thì anh có chịu đi không? Hay là đợi chuyến sau? Đợi tàu to hơn, sang hơn? Chiếc này xoàng lắm. Tôi đã làm ở đấy rồi.
Sương nhảy chồm dậy, hỏi dồn Bạch. Bạch không trả lời thẳng, chàng thủng thỉnh nói:
- Bởi vì tôi thấy có lắm người có sổ hẳn hoi rồi mà gặp chuyến tàu đi lấy người làm, mà vẫn chưa chịu đi vội. Họ còn muốn nấn ná ở lại, để đi thăm bà con và từ giã chúng bạn nữa chứ. Cái đó cũng là thường tình con người ta. Người giang hồ vốn lại là kẻ nhiều tình.
- Ai bảo anh như vậy? Tôi hiểu cái lối nói mát của anh rồi. Anh quên mất cái câu hôm nọ chính mồm anh nói với tôi: “Người du sĩ mà hay bộc lộ tình cảm ra, thường chỉ làm hỏng việc giang hồ lớn. Mỗi một lần gặp một cái đẹp gì cám dỗ, lại cứ trả lời, thì là rẽ ngang, thì là bỏ neo”. Vậy tôi nói rõ cho anh biết rằng tôi không nấn ná gì cả. Tôi không từ giã ai cả, tôi không kể tàu đẹp tàu xoàng. Vả chăng tôi không có một người nào có quyền đòi hỏi ở tôi một lời chào. Tôi đi chuyến Compiègne này đấy. 26 này tàu chạy phải không anh? Bốn hôm nữa, cuộc đời tôi... Trời ơi, từ nay tôi sẽ yêu thương tôi biết chừng nào.
Bạch cười:
- Anh quên mất một người có rất nhiều quyền về chỗ bắt buộc anh phải đến chào trước khi đi. Người vị hôn thê anh mà trong cái ảnh đưa xem hôm họ, tôi phải tin là đẹp và hiền lắm.
- À, anh nhầm. Nếu lần này, anh cày cục cho tôi đi lọt chuyến Compiègne này, tôi cố tình không từ giã vợ chưa cưới của tôi. Nếu còn bịn rịn chào rồi tiễn nhau sướt mướt thì còn đi với đứng gì nữa. Tôi biết rõ tôi còn có những nhược điểm ấy lắm. Bởi thế, xong được việc lấy sổ một cách nhanh chóng như thế, tôi cám ơn anh vô cùng. Chỉ độ ba bốn tháng nữa thì ông bà bắt tôi phải lấy vợ. Mà tôi đã có vợ rồi, thì tôi không có đi đâu nữa. Sẽ xây hạnh phúc, sẽ nghĩ ra những trách nhiệm mà gánh lấy, sẽ tìm cái vui và lành ở người vợ. Sẽ coi người vợ như một thế giới riêng, mỗi ngày mỗi tìm tòi và canh giữ. Nếu việc đi của tôi phải lần khân kéo dài ra mãi, rồi đùng một cái, thày mẹ tôi bắt nổ pháo làm lễ thành hôn thì là xong. Thế là gọn kiếp. Tôi sẽ không thể đi đâu được nữa. Và lúc lập gia đình rồi nếu có phải đi thì lại cả hai vợ chồng cùng đều đi cả kia.
- Hà, cái đó mới vui, mới ngộ.
- Tôi nói câu này anh đừng giận nhá. Tôi vẫn phục anh là người lỗi lạc, sống một cách đặc biệt không giống ai và không cho ai bắt chước được mình, chết là mang cả cái bản chính đi chứ không để lại một bản sao nguyên cảo nào hết. Nhưng tôi không bắt chước anh được, mặc dầu anh và tôi đối với phiêu lãng, đều chung một ý tưởng. Mỗi chúng ta đều có những hoàn cảnh riêng nó chi phối mình.
- Thôi, đủ rồi. Vậy tôi làm cho anh đi kịp chuyến tàu Compiègne này. Nhưng... nhưng phải có tiền. Coi bộ anh thì cũng chẳng còn mấy đồng nữa. Mà tôi thì độ này, quẫn lắm rồi. Tháng trước đã phải bán mất cái đèn điện quả địa cầu. Mua hai nghìn quan ở hiệu sách tây. Lúc bán lại được bảy chục bạc.
Bạch giơ luôn tay trái ở ngón giữa có một cái nhẫn vàng trắng khắc trũng hình một con cú đậu và bảo Sương.
- Rồi cái nhẫn này, có lẽ cũng đi nốt vào hiệu kim hoàn nào... Anh có thể kiếm được bảy tám chục bạc nữa không? Cẩn, làm cặp rằng ở dưới Compiègne, bạn làm bể cũ của tôi, nói phải ít ra là năm chục thì họ mới chịu nhường chỗ cho. Ấy là giá nội. Thế rồi còn khấn vặt anh em ở dưới ấy, thế rồi anh còn phải sắm sửa ít đồ vật vặt vặt lúc xuống tàu, lấy cái mà dùng chứ.
Câu chuyện đến đây tắt. Sương và Bạch đều lên giường nằm. Sương lấy làm khó nghĩ. Giá kỳ hạn nộp tiền được rộng ngày hơn thì chàng có thể kiếm được gấp mấy thế nữa. Nhưng từ hôm nay đến ngày 26, chỉ còn vẻn vẹn có 4 hôm, tàu Compiègne nhổ neo, làm sao cho kịp được. Trong đầu Bạch, hiện ra hình ảnh vị Mạnh Thường Quân. Thằng Tần - bạn học cũ của chàng - hiện giờ làm chủ sự nhà Giây Thép Vàng Danh ngoài Uông Bí. Mà hình như Sương nó cũng quen Tần.
- Này Sương, Tần ngoài Vàng Danh đối với anh như thế nào?
- À, thôi phải rồi anh ạ. Hay là chúng ta ra Uông Bí cầu cứu hắn. Lú hẳn đi, anh không nhắc đến tên thì tôi quên mất người bạn tốt này. Tôi với Tần, tiêu chung tiền của nhau đã nhiều lần.
- Vậy thì ngày mai trả buồng. Đi ô tô ra Uông Bí chuyến thứ nhất. Ngày giờ kíp lắm.
[1] Hiệu ăn.
