Một chương Nicholas Nickleby của Charles Dickens
Chương 8
Về chuyện quản lý kinh tế ở trường Dotheboys
Nếu thiên tài nào nghĩ ra được cách tuyệt hảo nhất nhằm biến một cái giường cứng quèo thành êm ái, thì đấy chính là vượt một quãng đường hai trăm dặm có lẻ trong thời tiết khắc nghiệt. Thậm chí làm thế còn khiến giấc mơ của ta thêm dễ chịu, bởi những giấc mơ lơ lửng bên trên Nicholas và thì thầm những điều hư rỗng vào tai chàng đều rất dễ chịu và tươi sáng. Chàng đang mơ thấy mình làm giàu rất nhanh, thì bỗng một ngọn nến tàn lập lòe hiện lên trước mắt chàng, cùng một giọng nói mà chàng nhận ra ngay là giọng của Squeers, bảo với chàng rằng đã đến giờ dậy rồi.
“Quá bảy giờ rồi Nickleby,” Squeers nói.
“Đã sáng rồi ư?” Nicholas ngồi dậy.
“Ừ! đúng rồi,” Squeers đáp, “kịp lạnh khiếp vía rồi đấy. Đi nào cậu Nickleby; dậy nhanh nào.”
Không cần giục đến lần thứ hai, Nicholas nhỏm dậy và thay đồ trong ánh nến lờ mờ tỏa ra trên tay ông Squeers.
“Giờ mới đến công chuyện này,” Squeers nói; “bơm nước đóng băng rồi.”
“Thật ư!” Nicholas nói, nghe tin ấy mà không ngạc nhiên lắm.
“Ừ,” Squeers đáp. “Sáng nay thì không rửa ráy được rồi.”
“Không ư?” Nicholas kêu lên.
“Không, phải chịu thôi,” Squeers đáp gọn lỏn. “Cậu cứ lau người không nước vậy, chờ chúng tôi phá băng trong giếng để lấy một xô lên cho bọn học trò. Đừng đứng đực ra đấy nhìn tôi nữa, nhanh tay lên được không?”
Nicholas không hỏi gì nữa mà khẩn trương mặc quần áo. Trong lúc ấy thì Squeers mở cửa sổ chớp rồi thổi tắt nến; có tiếng người vợ thảo ngay của ông vang lên ở hành lang hỏi xem vào được chưa.
“Vào đây em yêu,” Squeers nói.
Bà Squeers đi vào, vẫn mặc nguyên bộ đồ ngủ khoe ra sự cân xứng của cơ thể bà hồi tối hôm, được trang trí thêm một cái mũ bon nê da hải ly kiểu cổ bà đội khá thoải mái bên trên cái mũ ngủ mà chúng ta đã nói đến.
“Tổ sư,” bà chủ nói, tay mở chạn. “Không thể tìm được cái thìa đâu.”
“Kệ đi em yêu,” Squeers đáp, giọng vỗ về; “có gì nghiêm trọng đâu.”
“Không nghiêm trọng cái đầu nhà anh!” bà Squeers vặc lại luôn; “không phải hôm nay là ngày ăn lưu huỳnh à?”
“Ô anh quên mất,” Squeers đáp; “đúng rồi. Này cậu Nickleby, ở đây chúng ta sẽ tẩy máu định kỳ cho bọn trẻ.”
“Tẩy cái con khỉ nhà anh,” bà vợ nói. “Này cậu, đừng có nghĩ chúng tôi bỏ tiền ra mua lưu huỳnh với mật đường chỉ để tẩy máu đấy; nếu cậu nghĩ ở đây làm ăn như vậy thì cậu nhầm to rồi, nên tôi nói thẳng ra cho cậu hay.”
“Em ơi,” Squeers cau mày. “E hèm!”
“Xùy! rách việc,” bà Squeers đáp. “Nếu cậu ta định làm thầy giáo ở đây thì nên nói toẹt với nhau từ đầu đi: ở đây chúng tôi không làm mấy trò thừa hơi với lũ trẻ ranh. Chúng uống lưu huỳnh với mật đường vì nếu không có tí thuốc gì đó vào người thì chúng sẽ ốm yếu dặt dẹo gây ra đủ thứ phiền phức, thêm nữa là uống như thế chúng bớt thèm ăn, đỡ tốn tiền ăn sáng ăn tối. Tức là lợi đơn lợi kép, rất công bằng.”
Giải thích như vậy xong bà Squeers liền lục lọi tìm cái thìa với sự giúp sức của ông Squeers. Hai người ấy vừa làm vừa trao đổi gì đó với nhau, nhưng tiếng của họ bị át đi bởi âm thanh lọc xọc từ trong tủ nên Nicholas không nghe rõ họ nói gì, chỉ lờ mờ hiểu ông Squeers bảo bà Squeers rằng nói như vừa rồi là dại miệng, còn bà Squeers thì bảo ông Squeers là nói vớ vẩn.
Sau khi tìm kiếm lục lọi một thôi một hồi mà vẫn không ra cái thìa, họ gọi Smike vào rồi hết bà Squeers xô lại đến ông Squeers vả; hình như làm vậy giúp đầu óc cậu này sáng ra hơn một tí thật, vì cậu bảo rằng hay là có khi bà Squeers để thìa trong túi áo mà quên mất, hóa ra đúng là thế thật. Nhưng bà Squeers trước đó đã khăng khăng bảo là bà không cầm, thành thử Smike ăn thêm một vả nữa vì dám cãi lời bà chủ, cùng lời hứa hẹn nếu sau này mà không cư xử tử tế hơn thì cứ liệu cái thần hồn, ông bà đánh cho tuốt xác ra.
“Một người phụ nữ vô giá đấy, cậu Nickleby,” Squeers nói khi vợ ông hùng hổ rời khỏi phòng, xô Smike đi phía trước.
“Đúng thật, thưa ông!” Nicholas đáp.
“Tôi không thể tìm được ai như bà ấy,” Squeers nói; “vô song. Cậu Nickleby này, bà ấy luôn luôn như vậy đấy, luôn là một con người năng nổ, hoạt bát, lăng xăng và tiết kiệm như cậu vừa thấy.”
Nicholas bất giác thở dài khi nghĩ đến cảnh tượng gia đình đầm ầm vừa được mở ra trước mắt chàng; nhưng may là Squeers còn đang đắm chìm vào những ý nghĩ của ông nên không nghe thấy.
“Lúc tôi ở London, tôi vẫn thường nói đấy,” Squeers nói tiếp, “đối với đám trẻ bà ấy giống như người mẹ vậy. Nhưng sự thực là: bà ấy còn hơn cả một người mẹ ấy chứ; phải gấp mười lần hơn. Cậu Nickleby ơi, bà ấy làm cho bọn trẻ những thứ mà tôi không tin là có đến nửa số bà mẹ sẽ làm cho con ruột của mình.”
“Tôi cũng nghĩ họ sẽ không làm đâu, thưa ông,” Nicholas đáp.
Sự thực là vợ chồng nhà Squeers đều xem đám trẻ con như thiên địch của mình; nói cách khác, họ xem nghề của mình là vắt hết tất cả những gì có thể vắt được từ một đứa con nít. Ở điểm này, ta phải gọi là thuận vợ thuận chồng tát trẻ con vỡ mặt. Điểm khác biệt duy nhất giữa họ là trong khi bà Squeers công khai và gan dạ gây chiến với kẻ địch, thì ông Squeers lại giấu giếm thói côn đồ của ông ngay cả khi ở nhà bằng những lời lươn lẹo thành thói; như thể ông thực sự nghĩ rằng cứ lươn lẹo như thế một ngày nào đó ông sẽ tự lừa được chính mình, sẽ tin rằng mình là một người rất mực thiện lương.
“Nhưng thôi,” Squeers nói, ngắt đứt mạch suy nghĩ đang tiến dần đến kết luận tương tự trong đầu trợ giáo của ông, “ta đến lớp học nào; cậu giúp tôi mặc cái áo thầy giảng với!”
Nicholas giúp ông thầy mặc một cái áo khoác cũ bằng vải thô trước đó treo trên móc ở lối đi; Squeers sau khi võ trang thêm một cái gậy thì dẫn Nicholas băng qua một cái sân, tới một cánh cửa ở đằng sau ngôi nhà.
“Đây,” ông hiệu trưởng nói khi họ bước vào phòng cùng nhau; “đấy chính là công việc của chúng ta đó, cậu Nickleby ạ!”
Thật là một cảnh tượng khá chật chội, có quá nhiều thứ lọt vào tầm mắt đến nỗi mới đầu Nicholas cứ trố mắt ra mà chẳng nhìn được cái gì hết. Tuy nhiên dần dà chàng cũng nhận ra đây là một căn phòng bẩn thỉu chẳng có đồ đạc gì hết, chỉ có hai cái cửa sổ, mỗi cái còn được một ô kính lành lặn, còn lại thì được dán bằng giấy xé ra từ sách. Có hai cái bàn dài ọp ẹp từ đời cổ lai hy, đầy vết cắt vết khía vết mực, thôi thì không thiếu kiểu phá hoại nào; có hai ba cái ghế dài; một cái bàn rời cho Squeers và một cái khác cho trợ giáo. Trần nhà cũng có rui kèo tương tự như ở nhà kho, còn mấy bức tường thì ố bẩn và bạc phếch đi đến độ không thể biết được ngày xưa chúng được sơn hay quét vôi.
Nhưng đám học trò - những quý cậu quý anh! Ôi những hy vọng mong manh cuối cùng, ánh sáng yếu ớt nhất xa xôi nhất của cái thiện những mong nảy sinh nơi hầm hố này, tất cả tan biến vĩnh viễn khỏi tâm trí Nicholas khi chàng hoảng hốt nhìn xung quanh! Những gương mặt hốc hác nhợt nhạt, những thân hình gầy gò xương xẩu, những đứa trẻ mặt trông như các ông già, những đứa dị tật phải đeo khung sắt, những đứa còi cọc không lớn nổi, những đứa mà đôi chân cò hương chỉ vừa xoẳn đỡ được phần thân lom khom, tất cả tập hợp trong một căn phòng duy nhất; chàng nhìn thấy những con mắt đã kịp hỏng, những cái môi kịp sứt, những cái chân kịp khoèo, cùng mọi thứ dị dạng xấu xí cho thấy một mối thâm thù khác thường của cha mẹ với con cái mình, hoặc cho thấy những đứa trẻ này từ thuở lọt lòng đã phải chịu bị đối xử thờ ơ hoặc tàn bạo đến nhường nào. Có các khuôn mặt nhỏ đáng lẽ sẽ xinh xắn lắm, nhưng giờ đây tối om om một vẻ cau có của kẻ bị đánh đập triền miên; có những tuổi thơ mà ánh sáng trong mắt đã tắt lịm, mà vẻ đẹp đã biến mất mãi mãi, chỉ còn thân phận bơ vơ là ở lại; lại có những đứa trẻ có gương mặt ác độc, đôi mắt lì lợm đầy hăm dọa giống như đám bất lương trong một nhà tù; lại có những sinh vật non nớt phải gánh chịu tội lỗi từ những cha mẹ suy đồi của mình, sụt sùi nhớ tiếc ngay cả những ngày tháng ở trại vú nuôi[1], cảm thấy cô độc ngay cả trong nỗi cô độc của chúng. Bao nhiêu tình yêu trìu mến bị hủy diệt từ trứng nước, bao nhiêu xúc cảm mơn mởn tươi tắn chết yểu vì đòn roi và đói khát, bao nhiêu ham muốn trả thù nung nấu trong những trái tim đau khổ đang kín đáo gặm nhấm bản tính con người; nơi này đúng là một cái lò ấp địa ngục!
Đau đớn là thế, xót xa là thế, vậy nhưng cảnh tượng này vẫn có những chỗ thật quái dị, có thể khiến một người hờ hững hơn Nicholas phải mỉm cười. Bà Squeers đang đứng ở một đầu bàn, bên cạnh một cái chậu to tướng đựng đầy mật trộn lưu huỳnh, rồi đút từng thìa lớn cho từng đứa con trai một: bà làm thế bằng một cái thìa gỗ, lòng thìa rất to nên bành rộng miệng của đám con trai ra: bọn chúng phải nuốt ngay phần của mình trong một lượt, nếu không muốn bị đánh đập tàn nhẫn. Ở một góc phòng, rúm ró lại với nhau là mấy thằng bé vừa đến đêm hôm qua, ba đứa mặc quần túm da rất to, hai đứa mặc quần dài cũ nhưng rất chật; ngồi ngay gần đó là thằng con trai vị thành niên của ông Squeers - nom giống hệt ông bố - đang hùng hổ đá vào Smike lúc này đang cố đi cho nó một đôi giày mới nom giống đến đáng ngờ đôi giày mà thằng bé nhỏ nhất đã đi khi tới đây hôm qua - hẳn thằng bé cũng nghĩ như vậy bởi nó nhìn cảnh người khác đi giày của nó với một vẻ kinh ngạc mếu máo. Ngoài ra, còn một đám con trai xếp hàng chờ bón mật với vẻ mặt không được háo hức cho lắm; lại có thêm một hàng nữa đã được bón mật lúc này mồm miệng méo xệch đến độ khó mà nói chúng thấy ngon lành gì được. Tất cả đám con trai ấy đều mặc những áo quần quái đản lộn xộn chẳng ăn nhập gì với nhau đến độ nếu không vì vẻ bẩn thỉu nhếch nhác ốm bệnh ở chúng thì người ta đã phải bật cười.
“Nào,” Squeers nói, cầm can gõ lên bàn, khiến một nửa đám trẻ con giật nảy mình, “uống thuốc xong chưa?”
“Xong ngay đây,” bà Squeers nói, nhồi vội thìa mật cho thằng bé cuối cùng, rồi cầm cái thìa gỗ quất vào đầu nó. “Đây, Smike; đem cất đi, mau lên!”
Smike ôm cái chậu lết đi, còn bà Squeers sau khi gọi một đứa nhỏ tóc xoăn cho bà chùi tay thì đi theo Smike vào một phòng có vẻ là phòng giặt rửa vì thấy có một đống lửa nhỏ, một ấm nước rất to cùng rất nhiều bát gỗ nhỏ xếp trên một cái bàn.
Có Smike giúp một tay, bà Squeers múc vào những bát ấy một thứ hồ nâu sền sệt trông gớm chết, mà bà gọi là món cháo yến mạch. Mỗi bát được cắm vào một mẩu bánh mì bé bằng đầu ngón tay, và khi đám trẻ dùng bánh mì ăn cháo thì chúng cũng ăn cả miếng bánh mì luôn, thế là xong bữa sáng; đến lúc đó ông Squeers nói bằng giọng trang nghiêm, “Cầu Chúa cho chúng con biết ơn những gì chúng con nhận!” - rồi ông đi ăn phần của mình.
Nicholas cũng ăn một bát cháo cho có gì vào bụng, giống như người man di nuốt đất vào những lúc không có gì ăn. Ăn thêm một lát bánh mì với bơ nữa được phát thêm cho trợ giáo, chàng ngồi im chờ đến giờ vào lớp.
Chàng không thể không nhận ra đám trẻ hình như đều rầu rĩ im lặng. Không có bất cứ tiếng huyên náo nào như trong một lớp học bình thường; không có cảnh nồ giỡn hay đuổi bắt. Những đứa trẻ co quắp run rẩy cùng nhau, còn chẳng có cả ý chí chỉ để nhúc nhích. Đứa học trò duy nhất tỏ ra thích vận động hay nghịch ngợm là cậu Squeers, và bởi trò giải trí chủ yếu của cậu là dùng đôi giày mới của mình giẫm lên ngón chân những đứa khác, thành thử vẻ hoan hỉ của cậu gây ngứa mắt nhiều hơn.
Sau chừng nửa tiếng, Squeers quay lại, đám trẻ liền ngồi vào chỗ và lấy sách của chúng ra với tỉ lệ một cuốn sách tám đứa dùng chung. Vài phút trôi qua, trông ông Squeers có vẻ trầm tư lắm lắm, như thể ông lĩnh hội hoàn hảo tất cả những gì viết trong sách và có thể đọc thuộc lòng nội dung nếu muốn. Rồi ông gọi lớp nhất lên.
Nghe lệnh thế thì có chừng sáu thằng bé ăn mặc rách rưới đầu gối khuỷu tay thòi ra hết cả, lên xếp hàng trước bàn thầy hiệu trưởng; một đứa đặt một quyển sách tả tơi bẩn thỉu trước ánh mắt uyên bác của ông Squeers.
“Cậu Nickleby, đây là lớp nhất môn đánh vần và triết học,” Squeers nói, bảo Nicholas đến đứng cạnh ông. “Chúng ta sẽ có một lớp Latinh, lớp đấy sẽ giao cho cậu. Nào, đứa nhất đâu rồi?”
“Thưa thầy, nó đang lau cửa xổ phòng hậu,” lớp trưởng lâm thời của lớp triết học nói.
“Phải rồi, phải rồi,” Squeers đáp. “Ở đây chúng tôi dạy bám sát với thực tế và lấy người học làm trung tâm, cậu Nickleby ạ; giáo dục phải như thế mới hiệu quả được. Au, Lờ au lau, động từ, tức là cọ rửa, làm cho sạch. Ưa, cờ ưa cưa hỏi cửa, xờ ô xô hỏi xổ, cửa xổ. Học từ mới nào là học trò sẽ đi thực hành luôn. Tôi gọi đấy là dạy học tích cực, cậu Nickleby ạ. Thế đứa thứ hai đâu?”
“Thưa thầy nó đang đi nhổ cỏ ngoài vườn,” một đứa khẽ đáp.
“Đúng rồi,” Squeers nói, không chút lúng túng. “Đúng là nó đang nhổ cỏ. Thơ ao thao hỏi thảo, vờ ất vất nặng vật, thảo vật, tức là kiến thức về cây cỏ. Biết được thảo vật là kiến thức về cây cỏ là trò đó ra ngoài thực hành luôn. Cậu thấy phương pháp sư phạm của chúng tôi có hay không cơ chứ?”
“Đúng là rất được việc,” Nicholas đáp.
“Cậu nói thế là phải lắm,” Squeers đáp, không mảy may nghĩ câu đó có thể mang nghĩa khác. “Đứa thứ ba nào, ngựa là gì?”
“Là con vật, thưa thầy,” thằng bé đáp.
“Đúng lắm,” Squeers nói. “Nickleby, cậu thấy thế có đúng không?”
“Tôi tin đó là điều rất đương nhiên rồi, thưa ông,” Nicholas đáp.
“Không thể sai được,” Squeers nói. “Ngựa là động vật bốn chân, mà bốn chân[2] trong tiếng Latinh là con vật. Bất cứ ai học qua ngữ pháp thì đều biết cái đó, nếu không thì người ta học ngữ pháp làm chi nữa?”
“Cũng phải!” Nicholas lơ đễnh đáp.
“Trò đã thuộc như thế rồi,” Squeers nói tiếp, quay sang thằng bé, “thì mau đi chải lông cho con ngựa của ta đi, chải cho tử tế vào không thì đến lượt ta chải trò đấy. Những đứa còn lại đi kéo nước cho đến khi được nhắc dừng, mai là ngày giặt rửa đấy, thùng phải đầy nước mới được.”
Nói thế xong ông giải tán lớp nhất để chúng đi thực hành triết lý, rồi nhìn Nicholas bằng một ánh mắt nửa xảo quyệt nửa nghi ngờ, như thể ông không chắc chàng trai này đang nghĩ gì về mình.
“Ở đây chúng ta làm như thế đấy, cậu Nickleby,” sau một hồi im lặng, ông nói.
Nicholas nhún vai khẽ đến nỗi gần như không thể nhận ra, rồi bảo chàng đã thấy rồi.
“Phương pháp này rất là hiệu quả đấy,” Squeers nói. “Giờ thì tập hợp mười bốn đứa nhỏ cho chúng đọc bài đi. Cậu cũng phải làm việc thôi, như các cụ bảo ấy: tay làm thì hàm nhai, tay quai miệng trễ.”
Khi nói thế, hình như ông Squeers bất chợt nghĩ, hoặc là ông không được nói quá nhiều với trợ giáo của mình, hoặc là trợ giáo đã không đủ lời tán dương trường của ông. Đám trẻ con tập hợp thành nửa vòng tròn trước mặt thầy mới, phút chốc chàng đã được nghe tiếng đọc bài uể oải, ấp úng những câu chuyện hết sức thú vị chỉ có thể tìm thấy trong những sách đánh vần từ thời nảo thời nào.
Công việc hào hứng đến độ buổi sáng kéo dài mãi không hết được. Đến một giờ, đám trẻ con do trước đó đã mất sạch cảm giác thèm ăn nhờ món cháo yến mạch và khoai tây, lúc này ngồi xuống ăn một món hình như là thịt bò muối rất dai. Nicholas thì được ăn riêng ở một bàn. Sau giờ ăn, đám trẻ lại co quắp run rẩy trong phòng học thêm một tiếng nữa thì giờ học mới lại bắt đầu.
Lệ của ông Squeers là sau mỗi chuyến lên thủ đô nửa năm một của mình ông sẽ tập hợp đám con trai lại và nói về những người thân bạn bè ông gặp, tin tức ông nghe được, các thư từ ông đem về, những hóa đơn nào đã trả và hóa đơn nào chưa, vân vân. Sự kiện long trọng này luôn diễn ra vào buổi chiều sau hôm ông trở về; có lẽ là để đám trẻ con học cách kiềm chế nỗi sốt sắng, mà cũng có thể là để ông Squeers cứng rắn và bớt nhân nhượng với lũ trẻ nhờ vào chỗ rượu ông thường nốc sau bữa sớm. Dù là thế nào đi nữa thì tất cả những đứa đi lau cửa sổ, coi ngựa, làm vườn, trông bò đều được gọi về và cả trường tập hợp đầy đủ. Squeers cầm một bó giấy trên tay, còn bà vợ thì cầm theo hai cây gậy đi vào phòng yêu cầu tất cả trật tự.
“Đứa nào hở ra một câu mà không xin phép,” ông Squeers ôn tồn bảo, “thì ta đánh cho tuốt xác.”
Tuyên bố này đem lại kết quả rất đúng ý ông, cả phòng lập tức im lặng như chết. Rồi Squeers nói tiếp:
“Các trò, ta đã từ London trở về với gia đình và các trò rồi đây.”
Theo tục lệ, đám trẻ reo lên ba tiếng yếu ớt trước cái tin tuyệt vời ấy. Những tiếng reo thật chẳng khác nào tiếng thở hắt run rẩy.
“Ta đã gặp cha mẹ vài đứa,” Squeers nói tiếp rồi giở mớ giấy ra, “cha mẹ mấy đứa rất hài lòng khi biết mấy đứa được chăm sóc rất tử tế, nên tất cả các gia đình vẫn sẽ tiếp tục gửi mấy đứa ở đây, phải thấy đấy là lựa chọn tuyệt vời cho tất cả mọi người.”
Hai ba đứa đưa tay ôm mặt khi nghe Squeers nói thế, nhưng phần lớn đám trẻ ấy đều chẳng còn nhớ mặt cha mẹ mình nữa, nên hoàn toàn thờ ơ.
“Tuy nhiên cũng có vài chuyện không như ý,” Squeers nói, gương mặt trở nên dữ tợn; “bố Bolder thiếu của ta hai bảng. Bolder đâu?”
“Nó đây thưa thầy,” hai chục đứa lăng xăng tranh nhau trả lời. Đàn ông với trẻ con có vẻ cũng chẳng khác nhau là mấy.
“Lên đây, Bolder,” Squeers nói.
Một đứa trẻ ốm yếu, hai bàn tay đầy mụn cóc, bước tới bàn thầy hiệu trưởng rồi hướng ánh mắt cầu xin của nó nhìn Squeers. Mặt nó trắng bợt, có thể nghe được tiếng tim nó đập thình thịch.
“Này Bolder,” Squeers nói rất chậm, vừa nói vừa nghĩ xem nên dùng từ ngữ thế nào. “Này Bolder, nếu bố trò nghĩ rằng chỉ vì... này, cái gì kia?”
Squeers chộp lấy cổ tay áo thằng bé rồi săm soi với một vẻ mặt kinh tởm hãi hùng rất có tính giáo dục.
“Thế này là sao?” ông hiệu trưởng hỏi, quật gậy đánh chát một cái.
“Con không làm sao được ạ,” thằng bé vừa khóc vừa đáp. “Chúng cứ lên thôi; con nghĩ đấy là do con bị giao dọn ở những chỗ bẩn - con không biết đấy là cái gì, nhưng không phải lỗi con.”
“Bolder,” Squeers vừa nói vừa xắn cổ tay áo ông lên rồi hà hơi bàn tay phải ông để nắm cây gậy cho chắc, “mày là thằng vô lại hết thuốc chữa, trận đòn trước hình như chẳng nghĩa lý gì với mày rồi, để xem lần này tao có chữa được cái tật của mày đi không.”
Nói thế xong, hoàn toàn không để tâm đến tiếng kêu van thảm thương, ông Squeers quất thằng bé túi bụi. Ông quật nữa, quật mãi, quật đến khi mỏi tay ông mới chịu dừng lại.
“Đấy,” Squeers nói; “mày cố mà kì thật lực vào, kì sơ sơ không hết được đâu. Kìa! có ngậm cái mồm lại đi không thì bảo? Smike, bắt nó ngậm mồm cho tao.”
Cậu này biết rõ là có lệnh thì chớ chần chừ, liền lôi nạn nhân ra khỏi phòng. Ông Squeers lại ngồi vắt vẻo trên cái ghế đẩu của ông, bên cạnh là bà Squeers cũng ngồi ghế.
“Để xem nào,” Squeers nói. “Có thư cho Cobbey. Cobbey đứng lên nào.”
Một thằng bé khác đừng lên, nhìn chằm chằm lá thư trong khi ông Squeers tóm tắt nội dung ghi trong ấy.
“Ồ!” Squeers bảo: “Bà Cobbey chết rồi nhé, còn cậu John thì say xỉn thường xuyên, tất cả tin tức chị trò gửi chỉ có thế, cộng thêm mười tám xu vừa đủ trả cho ô cửa sổ bị vỡ lần trước. Vợ yêu, em cầm tiền nhé?”
Vị phu nhân đức độ cầm mười tám xu bỏ tọt vào túi rất chuyên nghiệp, rồi Squeers chuyển sang lá thư gửi cho đứa tiếp theo, giọng lạnh lùng.
“Graymarsh,” Squeers bảo, “Đứng lên nào Graymarsh.”
Một thằng bé khác đứng lên, còn ông hiệu trưởng thì lại đọc lướt thư như vừa nãy.
“Bà bác ngoại của Graymarsh,” Squeers nói sau khi đã nắm được vắn tắt nội dung thư, “rất vui vì trò vẫn khỏe mạnh vui vẻ, và bà gửi lời cảm ơn rất mực cho bà Squeers, bảo rằng bà đích thực là thiên thần. Bà cũng nghĩ thầy Squeers là người quá tốt đẹp quá tử tế, bà hy vọng Chúa cho thầy được nhiều tuổi để tiếp tục nghề trồng người. Định gửi hai đôi tất dài nhưng thiếu tiền nên gửi thế vào đó một tập sách giáo lý, mong Graymarsh tin vào Đấng Quan phòng. Trên hết, bà mong cháu sẽ học hành tử tế để ông bà Squeers được vui lòng, xem ông bà như bạn bè duy nhất; cũng mong cháu bà yêu quý cậu Squeers; ngoài ra đừng phản đối ngủ năm người một giường, tín đồ Cơ đốc không ai làm vậy. Ái chà!” Squeers gấp lá thư lại mà nói, “một lá thư tuyệt vời. Cảm động thế chứ lại.”
Theo một nghĩa nào đó thì đúng là cảm động thật, bởi những bạn bè thân thiết của bà bác ngoại của Graymarsh đều đồn thổi với nhau rằng bà chính là mẹ ruột của nó; tuy nhiên Squeers không đả động đến chi tiết ấy (có vẻ như nó hơi vô luân đối với bọn trẻ con), liền gọi đứa tiếp theo là “Mobbs”, thằng bé này đứng dậy.
“Mẹ kế của Mobbs,” Squeers nói, “rất buồn phiền khi biết trò không chịu ăn thịt mỡ, thành thử cứ ốm yếu mãi. Qua thư hồi đáp tới đây bà rất muốn biết trò định thế nào nếu cứ kén cá chọn canh như vậy; cũng như tại sao trò lại có thể bịt mũi trước món canh gan bò được được thầy mình cầu phước. Chuyện này bà đọc được trên báo ở London chứ không phải nghe từ thầy Squeers đâu, thầy là người rất mực thiện lương không khi nào lại đi nói xấu như thế, và biết chuyện thì bà thấy bực bội lắm, Mobbs không biết phải trái đúng sai gì cả. Bà rất tiếc vì trò có thái độ chống đối, như thế là rất sai, bà mong ông Squeers cứ đánh thẳng tay cho con bà ngoan ngoãn trở lại; và do thấy con hư nên bà sẽ cắt luôn phần tiền tiêu vặt nửa penny mỗi tuần, con dao hai lưỡi có cái mở nút chai bà mua cho con, thì sẽ được tặng lại cho hội truyền đạo.”
“Ở đây không có cái trò sưng sỉa õng ẹo,” Squeers nói, sau một khoảng lặng đáng sợ khi ông này lại hà hơi vào bàn tay phải lần nữa. “Ở đây chỉ có vui vẻ và mãn nguyện thôi. Mobbs, lên đây!”
Mobbs chầm chậm đi tới bàn, dụi dụi mắt chuẩn bị nhận phần của mình; sau khi ăn trận đòn không kém gì đứa trước đó, thằng bé cũng đi ra khỏi phòng theo lối cửa hông.
Ông Squeers tiếp tục mở xấp thư; một số thư có tiền, được bà Squeers xử lý rất nhanh gọn; số khác nhắc đến các món trang phục như mũ nón các kiểu, tất cả chúng bà Squeers đều phán rằng hoặc là quá rộng, hoặc là quá chật, chỉ vừa với đúng một đứa duy nhất là cậu Squeers, hình thể cậu chắc phải co giãn linh hoạt lắm vì tất cả mọi thứ áo quần chui vào cái trường này đều vừa vặn với cậu như in. Đầu cậu chắc phải là một thứ siêu dẻo, vì tất cả các thể loại mũ bất kể kích cỡ đầu cậu đều nhét vừa.
Cuộc đọc thư nhà kết thúc, Squeers dạy thêm vài bài học uể oải nữa rồi ra chỗ lò sưởi ngồi để Nicholas tự xoay xở với đám trẻ trong cái phòng học lạnh cóng; bữa ăn gồm bánh mì và phó mát được đem ra sau khi trời tối hẳn.
Có một cái lò nhỏ ở góc phòng, gần với bàn giáo viên nhất. Nicholas ngồi cạnh cái lò đó, nay nhận rõ tình cảnh của mình, chàng u uất chán chường đến độ nếu lúc này tử thần có đến tìm chàng thì hẳn chàng sẽ rất hạnh phúc đi theo. Cảnh tàn bạo mà chàng vừa phải làm nhân chứng bất đắc dĩ, lối hành xử tàn nhẫn và bạo lực của Squeers ngay cả lúc ông ta vui vẻ nhất, cái chỗ bẩn thỉu nhếch nhác này, những cảnh tượng thanh âm xung quanh chàng, đều góp phần tạo nên cảm giác u uất kia; nhưng rồi chàng nhớ ra mình là trợ giáo ở đây, vậy thì dù là ma đưa lối quỷ đưa đường thế nào đi chăng nữa chàng vẫn cứ là một kẻ đồng lõa cho một bộ máy tàn nhẫn khiến chàng cảm thấy kinh tởm và công phẫn; nghĩ như thế chàng thấy hận chính mình, cảm thấy chỉ riêng cái nhận thức của chàng về vị thế hiện tại của bản thân cũng đủ khiến chàng mãi mãi không bao giờ ngẩng đầu lên được nữa.
Nhưng ý chàng đã quyết, và quyết tâm của chàng đêm hôm qua vẫn nguyên vẹn không hề lay chuyển. Chàng viết thư cho mẹ và em gái, báo rằng chuyến đi kết thúc tốt đẹp, kể rất ít về trường Dotheboys, cố lấy một giọng vui tươi phấn khởi hết mức có thể. Chàng hy vọng rằng mình có thể làm được điều gì đó tử tế ngay cả ở một nơi như thế này; vả lại, mẹ và em phụ thuộc quá nhiều vào ông bác nên chàng cũng không thể công khai nỗi phẫn nộ của mình được.
Tuy nhiên hoàn cảnh mà chàng rơi vào là thứ khiến Nicholas rối bời hơn cả. Rất có thể Kate em gái chàng cũng sẽ sa vào tình cảnh tương tự. Ông bác chàng đã lừa chàng, vậy thì ông ngại gì mà không đẩy em gái chàng vào một chốn khốn nạn nào ở đó tuổi trẻ và nhan sắc con bé sẽ trở thành lời nguyền khủng khiếp hơn nhiều so với tuổi già và vẻ xấu xí đây? Đối với một người bị cầm tù, bị trói chặt chân tay, đấy là một ý thực kinh khủng; nhưng không, chàng nghĩ, còn có mẹ chàng nữa; còn có cô họa sĩ chủ nhà nữa - họ tuy đầu óc đơn giản, nhưng cũng từng kiếm sống, tức là cũng biết đời là như thế nào. Chàng những muốn tin rằng Ralph Nickleby chỉ có mối ghét riêng đối với chàng mà thôi. Nay chính chàng cũng thấy có lý do xác đáng mà căm ghét bản thân, Nicholas mau lẹ đi đến kết luận kia và tự thuyết phục bản thân rằng ác cảm của người bác sẽ chỉ giới hạn ở mình chàng mà thôi.
Đang trầm ngâm trăn trở như thế, chàng giật mình thấy cái mặt của Smike ngước lên nhìn chàng. Cậu ta lúc này đang quỳ xuống chỗ cái lò để nhặt than vãi bỏ lại vào đống lửa. Smike đang nhìn trộm Nicholas, rồi khi thấy chàng nhìn lại, cậu ta co rúm người như sắp bị đánh.
“Đừng sợ tôi,” Nicholas dịu dàng nói. “Cậu lạnh à?”
“Kh... không đâu.”
“Thấy đang run lẩy bẩy kìa.”
“Tôi không lạnh,” Smike đáp vội. “Tôi quen rồi.”
Hành xử của Smike hiện rõ nỗi sợ làm mích lòng người khác, cậu này tỏ ra một sinh vật sợ sệt và hoảng loạn đến độ Nicholas không cầm lòng được mà thốt lên, “Tôi thương cậu quá!”
Nếu chàng đánh Smike, hẳn cậu này sẽ lủi đi ngay. Nhưng nghe Nicholas nói thế thì cậu ta bật khóc.
“Hu hu!” cậu ta rống lên, hai bàn tay xương xẩu nứt nẻ ôm mặt. “Tôi khổ quá, khổ chết mất.”
“Suỵt!” Nicholas nói, đặt tay lên vai Smike. “Cứng cỏi lên nào; bao nhiêu năm nay cậu đã rất cứng cỏi rồi, Chúa cứu giúp cậu.”
“Bao nhiêu năm nay!” Smike vẫn khóc. “Ối giời ơi, ối giời ơi, bao nhiêu năm! Bao nhiêu năm rồi từ khi tôi còn là thằng bé nhỏ nhất ở đây! Mọi người đâu hết cả rồi?”
“Cậu bảo ai cơ?” Nicholas hỏi, những mong làm sinh vật đờ đẫn đáng thương này tỉnh trí lại. “Nói cho tôi biết đi.”
“Các bạn tôi,” cậu ta đáp, “tôi... tôi... ôi trời ơi! tôi khốn khổ khốn nạn quá!”
“Đừng bao giờ mất hy vọng,” Nicholas nói; chàng không biết phải nói gì nữa.
“Không,” kẻ kia đáp, “không; tôi không có hy vọng nữa. Anh có nhớ thằng bé chết ở đây không?”
“Lúc đó tôi chưa ở đây,” Nicholas dịu dàng nói; “nhưng đã có chuyện gì?”
“Ôi ôi,” Smike nói, nhích lại gần Nicholas, “tôi ở bên cậu ấy ban đêm, rồi tất cả im lặng, cậu ấy không kêu khóc đòi các bạn cậu ấy nữa, mà bắt đầu thấy quanh giường mình những mặt người thân ở nhà; cậu ấy bảo họ mỉm cười và nói chuyện với họ, cậu ấy ngỏng đầu dậy định hôn họ, rồi cậu ấy chết. Anh hiểu không?”
“Hiểu, hiểu,” Nicholas đáp.
“Lúc tôi chết tôi ai sẽ mỉm cười với tôi đây!” cậu ta khóc lóc. “Ai sẽ nói chuyện với tôi suốt những đêm dài đây! Họ không đến đâu; nếu đến thì họ sẽ sợ tôi, vì tôi không nhớ gì, không biết ai nữa. Tôi sống cũng khổ chết cũng khổ. Làm gì có hy vọng, làm gì có!”
Chuông kêu báo giờ đi ngủ: Smike nghe thấy âm thanh ấy liền quay về trạng thái đờ đẫn thường lệ rồi lỉnh đi như thể sợ bị ai nhìn thấy. Nicholas ôm trái tim nặng trĩu quay trở về phòng ngủ chung chật chội bẩn thỉu - không phải để nghỉ ngơi; vì ở cái chốn này điều ấy không hề tồn tại.
Nguyễn Hoài dịch
[1] Nguyên văn là mercenary nurse, chỉ các vú nuôi được trả tiền để chăm sóc nhũ nhi. Ở Anh thế kỷ 18 19 do thiếu kiểm soát chặt chẽ nên điều kiện chăm sóc trẻ em ở những chỗ chăm thuê như thế này rất tồi tệ, thậm chí nhiều vú nuôi bị truy tố và xử tử vì tội giết trẻ em hàng loại. Ý nói tình trạng ở Dotheboys Hall còn kinh khủng hơn gấp nhiều lần.
[2] Quadruped: động vật bốn chân.
Một chương Nicholas Nickleby của Charles Dickens
Chương 8
Về chuyện quản lý kinh tế ở trường Dotheboys
Nếu thiên tài nào nghĩ ra được cách tuyệt hảo nhất nhằm biến một cái giường cứng quèo thành êm ái, thì đấy chính là vượt một quãng đường hai trăm dặm có lẻ trong thời tiết khắc nghiệt. Thậm chí làm thế còn khiến giấc mơ của ta thêm dễ chịu, bởi những giấc mơ lơ lửng bên trên Nicholas và thì thầm những điều hư rỗng vào tai chàng đều rất dễ chịu và tươi sáng. Chàng đang mơ thấy mình làm giàu rất nhanh, thì bỗng một ngọn nến tàn lập lòe hiện lên trước mắt chàng, cùng một giọng nói mà chàng nhận ra ngay là giọng của Squeers, bảo với chàng rằng đã đến giờ dậy rồi.
“Quá bảy giờ rồi Nickleby,” Squeers nói.
“Đã sáng rồi ư?” Nicholas ngồi dậy.
“Ừ! đúng rồi,” Squeers đáp, “kịp lạnh khiếp vía rồi đấy. Đi nào cậu Nickleby; dậy nhanh nào.”
Không cần giục đến lần thứ hai, Nicholas nhỏm dậy và thay đồ trong ánh nến lờ mờ tỏa ra trên tay ông Squeers.
“Giờ mới đến công chuyện này,” Squeers nói; “bơm nước đóng băng rồi.”
“Thật ư!” Nicholas nói, nghe tin ấy mà không ngạc nhiên lắm.
“Ừ,” Squeers đáp. “Sáng nay thì không rửa ráy được rồi.”
“Không ư?” Nicholas kêu lên.
“Không, phải chịu thôi,” Squeers đáp gọn lỏn. “Cậu cứ lau người không nước vậy, chờ chúng tôi phá băng trong giếng để lấy một xô lên cho bọn học trò. Đừng đứng đực ra đấy nhìn tôi nữa, nhanh tay lên được không?”
Nicholas không hỏi gì nữa mà khẩn trương mặc quần áo. Trong lúc ấy thì Squeers mở cửa sổ chớp rồi thổi tắt nến; có tiếng người vợ thảo ngay của ông vang lên ở hành lang hỏi xem vào được chưa.
“Vào đây em yêu,” Squeers nói.
Bà Squeers đi vào, vẫn mặc nguyên bộ đồ ngủ khoe ra sự cân xứng của cơ thể bà hồi tối hôm, được trang trí thêm một cái mũ bon nê da hải ly kiểu cổ bà đội khá thoải mái bên trên cái mũ ngủ mà chúng ta đã nói đến.
“Tổ sư,” bà chủ nói, tay mở chạn. “Không thể tìm được cái thìa đâu.”
“Kệ đi em yêu,” Squeers đáp, giọng vỗ về; “có gì nghiêm trọng đâu.”
“Không nghiêm trọng cái đầu nhà anh!” bà Squeers vặc lại luôn; “không phải hôm nay là ngày ăn lưu huỳnh à?”
“Ô anh quên mất,” Squeers đáp; “đúng rồi. Này cậu Nickleby, ở đây chúng ta sẽ tẩy máu định kỳ cho bọn trẻ.”
“Tẩy cái con khỉ nhà anh,” bà vợ nói. “Này cậu, đừng có nghĩ chúng tôi bỏ tiền ra mua lưu huỳnh với mật đường chỉ để tẩy máu đấy; nếu cậu nghĩ ở đây làm ăn như vậy thì cậu nhầm to rồi, nên tôi nói thẳng ra cho cậu hay.”
“Em ơi,” Squeers cau mày. “E hèm!”
“Xùy! rách việc,” bà Squeers đáp. “Nếu cậu ta định làm thầy giáo ở đây thì nên nói toẹt với nhau từ đầu đi: ở đây chúng tôi không làm mấy trò thừa hơi với lũ trẻ ranh. Chúng uống lưu huỳnh với mật đường vì nếu không có tí thuốc gì đó vào người thì chúng sẽ ốm yếu dặt dẹo gây ra đủ thứ phiền phức, thêm nữa là uống như thế chúng bớt thèm ăn, đỡ tốn tiền ăn sáng ăn tối. Tức là lợi đơn lợi kép, rất công bằng.”
Giải thích như vậy xong bà Squeers liền lục lọi tìm cái thìa với sự giúp sức của ông Squeers. Hai người ấy vừa làm vừa trao đổi gì đó với nhau, nhưng tiếng của họ bị át đi bởi âm thanh lọc xọc từ trong tủ nên Nicholas không nghe rõ họ nói gì, chỉ lờ mờ hiểu ông Squeers bảo bà Squeers rằng nói như vừa rồi là dại miệng, còn bà Squeers thì bảo ông Squeers là nói vớ vẩn.
Sau khi tìm kiếm lục lọi một thôi một hồi mà vẫn không ra cái thìa, họ gọi Smike vào rồi hết bà Squeers xô lại đến ông Squeers vả; hình như làm vậy giúp đầu óc cậu này sáng ra hơn một tí thật, vì cậu bảo rằng hay là có khi bà Squeers để thìa trong túi áo mà quên mất, hóa ra đúng là thế thật. Nhưng bà Squeers trước đó đã khăng khăng bảo là bà không cầm, thành thử Smike ăn thêm một vả nữa vì dám cãi lời bà chủ, cùng lời hứa hẹn nếu sau này mà không cư xử tử tế hơn thì cứ liệu cái thần hồn, ông bà đánh cho tuốt xác ra.
“Một người phụ nữ vô giá đấy, cậu Nickleby,” Squeers nói khi vợ ông hùng hổ rời khỏi phòng, xô Smike đi phía trước.
“Đúng thật, thưa ông!” Nicholas đáp.
“Tôi không thể tìm được ai như bà ấy,” Squeers nói; “vô song. Cậu Nickleby này, bà ấy luôn luôn như vậy đấy, luôn là một con người năng nổ, hoạt bát, lăng xăng và tiết kiệm như cậu vừa thấy.”
Nicholas bất giác thở dài khi nghĩ đến cảnh tượng gia đình đầm ầm vừa được mở ra trước mắt chàng; nhưng may là Squeers còn đang đắm chìm vào những ý nghĩ của ông nên không nghe thấy.
“Lúc tôi ở London, tôi vẫn thường nói đấy,” Squeers nói tiếp, “đối với đám trẻ bà ấy giống như người mẹ vậy. Nhưng sự thực là: bà ấy còn hơn cả một người mẹ ấy chứ; phải gấp mười lần hơn. Cậu Nickleby ơi, bà ấy làm cho bọn trẻ những thứ mà tôi không tin là có đến nửa số bà mẹ sẽ làm cho con ruột của mình.”
“Tôi cũng nghĩ họ sẽ không làm đâu, thưa ông,” Nicholas đáp.
Sự thực là vợ chồng nhà Squeers đều xem đám trẻ con như thiên địch của mình; nói cách khác, họ xem nghề của mình là vắt hết tất cả những gì có thể vắt được từ một đứa con nít. Ở điểm này, ta phải gọi là thuận vợ thuận chồng tát trẻ con vỡ mặt. Điểm khác biệt duy nhất giữa họ là trong khi bà Squeers công khai và gan dạ gây chiến với kẻ địch, thì ông Squeers lại giấu giếm thói côn đồ của ông ngay cả khi ở nhà bằng những lời lươn lẹo thành thói; như thể ông thực sự nghĩ rằng cứ lươn lẹo như thế một ngày nào đó ông sẽ tự lừa được chính mình, sẽ tin rằng mình là một người rất mực thiện lương.
“Nhưng thôi,” Squeers nói, ngắt đứt mạch suy nghĩ đang tiến dần đến kết luận tương tự trong đầu trợ giáo của ông, “ta đến lớp học nào; cậu giúp tôi mặc cái áo thầy giảng với!”
Nicholas giúp ông thầy mặc một cái áo khoác cũ bằng vải thô trước đó treo trên móc ở lối đi; Squeers sau khi võ trang thêm một cái gậy thì dẫn Nicholas băng qua một cái sân, tới một cánh cửa ở đằng sau ngôi nhà.
“Đây,” ông hiệu trưởng nói khi họ bước vào phòng cùng nhau; “đấy chính là công việc của chúng ta đó, cậu Nickleby ạ!”
Thật là một cảnh tượng khá chật chội, có quá nhiều thứ lọt vào tầm mắt đến nỗi mới đầu Nicholas cứ trố mắt ra mà chẳng nhìn được cái gì hết. Tuy nhiên dần dà chàng cũng nhận ra đây là một căn phòng bẩn thỉu chẳng có đồ đạc gì hết, chỉ có hai cái cửa sổ, mỗi cái còn được một ô kính lành lặn, còn lại thì được dán bằng giấy xé ra từ sách. Có hai cái bàn dài ọp ẹp từ đời cổ lai hy, đầy vết cắt vết khía vết mực, thôi thì không thiếu kiểu phá hoại nào; có hai ba cái ghế dài; một cái bàn rời cho Squeers và một cái khác cho trợ giáo. Trần nhà cũng có rui kèo tương tự như ở nhà kho, còn mấy bức tường thì ố bẩn và bạc phếch đi đến độ không thể biết được ngày xưa chúng được sơn hay quét vôi.
Nhưng đám học trò - những quý cậu quý anh! Ôi những hy vọng mong manh cuối cùng, ánh sáng yếu ớt nhất xa xôi nhất của cái thiện những mong nảy sinh nơi hầm hố này, tất cả tan biến vĩnh viễn khỏi tâm trí Nicholas khi chàng hoảng hốt nhìn xung quanh! Những gương mặt hốc hác nhợt nhạt, những thân hình gầy gò xương xẩu, những đứa trẻ mặt trông như các ông già, những đứa dị tật phải đeo khung sắt, những đứa còi cọc không lớn nổi, những đứa mà đôi chân cò hương chỉ vừa xoẳn đỡ được phần thân lom khom, tất cả tập hợp trong một căn phòng duy nhất; chàng nhìn thấy những con mắt đã kịp hỏng, những cái môi kịp sứt, những cái chân kịp khoèo, cùng mọi thứ dị dạng xấu xí cho thấy một mối thâm thù khác thường của cha mẹ với con cái mình, hoặc cho thấy những đứa trẻ này từ thuở lọt lòng đã phải chịu bị đối xử thờ ơ hoặc tàn bạo đến nhường nào. Có các khuôn mặt nhỏ đáng lẽ sẽ xinh xắn lắm, nhưng giờ đây tối om om một vẻ cau có của kẻ bị đánh đập triền miên; có những tuổi thơ mà ánh sáng trong mắt đã tắt lịm, mà vẻ đẹp đã biến mất mãi mãi, chỉ còn thân phận bơ vơ là ở lại; lại có những đứa trẻ có gương mặt ác độc, đôi mắt lì lợm đầy hăm dọa giống như đám bất lương trong một nhà tù; lại có những sinh vật non nớt phải gánh chịu tội lỗi từ những cha mẹ suy đồi của mình, sụt sùi nhớ tiếc ngay cả những ngày tháng ở trại vú nuôi[1], cảm thấy cô độc ngay cả trong nỗi cô độc của chúng. Bao nhiêu tình yêu trìu mến bị hủy diệt từ trứng nước, bao nhiêu xúc cảm mơn mởn tươi tắn chết yểu vì đòn roi và đói khát, bao nhiêu ham muốn trả thù nung nấu trong những trái tim đau khổ đang kín đáo gặm nhấm bản tính con người; nơi này đúng là một cái lò ấp địa ngục!
Đau đớn là thế, xót xa là thế, vậy nhưng cảnh tượng này vẫn có những chỗ thật quái dị, có thể khiến một người hờ hững hơn Nicholas phải mỉm cười. Bà Squeers đang đứng ở một đầu bàn, bên cạnh một cái chậu to tướng đựng đầy mật trộn lưu huỳnh, rồi đút từng thìa lớn cho từng đứa con trai một: bà làm thế bằng một cái thìa gỗ, lòng thìa rất to nên bành rộng miệng của đám con trai ra: bọn chúng phải nuốt ngay phần của mình trong một lượt, nếu không muốn bị đánh đập tàn nhẫn. Ở một góc phòng, rúm ró lại với nhau là mấy thằng bé vừa đến đêm hôm qua, ba đứa mặc quần túm da rất to, hai đứa mặc quần dài cũ nhưng rất chật; ngồi ngay gần đó là thằng con trai vị thành niên của ông Squeers - nom giống hệt ông bố - đang hùng hổ đá vào Smike lúc này đang cố đi cho nó một đôi giày mới nom giống đến đáng ngờ đôi giày mà thằng bé nhỏ nhất đã đi khi tới đây hôm qua - hẳn thằng bé cũng nghĩ như vậy bởi nó nhìn cảnh người khác đi giày của nó với một vẻ kinh ngạc mếu máo. Ngoài ra, còn một đám con trai xếp hàng chờ bón mật với vẻ mặt không được háo hức cho lắm; lại có thêm một hàng nữa đã được bón mật lúc này mồm miệng méo xệch đến độ khó mà nói chúng thấy ngon lành gì được. Tất cả đám con trai ấy đều mặc những áo quần quái đản lộn xộn chẳng ăn nhập gì với nhau đến độ nếu không vì vẻ bẩn thỉu nhếch nhác ốm bệnh ở chúng thì người ta đã phải bật cười.
“Nào,” Squeers nói, cầm can gõ lên bàn, khiến một nửa đám trẻ con giật nảy mình, “uống thuốc xong chưa?”
“Xong ngay đây,” bà Squeers nói, nhồi vội thìa mật cho thằng bé cuối cùng, rồi cầm cái thìa gỗ quất vào đầu nó. “Đây, Smike; đem cất đi, mau lên!”
Smike ôm cái chậu lết đi, còn bà Squeers sau khi gọi một đứa nhỏ tóc xoăn cho bà chùi tay thì đi theo Smike vào một phòng có vẻ là phòng giặt rửa vì thấy có một đống lửa nhỏ, một ấm nước rất to cùng rất nhiều bát gỗ nhỏ xếp trên một cái bàn.
Có Smike giúp một tay, bà Squeers múc vào những bát ấy một thứ hồ nâu sền sệt trông gớm chết, mà bà gọi là món cháo yến mạch. Mỗi bát được cắm vào một mẩu bánh mì bé bằng đầu ngón tay, và khi đám trẻ dùng bánh mì ăn cháo thì chúng cũng ăn cả miếng bánh mì luôn, thế là xong bữa sáng; đến lúc đó ông Squeers nói bằng giọng trang nghiêm, “Cầu Chúa cho chúng con biết ơn những gì chúng con nhận!” - rồi ông đi ăn phần của mình.
Nicholas cũng ăn một bát cháo cho có gì vào bụng, giống như người man di nuốt đất vào những lúc không có gì ăn. Ăn thêm một lát bánh mì với bơ nữa được phát thêm cho trợ giáo, chàng ngồi im chờ đến giờ vào lớp.
Chàng không thể không nhận ra đám trẻ hình như đều rầu rĩ im lặng. Không có bất cứ tiếng huyên náo nào như trong một lớp học bình thường; không có cảnh nồ giỡn hay đuổi bắt. Những đứa trẻ co quắp run rẩy cùng nhau, còn chẳng có cả ý chí chỉ để nhúc nhích. Đứa học trò duy nhất tỏ ra thích vận động hay nghịch ngợm là cậu Squeers, và bởi trò giải trí chủ yếu của cậu là dùng đôi giày mới của mình giẫm lên ngón chân những đứa khác, thành thử vẻ hoan hỉ của cậu gây ngứa mắt nhiều hơn.
Sau chừng nửa tiếng, Squeers quay lại, đám trẻ liền ngồi vào chỗ và lấy sách của chúng ra với tỉ lệ một cuốn sách tám đứa dùng chung. Vài phút trôi qua, trông ông Squeers có vẻ trầm tư lắm lắm, như thể ông lĩnh hội hoàn hảo tất cả những gì viết trong sách và có thể đọc thuộc lòng nội dung nếu muốn. Rồi ông gọi lớp nhất lên.
Nghe lệnh thế thì có chừng sáu thằng bé ăn mặc rách rưới đầu gối khuỷu tay thòi ra hết cả, lên xếp hàng trước bàn thầy hiệu trưởng; một đứa đặt một quyển sách tả tơi bẩn thỉu trước ánh mắt uyên bác của ông Squeers.
“Cậu Nickleby, đây là lớp nhất môn đánh vần và triết học,” Squeers nói, bảo Nicholas đến đứng cạnh ông. “Chúng ta sẽ có một lớp Latinh, lớp đấy sẽ giao cho cậu. Nào, đứa nhất đâu rồi?”
“Thưa thầy, nó đang lau cửa xổ phòng hậu,” lớp trưởng lâm thời của lớp triết học nói.
“Phải rồi, phải rồi,” Squeers đáp. “Ở đây chúng tôi dạy bám sát với thực tế và lấy người học làm trung tâm, cậu Nickleby ạ; giáo dục phải như thế mới hiệu quả được. Au, Lờ au lau, động từ, tức là cọ rửa, làm cho sạch. Ưa, cờ ưa cưa hỏi cửa, xờ ô xô hỏi xổ, cửa xổ. Học từ mới nào là học trò sẽ đi thực hành luôn. Tôi gọi đấy là dạy học tích cực, cậu Nickleby ạ. Thế đứa thứ hai đâu?”
“Thưa thầy nó đang đi nhổ cỏ ngoài vườn,” một đứa khẽ đáp.
“Đúng rồi,” Squeers nói, không chút lúng túng. “Đúng là nó đang nhổ cỏ. Thơ ao thao hỏi thảo, vờ ất vất nặng vật, thảo vật, tức là kiến thức về cây cỏ. Biết được thảo vật là kiến thức về cây cỏ là trò đó ra ngoài thực hành luôn. Cậu thấy phương pháp sư phạm của chúng tôi có hay không cơ chứ?”
“Đúng là rất được việc,” Nicholas đáp.
“Cậu nói thế là phải lắm,” Squeers đáp, không mảy may nghĩ câu đó có thể mang nghĩa khác. “Đứa thứ ba nào, ngựa là gì?”
“Là con vật, thưa thầy,” thằng bé đáp.
“Đúng lắm,” Squeers nói. “Nickleby, cậu thấy thế có đúng không?”
“Tôi tin đó là điều rất đương nhiên rồi, thưa ông,” Nicholas đáp.
“Không thể sai được,” Squeers nói. “Ngựa là động vật bốn chân, mà bốn chân[2] trong tiếng Latinh là con vật. Bất cứ ai học qua ngữ pháp thì đều biết cái đó, nếu không thì người ta học ngữ pháp làm chi nữa?”
“Cũng phải!” Nicholas lơ đễnh đáp.
“Trò đã thuộc như thế rồi,” Squeers nói tiếp, quay sang thằng bé, “thì mau đi chải lông cho con ngựa của ta đi, chải cho tử tế vào không thì đến lượt ta chải trò đấy. Những đứa còn lại đi kéo nước cho đến khi được nhắc dừng, mai là ngày giặt rửa đấy, thùng phải đầy nước mới được.”
Nói thế xong ông giải tán lớp nhất để chúng đi thực hành triết lý, rồi nhìn Nicholas bằng một ánh mắt nửa xảo quyệt nửa nghi ngờ, như thể ông không chắc chàng trai này đang nghĩ gì về mình.
“Ở đây chúng ta làm như thế đấy, cậu Nickleby,” sau một hồi im lặng, ông nói.
Nicholas nhún vai khẽ đến nỗi gần như không thể nhận ra, rồi bảo chàng đã thấy rồi.
“Phương pháp này rất là hiệu quả đấy,” Squeers nói. “Giờ thì tập hợp mười bốn đứa nhỏ cho chúng đọc bài đi. Cậu cũng phải làm việc thôi, như các cụ bảo ấy: tay làm thì hàm nhai, tay quai miệng trễ.”
Khi nói thế, hình như ông Squeers bất chợt nghĩ, hoặc là ông không được nói quá nhiều với trợ giáo của mình, hoặc là trợ giáo đã không đủ lời tán dương trường của ông. Đám trẻ con tập hợp thành nửa vòng tròn trước mặt thầy mới, phút chốc chàng đã được nghe tiếng đọc bài uể oải, ấp úng những câu chuyện hết sức thú vị chỉ có thể tìm thấy trong những sách đánh vần từ thời nảo thời nào.
Công việc hào hứng đến độ buổi sáng kéo dài mãi không hết được. Đến một giờ, đám trẻ con do trước đó đã mất sạch cảm giác thèm ăn nhờ món cháo yến mạch và khoai tây, lúc này ngồi xuống ăn một món hình như là thịt bò muối rất dai. Nicholas thì được ăn riêng ở một bàn. Sau giờ ăn, đám trẻ lại co quắp run rẩy trong phòng học thêm một tiếng nữa thì giờ học mới lại bắt đầu.
Lệ của ông Squeers là sau mỗi chuyến lên thủ đô nửa năm một của mình ông sẽ tập hợp đám con trai lại và nói về những người thân bạn bè ông gặp, tin tức ông nghe được, các thư từ ông đem về, những hóa đơn nào đã trả và hóa đơn nào chưa, vân vân. Sự kiện long trọng này luôn diễn ra vào buổi chiều sau hôm ông trở về; có lẽ là để đám trẻ con học cách kiềm chế nỗi sốt sắng, mà cũng có thể là để ông Squeers cứng rắn và bớt nhân nhượng với lũ trẻ nhờ vào chỗ rượu ông thường nốc sau bữa sớm. Dù là thế nào đi nữa thì tất cả những đứa đi lau cửa sổ, coi ngựa, làm vườn, trông bò đều được gọi về và cả trường tập hợp đầy đủ. Squeers cầm một bó giấy trên tay, còn bà vợ thì cầm theo hai cây gậy đi vào phòng yêu cầu tất cả trật tự.
“Đứa nào hở ra một câu mà không xin phép,” ông Squeers ôn tồn bảo, “thì ta đánh cho tuốt xác.”
Tuyên bố này đem lại kết quả rất đúng ý ông, cả phòng lập tức im lặng như chết. Rồi Squeers nói tiếp:
“Các trò, ta đã từ London trở về với gia đình và các trò rồi đây.”
Theo tục lệ, đám trẻ reo lên ba tiếng yếu ớt trước cái tin tuyệt vời ấy. Những tiếng reo thật chẳng khác nào tiếng thở hắt run rẩy.
“Ta đã gặp cha mẹ vài đứa,” Squeers nói tiếp rồi giở mớ giấy ra, “cha mẹ mấy đứa rất hài lòng khi biết mấy đứa được chăm sóc rất tử tế, nên tất cả các gia đình vẫn sẽ tiếp tục gửi mấy đứa ở đây, phải thấy đấy là lựa chọn tuyệt vời cho tất cả mọi người.”
Hai ba đứa đưa tay ôm mặt khi nghe Squeers nói thế, nhưng phần lớn đám trẻ ấy đều chẳng còn nhớ mặt cha mẹ mình nữa, nên hoàn toàn thờ ơ.
“Tuy nhiên cũng có vài chuyện không như ý,” Squeers nói, gương mặt trở nên dữ tợn; “bố Bolder thiếu của ta hai bảng. Bolder đâu?”
“Nó đây thưa thầy,” hai chục đứa lăng xăng tranh nhau trả lời. Đàn ông với trẻ con có vẻ cũng chẳng khác nhau là mấy.
“Lên đây, Bolder,” Squeers nói.
Một đứa trẻ ốm yếu, hai bàn tay đầy mụn cóc, bước tới bàn thầy hiệu trưởng rồi hướng ánh mắt cầu xin của nó nhìn Squeers. Mặt nó trắng bợt, có thể nghe được tiếng tim nó đập thình thịch.
“Này Bolder,” Squeers nói rất chậm, vừa nói vừa nghĩ xem nên dùng từ ngữ thế nào. “Này Bolder, nếu bố trò nghĩ rằng chỉ vì... này, cái gì kia?”
Squeers chộp lấy cổ tay áo thằng bé rồi săm soi với một vẻ mặt kinh tởm hãi hùng rất có tính giáo dục.
“Thế này là sao?” ông hiệu trưởng hỏi, quật gậy đánh chát một cái.
“Con không làm sao được ạ,” thằng bé vừa khóc vừa đáp. “Chúng cứ lên thôi; con nghĩ đấy là do con bị giao dọn ở những chỗ bẩn - con không biết đấy là cái gì, nhưng không phải lỗi con.”
“Bolder,” Squeers vừa nói vừa xắn cổ tay áo ông lên rồi hà hơi bàn tay phải ông để nắm cây gậy cho chắc, “mày là thằng vô lại hết thuốc chữa, trận đòn trước hình như chẳng nghĩa lý gì với mày rồi, để xem lần này tao có chữa được cái tật của mày đi không.”
Nói thế xong, hoàn toàn không để tâm đến tiếng kêu van thảm thương, ông Squeers quất thằng bé túi bụi. Ông quật nữa, quật mãi, quật đến khi mỏi tay ông mới chịu dừng lại.
“Đấy,” Squeers nói; “mày cố mà kì thật lực vào, kì sơ sơ không hết được đâu. Kìa! có ngậm cái mồm lại đi không thì bảo? Smike, bắt nó ngậm mồm cho tao.”
Cậu này biết rõ là có lệnh thì chớ chần chừ, liền lôi nạn nhân ra khỏi phòng. Ông Squeers lại ngồi vắt vẻo trên cái ghế đẩu của ông, bên cạnh là bà Squeers cũng ngồi ghế.
“Để xem nào,” Squeers nói. “Có thư cho Cobbey. Cobbey đứng lên nào.”
Một thằng bé khác đừng lên, nhìn chằm chằm lá thư trong khi ông Squeers tóm tắt nội dung ghi trong ấy.
“Ồ!” Squeers bảo: “Bà Cobbey chết rồi nhé, còn cậu John thì say xỉn thường xuyên, tất cả tin tức chị trò gửi chỉ có thế, cộng thêm mười tám xu vừa đủ trả cho ô cửa sổ bị vỡ lần trước. Vợ yêu, em cầm tiền nhé?”
Vị phu nhân đức độ cầm mười tám xu bỏ tọt vào túi rất chuyên nghiệp, rồi Squeers chuyển sang lá thư gửi cho đứa tiếp theo, giọng lạnh lùng.
“Graymarsh,” Squeers bảo, “Đứng lên nào Graymarsh.”
Một thằng bé khác đứng lên, còn ông hiệu trưởng thì lại đọc lướt thư như vừa nãy.
“Bà bác ngoại của Graymarsh,” Squeers nói sau khi đã nắm được vắn tắt nội dung thư, “rất vui vì trò vẫn khỏe mạnh vui vẻ, và bà gửi lời cảm ơn rất mực cho bà Squeers, bảo rằng bà đích thực là thiên thần. Bà cũng nghĩ thầy Squeers là người quá tốt đẹp quá tử tế, bà hy vọng Chúa cho thầy được nhiều tuổi để tiếp tục nghề trồng người. Định gửi hai đôi tất dài nhưng thiếu tiền nên gửi thế vào đó một tập sách giáo lý, mong Graymarsh tin vào Đấng Quan phòng. Trên hết, bà mong cháu sẽ học hành tử tế để ông bà Squeers được vui lòng, xem ông bà như bạn bè duy nhất; cũng mong cháu bà yêu quý cậu Squeers; ngoài ra đừng phản đối ngủ năm người một giường, tín đồ Cơ đốc không ai làm vậy. Ái chà!” Squeers gấp lá thư lại mà nói, “một lá thư tuyệt vời. Cảm động thế chứ lại.”
Theo một nghĩa nào đó thì đúng là cảm động thật, bởi những bạn bè thân thiết của bà bác ngoại của Graymarsh đều đồn thổi với nhau rằng bà chính là mẹ ruột của nó; tuy nhiên Squeers không đả động đến chi tiết ấy (có vẻ như nó hơi vô luân đối với bọn trẻ con), liền gọi đứa tiếp theo là “Mobbs”, thằng bé này đứng dậy.
“Mẹ kế của Mobbs,” Squeers nói, “rất buồn phiền khi biết trò không chịu ăn thịt mỡ, thành thử cứ ốm yếu mãi. Qua thư hồi đáp tới đây bà rất muốn biết trò định thế nào nếu cứ kén cá chọn canh như vậy; cũng như tại sao trò lại có thể bịt mũi trước món canh gan bò được được thầy mình cầu phước. Chuyện này bà đọc được trên báo ở London chứ không phải nghe từ thầy Squeers đâu, thầy là người rất mực thiện lương không khi nào lại đi nói xấu như thế, và biết chuyện thì bà thấy bực bội lắm, Mobbs không biết phải trái đúng sai gì cả. Bà rất tiếc vì trò có thái độ chống đối, như thế là rất sai, bà mong ông Squeers cứ đánh thẳng tay cho con bà ngoan ngoãn trở lại; và do thấy con hư nên bà sẽ cắt luôn phần tiền tiêu vặt nửa penny mỗi tuần, con dao hai lưỡi có cái mở nút chai bà mua cho con, thì sẽ được tặng lại cho hội truyền đạo.”
“Ở đây không có cái trò sưng sỉa õng ẹo,” Squeers nói, sau một khoảng lặng đáng sợ khi ông này lại hà hơi vào bàn tay phải lần nữa. “Ở đây chỉ có vui vẻ và mãn nguyện thôi. Mobbs, lên đây!”
Mobbs chầm chậm đi tới bàn, dụi dụi mắt chuẩn bị nhận phần của mình; sau khi ăn trận đòn không kém gì đứa trước đó, thằng bé cũng đi ra khỏi phòng theo lối cửa hông.
Ông Squeers tiếp tục mở xấp thư; một số thư có tiền, được bà Squeers xử lý rất nhanh gọn; số khác nhắc đến các món trang phục như mũ nón các kiểu, tất cả chúng bà Squeers đều phán rằng hoặc là quá rộng, hoặc là quá chật, chỉ vừa với đúng một đứa duy nhất là cậu Squeers, hình thể cậu chắc phải co giãn linh hoạt lắm vì tất cả mọi thứ áo quần chui vào cái trường này đều vừa vặn với cậu như in. Đầu cậu chắc phải là một thứ siêu dẻo, vì tất cả các thể loại mũ bất kể kích cỡ đầu cậu đều nhét vừa.
Cuộc đọc thư nhà kết thúc, Squeers dạy thêm vài bài học uể oải nữa rồi ra chỗ lò sưởi ngồi để Nicholas tự xoay xở với đám trẻ trong cái phòng học lạnh cóng; bữa ăn gồm bánh mì và phó mát được đem ra sau khi trời tối hẳn.
Có một cái lò nhỏ ở góc phòng, gần với bàn giáo viên nhất. Nicholas ngồi cạnh cái lò đó, nay nhận rõ tình cảnh của mình, chàng u uất chán chường đến độ nếu lúc này tử thần có đến tìm chàng thì hẳn chàng sẽ rất hạnh phúc đi theo. Cảnh tàn bạo mà chàng vừa phải làm nhân chứng bất đắc dĩ, lối hành xử tàn nhẫn và bạo lực của Squeers ngay cả lúc ông ta vui vẻ nhất, cái chỗ bẩn thỉu nhếch nhác này, những cảnh tượng thanh âm xung quanh chàng, đều góp phần tạo nên cảm giác u uất kia; nhưng rồi chàng nhớ ra mình là trợ giáo ở đây, vậy thì dù là ma đưa lối quỷ đưa đường thế nào đi chăng nữa chàng vẫn cứ là một kẻ đồng lõa cho một bộ máy tàn nhẫn khiến chàng cảm thấy kinh tởm và công phẫn; nghĩ như thế chàng thấy hận chính mình, cảm thấy chỉ riêng cái nhận thức của chàng về vị thế hiện tại của bản thân cũng đủ khiến chàng mãi mãi không bao giờ ngẩng đầu lên được nữa.
Nhưng ý chàng đã quyết, và quyết tâm của chàng đêm hôm qua vẫn nguyên vẹn không hề lay chuyển. Chàng viết thư cho mẹ và em gái, báo rằng chuyến đi kết thúc tốt đẹp, kể rất ít về trường Dotheboys, cố lấy một giọng vui tươi phấn khởi hết mức có thể. Chàng hy vọng rằng mình có thể làm được điều gì đó tử tế ngay cả ở một nơi như thế này; vả lại, mẹ và em phụ thuộc quá nhiều vào ông bác nên chàng cũng không thể công khai nỗi phẫn nộ của mình được.
Tuy nhiên hoàn cảnh mà chàng rơi vào là thứ khiến Nicholas rối bời hơn cả. Rất có thể Kate em gái chàng cũng sẽ sa vào tình cảnh tương tự. Ông bác chàng đã lừa chàng, vậy thì ông ngại gì mà không đẩy em gái chàng vào một chốn khốn nạn nào ở đó tuổi trẻ và nhan sắc con bé sẽ trở thành lời nguyền khủng khiếp hơn nhiều so với tuổi già và vẻ xấu xí đây? Đối với một người bị cầm tù, bị trói chặt chân tay, đấy là một ý thực kinh khủng; nhưng không, chàng nghĩ, còn có mẹ chàng nữa; còn có cô họa sĩ chủ nhà nữa - họ tuy đầu óc đơn giản, nhưng cũng từng kiếm sống, tức là cũng biết đời là như thế nào. Chàng những muốn tin rằng Ralph Nickleby chỉ có mối ghét riêng đối với chàng mà thôi. Nay chính chàng cũng thấy có lý do xác đáng mà căm ghét bản thân, Nicholas mau lẹ đi đến kết luận kia và tự thuyết phục bản thân rằng ác cảm của người bác sẽ chỉ giới hạn ở mình chàng mà thôi.
Đang trầm ngâm trăn trở như thế, chàng giật mình thấy cái mặt của Smike ngước lên nhìn chàng. Cậu ta lúc này đang quỳ xuống chỗ cái lò để nhặt than vãi bỏ lại vào đống lửa. Smike đang nhìn trộm Nicholas, rồi khi thấy chàng nhìn lại, cậu ta co rúm người như sắp bị đánh.
“Đừng sợ tôi,” Nicholas dịu dàng nói. “Cậu lạnh à?”
“Kh... không đâu.”
“Thấy đang run lẩy bẩy kìa.”
“Tôi không lạnh,” Smike đáp vội. “Tôi quen rồi.”
Hành xử của Smike hiện rõ nỗi sợ làm mích lòng người khác, cậu này tỏ ra một sinh vật sợ sệt và hoảng loạn đến độ Nicholas không cầm lòng được mà thốt lên, “Tôi thương cậu quá!”
Nếu chàng đánh Smike, hẳn cậu này sẽ lủi đi ngay. Nhưng nghe Nicholas nói thế thì cậu ta bật khóc.
“Hu hu!” cậu ta rống lên, hai bàn tay xương xẩu nứt nẻ ôm mặt. “Tôi khổ quá, khổ chết mất.”
“Suỵt!” Nicholas nói, đặt tay lên vai Smike. “Cứng cỏi lên nào; bao nhiêu năm nay cậu đã rất cứng cỏi rồi, Chúa cứu giúp cậu.”
“Bao nhiêu năm nay!” Smike vẫn khóc. “Ối giời ơi, ối giời ơi, bao nhiêu năm! Bao nhiêu năm rồi từ khi tôi còn là thằng bé nhỏ nhất ở đây! Mọi người đâu hết cả rồi?”
“Cậu bảo ai cơ?” Nicholas hỏi, những mong làm sinh vật đờ đẫn đáng thương này tỉnh trí lại. “Nói cho tôi biết đi.”
“Các bạn tôi,” cậu ta đáp, “tôi... tôi... ôi trời ơi! tôi khốn khổ khốn nạn quá!”
“Đừng bao giờ mất hy vọng,” Nicholas nói; chàng không biết phải nói gì nữa.
“Không,” kẻ kia đáp, “không; tôi không có hy vọng nữa. Anh có nhớ thằng bé chết ở đây không?”
“Lúc đó tôi chưa ở đây,” Nicholas dịu dàng nói; “nhưng đã có chuyện gì?”
“Ôi ôi,” Smike nói, nhích lại gần Nicholas, “tôi ở bên cậu ấy ban đêm, rồi tất cả im lặng, cậu ấy không kêu khóc đòi các bạn cậu ấy nữa, mà bắt đầu thấy quanh giường mình những mặt người thân ở nhà; cậu ấy bảo họ mỉm cười và nói chuyện với họ, cậu ấy ngỏng đầu dậy định hôn họ, rồi cậu ấy chết. Anh hiểu không?”
“Hiểu, hiểu,” Nicholas đáp.
“Lúc tôi chết tôi ai sẽ mỉm cười với tôi đây!” cậu ta khóc lóc. “Ai sẽ nói chuyện với tôi suốt những đêm dài đây! Họ không đến đâu; nếu đến thì họ sẽ sợ tôi, vì tôi không nhớ gì, không biết ai nữa. Tôi sống cũng khổ chết cũng khổ. Làm gì có hy vọng, làm gì có!”
Chuông kêu báo giờ đi ngủ: Smike nghe thấy âm thanh ấy liền quay về trạng thái đờ đẫn thường lệ rồi lỉnh đi như thể sợ bị ai nhìn thấy. Nicholas ôm trái tim nặng trĩu quay trở về phòng ngủ chung chật chội bẩn thỉu - không phải để nghỉ ngơi; vì ở cái chốn này điều ấy không hề tồn tại.
Nguyễn Hoài dịch
[1] Nguyên văn là mercenary nurse, chỉ các vú nuôi được trả tiền để chăm sóc nhũ nhi. Ở Anh thế kỷ 18 19 do thiếu kiểm soát chặt chẽ nên điều kiện chăm sóc trẻ em ở những chỗ chăm thuê như thế này rất tồi tệ, thậm chí nhiều vú nuôi bị truy tố và xử tử vì tội giết trẻ em hàng loại. Ý nói tình trạng ở Dotheboys Hall còn kinh khủng hơn gấp nhiều lần.
[2] Quadruped: động vật bốn chân.
Một chương Nicholas Nickleby của Charles Dickens
Chương 8
Về chuyện quản lý kinh tế ở trường Dotheboys
Nếu thiên tài nào nghĩ ra được cách tuyệt hảo nhất nhằm biến một cái giường cứng quèo thành êm ái, thì đấy chính là vượt một quãng đường hai trăm dặm có lẻ trong thời tiết khắc nghiệt. Thậm chí làm thế còn khiến giấc mơ của ta thêm dễ chịu, bởi những giấc mơ lơ lửng bên trên Nicholas và thì thầm những điều hư rỗng vào tai chàng đều rất dễ chịu và tươi sáng. Chàng đang mơ thấy mình làm giàu rất nhanh, thì bỗng một ngọn nến tàn lập lòe hiện lên trước mắt chàng, cùng một giọng nói mà chàng nhận ra ngay là giọng của Squeers, bảo với chàng rằng đã đến giờ dậy rồi.
“Quá bảy giờ rồi Nickleby,” Squeers nói.
“Đã sáng rồi ư?” Nicholas ngồi dậy.
“Ừ! đúng rồi,” Squeers đáp, “kịp lạnh khiếp vía rồi đấy. Đi nào cậu Nickleby; dậy nhanh nào.”
Không cần giục đến lần thứ hai, Nicholas nhỏm dậy và thay đồ trong ánh nến lờ mờ tỏa ra trên tay ông Squeers.
“Giờ mới đến công chuyện này,” Squeers nói; “bơm nước đóng băng rồi.”
“Thật ư!” Nicholas nói, nghe tin ấy mà không ngạc nhiên lắm.
“Ừ,” Squeers đáp. “Sáng nay thì không rửa ráy được rồi.”
“Không ư?” Nicholas kêu lên.
“Không, phải chịu thôi,” Squeers đáp gọn lỏn. “Cậu cứ lau người không nước vậy, chờ chúng tôi phá băng trong giếng để lấy một xô lên cho bọn học trò. Đừng đứng đực ra đấy nhìn tôi nữa, nhanh tay lên được không?”
Nicholas không hỏi gì nữa mà khẩn trương mặc quần áo. Trong lúc ấy thì Squeers mở cửa sổ chớp rồi thổi tắt nến; có tiếng người vợ thảo ngay của ông vang lên ở hành lang hỏi xem vào được chưa.
“Vào đây em yêu,” Squeers nói.
Bà Squeers đi vào, vẫn mặc nguyên bộ đồ ngủ khoe ra sự cân xứng của cơ thể bà hồi tối hôm, được trang trí thêm một cái mũ bon nê da hải ly kiểu cổ bà đội khá thoải mái bên trên cái mũ ngủ mà chúng ta đã nói đến.
“Tổ sư,” bà chủ nói, tay mở chạn. “Không thể tìm được cái thìa đâu.”
“Kệ đi em yêu,” Squeers đáp, giọng vỗ về; “có gì nghiêm trọng đâu.”
“Không nghiêm trọng cái đầu nhà anh!” bà Squeers vặc lại luôn; “không phải hôm nay là ngày ăn lưu huỳnh à?”
“Ô anh quên mất,” Squeers đáp; “đúng rồi. Này cậu Nickleby, ở đây chúng ta sẽ tẩy máu định kỳ cho bọn trẻ.”
“Tẩy cái con khỉ nhà anh,” bà vợ nói. “Này cậu, đừng có nghĩ chúng tôi bỏ tiền ra mua lưu huỳnh với mật đường chỉ để tẩy máu đấy; nếu cậu nghĩ ở đây làm ăn như vậy thì cậu nhầm to rồi, nên tôi nói thẳng ra cho cậu hay.”
“Em ơi,” Squeers cau mày. “E hèm!”
“Xùy! rách việc,” bà Squeers đáp. “Nếu cậu ta định làm thầy giáo ở đây thì nên nói toẹt với nhau từ đầu đi: ở đây chúng tôi không làm mấy trò thừa hơi với lũ trẻ ranh. Chúng uống lưu huỳnh với mật đường vì nếu không có tí thuốc gì đó vào người thì chúng sẽ ốm yếu dặt dẹo gây ra đủ thứ phiền phức, thêm nữa là uống như thế chúng bớt thèm ăn, đỡ tốn tiền ăn sáng ăn tối. Tức là lợi đơn lợi kép, rất công bằng.”
Giải thích như vậy xong bà Squeers liền lục lọi tìm cái thìa với sự giúp sức của ông Squeers. Hai người ấy vừa làm vừa trao đổi gì đó với nhau, nhưng tiếng của họ bị át đi bởi âm thanh lọc xọc từ trong tủ nên Nicholas không nghe rõ họ nói gì, chỉ lờ mờ hiểu ông Squeers bảo bà Squeers rằng nói như vừa rồi là dại miệng, còn bà Squeers thì bảo ông Squeers là nói vớ vẩn.
Sau khi tìm kiếm lục lọi một thôi một hồi mà vẫn không ra cái thìa, họ gọi Smike vào rồi hết bà Squeers xô lại đến ông Squeers vả; hình như làm vậy giúp đầu óc cậu này sáng ra hơn một tí thật, vì cậu bảo rằng hay là có khi bà Squeers để thìa trong túi áo mà quên mất, hóa ra đúng là thế thật. Nhưng bà Squeers trước đó đã khăng khăng bảo là bà không cầm, thành thử Smike ăn thêm một vả nữa vì dám cãi lời bà chủ, cùng lời hứa hẹn nếu sau này mà không cư xử tử tế hơn thì cứ liệu cái thần hồn, ông bà đánh cho tuốt xác ra.
“Một người phụ nữ vô giá đấy, cậu Nickleby,” Squeers nói khi vợ ông hùng hổ rời khỏi phòng, xô Smike đi phía trước.
“Đúng thật, thưa ông!” Nicholas đáp.
“Tôi không thể tìm được ai như bà ấy,” Squeers nói; “vô song. Cậu Nickleby này, bà ấy luôn luôn như vậy đấy, luôn là một con người năng nổ, hoạt bát, lăng xăng và tiết kiệm như cậu vừa thấy.”
Nicholas bất giác thở dài khi nghĩ đến cảnh tượng gia đình đầm ầm vừa được mở ra trước mắt chàng; nhưng may là Squeers còn đang đắm chìm vào những ý nghĩ của ông nên không nghe thấy.
“Lúc tôi ở London, tôi vẫn thường nói đấy,” Squeers nói tiếp, “đối với đám trẻ bà ấy giống như người mẹ vậy. Nhưng sự thực là: bà ấy còn hơn cả một người mẹ ấy chứ; phải gấp mười lần hơn. Cậu Nickleby ơi, bà ấy làm cho bọn trẻ những thứ mà tôi không tin là có đến nửa số bà mẹ sẽ làm cho con ruột của mình.”
“Tôi cũng nghĩ họ sẽ không làm đâu, thưa ông,” Nicholas đáp.
Sự thực là vợ chồng nhà Squeers đều xem đám trẻ con như thiên địch của mình; nói cách khác, họ xem nghề của mình là vắt hết tất cả những gì có thể vắt được từ một đứa con nít. Ở điểm này, ta phải gọi là thuận vợ thuận chồng tát trẻ con vỡ mặt. Điểm khác biệt duy nhất giữa họ là trong khi bà Squeers công khai và gan dạ gây chiến với kẻ địch, thì ông Squeers lại giấu giếm thói côn đồ của ông ngay cả khi ở nhà bằng những lời lươn lẹo thành thói; như thể ông thực sự nghĩ rằng cứ lươn lẹo như thế một ngày nào đó ông sẽ tự lừa được chính mình, sẽ tin rằng mình là một người rất mực thiện lương.
“Nhưng thôi,” Squeers nói, ngắt đứt mạch suy nghĩ đang tiến dần đến kết luận tương tự trong đầu trợ giáo của ông, “ta đến lớp học nào; cậu giúp tôi mặc cái áo thầy giảng với!”
Nicholas giúp ông thầy mặc một cái áo khoác cũ bằng vải thô trước đó treo trên móc ở lối đi; Squeers sau khi võ trang thêm một cái gậy thì dẫn Nicholas băng qua một cái sân, tới một cánh cửa ở đằng sau ngôi nhà.
“Đây,” ông hiệu trưởng nói khi họ bước vào phòng cùng nhau; “đấy chính là công việc của chúng ta đó, cậu Nickleby ạ!”
Thật là một cảnh tượng khá chật chội, có quá nhiều thứ lọt vào tầm mắt đến nỗi mới đầu Nicholas cứ trố mắt ra mà chẳng nhìn được cái gì hết. Tuy nhiên dần dà chàng cũng nhận ra đây là một căn phòng bẩn thỉu chẳng có đồ đạc gì hết, chỉ có hai cái cửa sổ, mỗi cái còn được một ô kính lành lặn, còn lại thì được dán bằng giấy xé ra từ sách. Có hai cái bàn dài ọp ẹp từ đời cổ lai hy, đầy vết cắt vết khía vết mực, thôi thì không thiếu kiểu phá hoại nào; có hai ba cái ghế dài; một cái bàn rời cho Squeers và một cái khác cho trợ giáo. Trần nhà cũng có rui kèo tương tự như ở nhà kho, còn mấy bức tường thì ố bẩn và bạc phếch đi đến độ không thể biết được ngày xưa chúng được sơn hay quét vôi.
Nhưng đám học trò - những quý cậu quý anh! Ôi những hy vọng mong manh cuối cùng, ánh sáng yếu ớt nhất xa xôi nhất của cái thiện những mong nảy sinh nơi hầm hố này, tất cả tan biến vĩnh viễn khỏi tâm trí Nicholas khi chàng hoảng hốt nhìn xung quanh! Những gương mặt hốc hác nhợt nhạt, những thân hình gầy gò xương xẩu, những đứa trẻ mặt trông như các ông già, những đứa dị tật phải đeo khung sắt, những đứa còi cọc không lớn nổi, những đứa mà đôi chân cò hương chỉ vừa xoẳn đỡ được phần thân lom khom, tất cả tập hợp trong một căn phòng duy nhất; chàng nhìn thấy những con mắt đã kịp hỏng, những cái môi kịp sứt, những cái chân kịp khoèo, cùng mọi thứ dị dạng xấu xí cho thấy một mối thâm thù khác thường của cha mẹ với con cái mình, hoặc cho thấy những đứa trẻ này từ thuở lọt lòng đã phải chịu bị đối xử thờ ơ hoặc tàn bạo đến nhường nào. Có các khuôn mặt nhỏ đáng lẽ sẽ xinh xắn lắm, nhưng giờ đây tối om om một vẻ cau có của kẻ bị đánh đập triền miên; có những tuổi thơ mà ánh sáng trong mắt đã tắt lịm, mà vẻ đẹp đã biến mất mãi mãi, chỉ còn thân phận bơ vơ là ở lại; lại có những đứa trẻ có gương mặt ác độc, đôi mắt lì lợm đầy hăm dọa giống như đám bất lương trong một nhà tù; lại có những sinh vật non nớt phải gánh chịu tội lỗi từ những cha mẹ suy đồi của mình, sụt sùi nhớ tiếc ngay cả những ngày tháng ở trại vú nuôi[1], cảm thấy cô độc ngay cả trong nỗi cô độc của chúng. Bao nhiêu tình yêu trìu mến bị hủy diệt từ trứng nước, bao nhiêu xúc cảm mơn mởn tươi tắn chết yểu vì đòn roi và đói khát, bao nhiêu ham muốn trả thù nung nấu trong những trái tim đau khổ đang kín đáo gặm nhấm bản tính con người; nơi này đúng là một cái lò ấp địa ngục!
Đau đớn là thế, xót xa là thế, vậy nhưng cảnh tượng này vẫn có những chỗ thật quái dị, có thể khiến một người hờ hững hơn Nicholas phải mỉm cười. Bà Squeers đang đứng ở một đầu bàn, bên cạnh một cái chậu to tướng đựng đầy mật trộn lưu huỳnh, rồi đút từng thìa lớn cho từng đứa con trai một: bà làm thế bằng một cái thìa gỗ, lòng thìa rất to nên bành rộng miệng của đám con trai ra: bọn chúng phải nuốt ngay phần của mình trong một lượt, nếu không muốn bị đánh đập tàn nhẫn. Ở một góc phòng, rúm ró lại với nhau là mấy thằng bé vừa đến đêm hôm qua, ba đứa mặc quần túm da rất to, hai đứa mặc quần dài cũ nhưng rất chật; ngồi ngay gần đó là thằng con trai vị thành niên của ông Squeers - nom giống hệt ông bố - đang hùng hổ đá vào Smike lúc này đang cố đi cho nó một đôi giày mới nom giống đến đáng ngờ đôi giày mà thằng bé nhỏ nhất đã đi khi tới đây hôm qua - hẳn thằng bé cũng nghĩ như vậy bởi nó nhìn cảnh người khác đi giày của nó với một vẻ kinh ngạc mếu máo. Ngoài ra, còn một đám con trai xếp hàng chờ bón mật với vẻ mặt không được háo hức cho lắm; lại có thêm một hàng nữa đã được bón mật lúc này mồm miệng méo xệch đến độ khó mà nói chúng thấy ngon lành gì được. Tất cả đám con trai ấy đều mặc những áo quần quái đản lộn xộn chẳng ăn nhập gì với nhau đến độ nếu không vì vẻ bẩn thỉu nhếch nhác ốm bệnh ở chúng thì người ta đã phải bật cười.
“Nào,” Squeers nói, cầm can gõ lên bàn, khiến một nửa đám trẻ con giật nảy mình, “uống thuốc xong chưa?”
“Xong ngay đây,” bà Squeers nói, nhồi vội thìa mật cho thằng bé cuối cùng, rồi cầm cái thìa gỗ quất vào đầu nó. “Đây, Smike; đem cất đi, mau lên!”
Smike ôm cái chậu lết đi, còn bà Squeers sau khi gọi một đứa nhỏ tóc xoăn cho bà chùi tay thì đi theo Smike vào một phòng có vẻ là phòng giặt rửa vì thấy có một đống lửa nhỏ, một ấm nước rất to cùng rất nhiều bát gỗ nhỏ xếp trên một cái bàn.
Có Smike giúp một tay, bà Squeers múc vào những bát ấy một thứ hồ nâu sền sệt trông gớm chết, mà bà gọi là món cháo yến mạch. Mỗi bát được cắm vào một mẩu bánh mì bé bằng đầu ngón tay, và khi đám trẻ dùng bánh mì ăn cháo thì chúng cũng ăn cả miếng bánh mì luôn, thế là xong bữa sáng; đến lúc đó ông Squeers nói bằng giọng trang nghiêm, “Cầu Chúa cho chúng con biết ơn những gì chúng con nhận!” - rồi ông đi ăn phần của mình.
Nicholas cũng ăn một bát cháo cho có gì vào bụng, giống như người man di nuốt đất vào những lúc không có gì ăn. Ăn thêm một lát bánh mì với bơ nữa được phát thêm cho trợ giáo, chàng ngồi im chờ đến giờ vào lớp.
Chàng không thể không nhận ra đám trẻ hình như đều rầu rĩ im lặng. Không có bất cứ tiếng huyên náo nào như trong một lớp học bình thường; không có cảnh nồ giỡn hay đuổi bắt. Những đứa trẻ co quắp run rẩy cùng nhau, còn chẳng có cả ý chí chỉ để nhúc nhích. Đứa học trò duy nhất tỏ ra thích vận động hay nghịch ngợm là cậu Squeers, và bởi trò giải trí chủ yếu của cậu là dùng đôi giày mới của mình giẫm lên ngón chân những đứa khác, thành thử vẻ hoan hỉ của cậu gây ngứa mắt nhiều hơn.
Sau chừng nửa tiếng, Squeers quay lại, đám trẻ liền ngồi vào chỗ và lấy sách của chúng ra với tỉ lệ một cuốn sách tám đứa dùng chung. Vài phút trôi qua, trông ông Squeers có vẻ trầm tư lắm lắm, như thể ông lĩnh hội hoàn hảo tất cả những gì viết trong sách và có thể đọc thuộc lòng nội dung nếu muốn. Rồi ông gọi lớp nhất lên.
Nghe lệnh thế thì có chừng sáu thằng bé ăn mặc rách rưới đầu gối khuỷu tay thòi ra hết cả, lên xếp hàng trước bàn thầy hiệu trưởng; một đứa đặt một quyển sách tả tơi bẩn thỉu trước ánh mắt uyên bác của ông Squeers.
“Cậu Nickleby, đây là lớp nhất môn đánh vần và triết học,” Squeers nói, bảo Nicholas đến đứng cạnh ông. “Chúng ta sẽ có một lớp Latinh, lớp đấy sẽ giao cho cậu. Nào, đứa nhất đâu rồi?”
“Thưa thầy, nó đang lau cửa xổ phòng hậu,” lớp trưởng lâm thời của lớp triết học nói.
“Phải rồi, phải rồi,” Squeers đáp. “Ở đây chúng tôi dạy bám sát với thực tế và lấy người học làm trung tâm, cậu Nickleby ạ; giáo dục phải như thế mới hiệu quả được. Au, Lờ au lau, động từ, tức là cọ rửa, làm cho sạch. Ưa, cờ ưa cưa hỏi cửa, xờ ô xô hỏi xổ, cửa xổ. Học từ mới nào là học trò sẽ đi thực hành luôn. Tôi gọi đấy là dạy học tích cực, cậu Nickleby ạ. Thế đứa thứ hai đâu?”
“Thưa thầy nó đang đi nhổ cỏ ngoài vườn,” một đứa khẽ đáp.
“Đúng rồi,” Squeers nói, không chút lúng túng. “Đúng là nó đang nhổ cỏ. Thơ ao thao hỏi thảo, vờ ất vất nặng vật, thảo vật, tức là kiến thức về cây cỏ. Biết được thảo vật là kiến thức về cây cỏ là trò đó ra ngoài thực hành luôn. Cậu thấy phương pháp sư phạm của chúng tôi có hay không cơ chứ?”
“Đúng là rất được việc,” Nicholas đáp.
“Cậu nói thế là phải lắm,” Squeers đáp, không mảy may nghĩ câu đó có thể mang nghĩa khác. “Đứa thứ ba nào, ngựa là gì?”
“Là con vật, thưa thầy,” thằng bé đáp.
“Đúng lắm,” Squeers nói. “Nickleby, cậu thấy thế có đúng không?”
“Tôi tin đó là điều rất đương nhiên rồi, thưa ông,” Nicholas đáp.
“Không thể sai được,” Squeers nói. “Ngựa là động vật bốn chân, mà bốn chân[2] trong tiếng Latinh là con vật. Bất cứ ai học qua ngữ pháp thì đều biết cái đó, nếu không thì người ta học ngữ pháp làm chi nữa?”
“Cũng phải!” Nicholas lơ đễnh đáp.
“Trò đã thuộc như thế rồi,” Squeers nói tiếp, quay sang thằng bé, “thì mau đi chải lông cho con ngựa của ta đi, chải cho tử tế vào không thì đến lượt ta chải trò đấy. Những đứa còn lại đi kéo nước cho đến khi được nhắc dừng, mai là ngày giặt rửa đấy, thùng phải đầy nước mới được.”
Nói thế xong ông giải tán lớp nhất để chúng đi thực hành triết lý, rồi nhìn Nicholas bằng một ánh mắt nửa xảo quyệt nửa nghi ngờ, như thể ông không chắc chàng trai này đang nghĩ gì về mình.
“Ở đây chúng ta làm như thế đấy, cậu Nickleby,” sau một hồi im lặng, ông nói.
Nicholas nhún vai khẽ đến nỗi gần như không thể nhận ra, rồi bảo chàng đã thấy rồi.
“Phương pháp này rất là hiệu quả đấy,” Squeers nói. “Giờ thì tập hợp mười bốn đứa nhỏ cho chúng đọc bài đi. Cậu cũng phải làm việc thôi, như các cụ bảo ấy: tay làm thì hàm nhai, tay quai miệng trễ.”
Khi nói thế, hình như ông Squeers bất chợt nghĩ, hoặc là ông không được nói quá nhiều với trợ giáo của mình, hoặc là trợ giáo đã không đủ lời tán dương trường của ông. Đám trẻ con tập hợp thành nửa vòng tròn trước mặt thầy mới, phút chốc chàng đã được nghe tiếng đọc bài uể oải, ấp úng những câu chuyện hết sức thú vị chỉ có thể tìm thấy trong những sách đánh vần từ thời nảo thời nào.
Công việc hào hứng đến độ buổi sáng kéo dài mãi không hết được. Đến một giờ, đám trẻ con do trước đó đã mất sạch cảm giác thèm ăn nhờ món cháo yến mạch và khoai tây, lúc này ngồi xuống ăn một món hình như là thịt bò muối rất dai. Nicholas thì được ăn riêng ở một bàn. Sau giờ ăn, đám trẻ lại co quắp run rẩy trong phòng học thêm một tiếng nữa thì giờ học mới lại bắt đầu.
Lệ của ông Squeers là sau mỗi chuyến lên thủ đô nửa năm một của mình ông sẽ tập hợp đám con trai lại và nói về những người thân bạn bè ông gặp, tin tức ông nghe được, các thư từ ông đem về, những hóa đơn nào đã trả và hóa đơn nào chưa, vân vân. Sự kiện long trọng này luôn diễn ra vào buổi chiều sau hôm ông trở về; có lẽ là để đám trẻ con học cách kiềm chế nỗi sốt sắng, mà cũng có thể là để ông Squeers cứng rắn và bớt nhân nhượng với lũ trẻ nhờ vào chỗ rượu ông thường nốc sau bữa sớm. Dù là thế nào đi nữa thì tất cả những đứa đi lau cửa sổ, coi ngựa, làm vườn, trông bò đều được gọi về và cả trường tập hợp đầy đủ. Squeers cầm một bó giấy trên tay, còn bà vợ thì cầm theo hai cây gậy đi vào phòng yêu cầu tất cả trật tự.
“Đứa nào hở ra một câu mà không xin phép,” ông Squeers ôn tồn bảo, “thì ta đánh cho tuốt xác.”
Tuyên bố này đem lại kết quả rất đúng ý ông, cả phòng lập tức im lặng như chết. Rồi Squeers nói tiếp:
“Các trò, ta đã từ London trở về với gia đình và các trò rồi đây.”
Theo tục lệ, đám trẻ reo lên ba tiếng yếu ớt trước cái tin tuyệt vời ấy. Những tiếng reo thật chẳng khác nào tiếng thở hắt run rẩy.
“Ta đã gặp cha mẹ vài đứa,” Squeers nói tiếp rồi giở mớ giấy ra, “cha mẹ mấy đứa rất hài lòng khi biết mấy đứa được chăm sóc rất tử tế, nên tất cả các gia đình vẫn sẽ tiếp tục gửi mấy đứa ở đây, phải thấy đấy là lựa chọn tuyệt vời cho tất cả mọi người.”
Hai ba đứa đưa tay ôm mặt khi nghe Squeers nói thế, nhưng phần lớn đám trẻ ấy đều chẳng còn nhớ mặt cha mẹ mình nữa, nên hoàn toàn thờ ơ.
“Tuy nhiên cũng có vài chuyện không như ý,” Squeers nói, gương mặt trở nên dữ tợn; “bố Bolder thiếu của ta hai bảng. Bolder đâu?”
“Nó đây thưa thầy,” hai chục đứa lăng xăng tranh nhau trả lời. Đàn ông với trẻ con có vẻ cũng chẳng khác nhau là mấy.
“Lên đây, Bolder,” Squeers nói.
Một đứa trẻ ốm yếu, hai bàn tay đầy mụn cóc, bước tới bàn thầy hiệu trưởng rồi hướng ánh mắt cầu xin của nó nhìn Squeers. Mặt nó trắng bợt, có thể nghe được tiếng tim nó đập thình thịch.
“Này Bolder,” Squeers nói rất chậm, vừa nói vừa nghĩ xem nên dùng từ ngữ thế nào. “Này Bolder, nếu bố trò nghĩ rằng chỉ vì... này, cái gì kia?”
Squeers chộp lấy cổ tay áo thằng bé rồi săm soi với một vẻ mặt kinh tởm hãi hùng rất có tính giáo dục.
“Thế này là sao?” ông hiệu trưởng hỏi, quật gậy đánh chát một cái.
“Con không làm sao được ạ,” thằng bé vừa khóc vừa đáp. “Chúng cứ lên thôi; con nghĩ đấy là do con bị giao dọn ở những chỗ bẩn - con không biết đấy là cái gì, nhưng không phải lỗi con.”
“Bolder,” Squeers vừa nói vừa xắn cổ tay áo ông lên rồi hà hơi bàn tay phải ông để nắm cây gậy cho chắc, “mày là thằng vô lại hết thuốc chữa, trận đòn trước hình như chẳng nghĩa lý gì với mày rồi, để xem lần này tao có chữa được cái tật của mày đi không.”
Nói thế xong, hoàn toàn không để tâm đến tiếng kêu van thảm thương, ông Squeers quất thằng bé túi bụi. Ông quật nữa, quật mãi, quật đến khi mỏi tay ông mới chịu dừng lại.
“Đấy,” Squeers nói; “mày cố mà kì thật lực vào, kì sơ sơ không hết được đâu. Kìa! có ngậm cái mồm lại đi không thì bảo? Smike, bắt nó ngậm mồm cho tao.”
Cậu này biết rõ là có lệnh thì chớ chần chừ, liền lôi nạn nhân ra khỏi phòng. Ông Squeers lại ngồi vắt vẻo trên cái ghế đẩu của ông, bên cạnh là bà Squeers cũng ngồi ghế.
“Để xem nào,” Squeers nói. “Có thư cho Cobbey. Cobbey đứng lên nào.”
Một thằng bé khác đừng lên, nhìn chằm chằm lá thư trong khi ông Squeers tóm tắt nội dung ghi trong ấy.
“Ồ!” Squeers bảo: “Bà Cobbey chết rồi nhé, còn cậu John thì say xỉn thường xuyên, tất cả tin tức chị trò gửi chỉ có thế, cộng thêm mười tám xu vừa đủ trả cho ô cửa sổ bị vỡ lần trước. Vợ yêu, em cầm tiền nhé?”
Vị phu nhân đức độ cầm mười tám xu bỏ tọt vào túi rất chuyên nghiệp, rồi Squeers chuyển sang lá thư gửi cho đứa tiếp theo, giọng lạnh lùng.
“Graymarsh,” Squeers bảo, “Đứng lên nào Graymarsh.”
Một thằng bé khác đứng lên, còn ông hiệu trưởng thì lại đọc lướt thư như vừa nãy.
“Bà bác ngoại của Graymarsh,” Squeers nói sau khi đã nắm được vắn tắt nội dung thư, “rất vui vì trò vẫn khỏe mạnh vui vẻ, và bà gửi lời cảm ơn rất mực cho bà Squeers, bảo rằng bà đích thực là thiên thần. Bà cũng nghĩ thầy Squeers là người quá tốt đẹp quá tử tế, bà hy vọng Chúa cho thầy được nhiều tuổi để tiếp tục nghề trồng người. Định gửi hai đôi tất dài nhưng thiếu tiền nên gửi thế vào đó một tập sách giáo lý, mong Graymarsh tin vào Đấng Quan phòng. Trên hết, bà mong cháu sẽ học hành tử tế để ông bà Squeers được vui lòng, xem ông bà như bạn bè duy nhất; cũng mong cháu bà yêu quý cậu Squeers; ngoài ra đừng phản đối ngủ năm người một giường, tín đồ Cơ đốc không ai làm vậy. Ái chà!” Squeers gấp lá thư lại mà nói, “một lá thư tuyệt vời. Cảm động thế chứ lại.”
Theo một nghĩa nào đó thì đúng là cảm động thật, bởi những bạn bè thân thiết của bà bác ngoại của Graymarsh đều đồn thổi với nhau rằng bà chính là mẹ ruột của nó; tuy nhiên Squeers không đả động đến chi tiết ấy (có vẻ như nó hơi vô luân đối với bọn trẻ con), liền gọi đứa tiếp theo là “Mobbs”, thằng bé này đứng dậy.
“Mẹ kế của Mobbs,” Squeers nói, “rất buồn phiền khi biết trò không chịu ăn thịt mỡ, thành thử cứ ốm yếu mãi. Qua thư hồi đáp tới đây bà rất muốn biết trò định thế nào nếu cứ kén cá chọn canh như vậy; cũng như tại sao trò lại có thể bịt mũi trước món canh gan bò được được thầy mình cầu phước. Chuyện này bà đọc được trên báo ở London chứ không phải nghe từ thầy Squeers đâu, thầy là người rất mực thiện lương không khi nào lại đi nói xấu như thế, và biết chuyện thì bà thấy bực bội lắm, Mobbs không biết phải trái đúng sai gì cả. Bà rất tiếc vì trò có thái độ chống đối, như thế là rất sai, bà mong ông Squeers cứ đánh thẳng tay cho con bà ngoan ngoãn trở lại; và do thấy con hư nên bà sẽ cắt luôn phần tiền tiêu vặt nửa penny mỗi tuần, con dao hai lưỡi có cái mở nút chai bà mua cho con, thì sẽ được tặng lại cho hội truyền đạo.”
“Ở đây không có cái trò sưng sỉa õng ẹo,” Squeers nói, sau một khoảng lặng đáng sợ khi ông này lại hà hơi vào bàn tay phải lần nữa. “Ở đây chỉ có vui vẻ và mãn nguyện thôi. Mobbs, lên đây!”
Mobbs chầm chậm đi tới bàn, dụi dụi mắt chuẩn bị nhận phần của mình; sau khi ăn trận đòn không kém gì đứa trước đó, thằng bé cũng đi ra khỏi phòng theo lối cửa hông.
Ông Squeers tiếp tục mở xấp thư; một số thư có tiền, được bà Squeers xử lý rất nhanh gọn; số khác nhắc đến các món trang phục như mũ nón các kiểu, tất cả chúng bà Squeers đều phán rằng hoặc là quá rộng, hoặc là quá chật, chỉ vừa với đúng một đứa duy nhất là cậu Squeers, hình thể cậu chắc phải co giãn linh hoạt lắm vì tất cả mọi thứ áo quần chui vào cái trường này đều vừa vặn với cậu như in. Đầu cậu chắc phải là một thứ siêu dẻo, vì tất cả các thể loại mũ bất kể kích cỡ đầu cậu đều nhét vừa.
Cuộc đọc thư nhà kết thúc, Squeers dạy thêm vài bài học uể oải nữa rồi ra chỗ lò sưởi ngồi để Nicholas tự xoay xở với đám trẻ trong cái phòng học lạnh cóng; bữa ăn gồm bánh mì và phó mát được đem ra sau khi trời tối hẳn.
Có một cái lò nhỏ ở góc phòng, gần với bàn giáo viên nhất. Nicholas ngồi cạnh cái lò đó, nay nhận rõ tình cảnh của mình, chàng u uất chán chường đến độ nếu lúc này tử thần có đến tìm chàng thì hẳn chàng sẽ rất hạnh phúc đi theo. Cảnh tàn bạo mà chàng vừa phải làm nhân chứng bất đắc dĩ, lối hành xử tàn nhẫn và bạo lực của Squeers ngay cả lúc ông ta vui vẻ nhất, cái chỗ bẩn thỉu nhếch nhác này, những cảnh tượng thanh âm xung quanh chàng, đều góp phần tạo nên cảm giác u uất kia; nhưng rồi chàng nhớ ra mình là trợ giáo ở đây, vậy thì dù là ma đưa lối quỷ đưa đường thế nào đi chăng nữa chàng vẫn cứ là một kẻ đồng lõa cho một bộ máy tàn nhẫn khiến chàng cảm thấy kinh tởm và công phẫn; nghĩ như thế chàng thấy hận chính mình, cảm thấy chỉ riêng cái nhận thức của chàng về vị thế hiện tại của bản thân cũng đủ khiến chàng mãi mãi không bao giờ ngẩng đầu lên được nữa.
Nhưng ý chàng đã quyết, và quyết tâm của chàng đêm hôm qua vẫn nguyên vẹn không hề lay chuyển. Chàng viết thư cho mẹ và em gái, báo rằng chuyến đi kết thúc tốt đẹp, kể rất ít về trường Dotheboys, cố lấy một giọng vui tươi phấn khởi hết mức có thể. Chàng hy vọng rằng mình có thể làm được điều gì đó tử tế ngay cả ở một nơi như thế này; vả lại, mẹ và em phụ thuộc quá nhiều vào ông bác nên chàng cũng không thể công khai nỗi phẫn nộ của mình được.
Tuy nhiên hoàn cảnh mà chàng rơi vào là thứ khiến Nicholas rối bời hơn cả. Rất có thể Kate em gái chàng cũng sẽ sa vào tình cảnh tương tự. Ông bác chàng đã lừa chàng, vậy thì ông ngại gì mà không đẩy em gái chàng vào một chốn khốn nạn nào ở đó tuổi trẻ và nhan sắc con bé sẽ trở thành lời nguyền khủng khiếp hơn nhiều so với tuổi già và vẻ xấu xí đây? Đối với một người bị cầm tù, bị trói chặt chân tay, đấy là một ý thực kinh khủng; nhưng không, chàng nghĩ, còn có mẹ chàng nữa; còn có cô họa sĩ chủ nhà nữa - họ tuy đầu óc đơn giản, nhưng cũng từng kiếm sống, tức là cũng biết đời là như thế nào. Chàng những muốn tin rằng Ralph Nickleby chỉ có mối ghét riêng đối với chàng mà thôi. Nay chính chàng cũng thấy có lý do xác đáng mà căm ghét bản thân, Nicholas mau lẹ đi đến kết luận kia và tự thuyết phục bản thân rằng ác cảm của người bác sẽ chỉ giới hạn ở mình chàng mà thôi.
Đang trầm ngâm trăn trở như thế, chàng giật mình thấy cái mặt của Smike ngước lên nhìn chàng. Cậu ta lúc này đang quỳ xuống chỗ cái lò để nhặt than vãi bỏ lại vào đống lửa. Smike đang nhìn trộm Nicholas, rồi khi thấy chàng nhìn lại, cậu ta co rúm người như sắp bị đánh.
“Đừng sợ tôi,” Nicholas dịu dàng nói. “Cậu lạnh à?”
“Kh... không đâu.”
“Thấy đang run lẩy bẩy kìa.”
“Tôi không lạnh,” Smike đáp vội. “Tôi quen rồi.”
Hành xử của Smike hiện rõ nỗi sợ làm mích lòng người khác, cậu này tỏ ra một sinh vật sợ sệt và hoảng loạn đến độ Nicholas không cầm lòng được mà thốt lên, “Tôi thương cậu quá!”
Nếu chàng đánh Smike, hẳn cậu này sẽ lủi đi ngay. Nhưng nghe Nicholas nói thế thì cậu ta bật khóc.
“Hu hu!” cậu ta rống lên, hai bàn tay xương xẩu nứt nẻ ôm mặt. “Tôi khổ quá, khổ chết mất.”
“Suỵt!” Nicholas nói, đặt tay lên vai Smike. “Cứng cỏi lên nào; bao nhiêu năm nay cậu đã rất cứng cỏi rồi, Chúa cứu giúp cậu.”
“Bao nhiêu năm nay!” Smike vẫn khóc. “Ối giời ơi, ối giời ơi, bao nhiêu năm! Bao nhiêu năm rồi từ khi tôi còn là thằng bé nhỏ nhất ở đây! Mọi người đâu hết cả rồi?”
“Cậu bảo ai cơ?” Nicholas hỏi, những mong làm sinh vật đờ đẫn đáng thương này tỉnh trí lại. “Nói cho tôi biết đi.”
“Các bạn tôi,” cậu ta đáp, “tôi... tôi... ôi trời ơi! tôi khốn khổ khốn nạn quá!”
“Đừng bao giờ mất hy vọng,” Nicholas nói; chàng không biết phải nói gì nữa.
“Không,” kẻ kia đáp, “không; tôi không có hy vọng nữa. Anh có nhớ thằng bé chết ở đây không?”
“Lúc đó tôi chưa ở đây,” Nicholas dịu dàng nói; “nhưng đã có chuyện gì?”
“Ôi ôi,” Smike nói, nhích lại gần Nicholas, “tôi ở bên cậu ấy ban đêm, rồi tất cả im lặng, cậu ấy không kêu khóc đòi các bạn cậu ấy nữa, mà bắt đầu thấy quanh giường mình những mặt người thân ở nhà; cậu ấy bảo họ mỉm cười và nói chuyện với họ, cậu ấy ngỏng đầu dậy định hôn họ, rồi cậu ấy chết. Anh hiểu không?”
“Hiểu, hiểu,” Nicholas đáp.
“Lúc tôi chết tôi ai sẽ mỉm cười với tôi đây!” cậu ta khóc lóc. “Ai sẽ nói chuyện với tôi suốt những đêm dài đây! Họ không đến đâu; nếu đến thì họ sẽ sợ tôi, vì tôi không nhớ gì, không biết ai nữa. Tôi sống cũng khổ chết cũng khổ. Làm gì có hy vọng, làm gì có!”
Chuông kêu báo giờ đi ngủ: Smike nghe thấy âm thanh ấy liền quay về trạng thái đờ đẫn thường lệ rồi lỉnh đi như thể sợ bị ai nhìn thấy. Nicholas ôm trái tim nặng trĩu quay trở về phòng ngủ chung chật chội bẩn thỉu - không phải để nghỉ ngơi; vì ở cái chốn này điều ấy không hề tồn tại.
Nguyễn Hoài dịch
[1] Nguyên văn là mercenary nurse, chỉ các vú nuôi được trả tiền để chăm sóc nhũ nhi. Ở Anh thế kỷ 18 19 do thiếu kiểm soát chặt chẽ nên điều kiện chăm sóc trẻ em ở những chỗ chăm thuê như thế này rất tồi tệ, thậm chí nhiều vú nuôi bị truy tố và xử tử vì tội giết trẻ em hàng loại. Ý nói tình trạng ở Dotheboys Hall còn kinh khủng hơn gấp nhiều lần.
[2] Quadruped: động vật bốn chân.
