favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Hạ 2026
Next

Marthe Robert về Jakob von Gunten

29/05/2026 15:40

Marthe Robert từng có thời điểm của mình, trong lịch sử bình luận Kafka. Nữ phê bình gia cũng quan tâm đến Robert Walser và là người dịch Jakob von Gunten sang tiếng Pháp, dưới nhan đề L'Institut Benjamenta. Dưới đây là lời tựa của Marthe Robert cho bản dịch của mình.

 

"Walser sinh ngày 15 tháng Tư năm 1878, tại Bienne [Biel], tổng Berne [Bern]. Là con áp út trong một gia đình gồm tám người con, ông đi học cho đến tuổi mười bốn và chuẩn bị làm công việc nhân viên ngân hàng. Mười bảy tuổi, ông rời gia đình, tới sống ở Bâle [Basel], nơi ông làm nhân viên tại hãng von Speyr và Co., rồi ở Stuttgart, nơi ông tìm được việc trong một nhà xuất bản Đức. Một năm sau, ông lên đường đi Zürich, ghé ngang Tübingen, Hechingen, Schaffhouse, v.v... Lúc thì là nhân viên tại một ngân hàng, lúc lại trong một hãng bảo hiểm, ông sống ở cả Aussershil lẫn trên các ngọn núi tại Zürich, và bắt đầu viết thơ. Chúng ta hãy ghi nhận rằng đó không phải là một hoạt động phụ, mà, nhằm được toàn tâm toàn ý cho nó, lần nào ông cũng bỏ việc, hiển nhiên tin rằng nghệ thuật là một cái gì đó lớn lao. Quả thật, đối với ông việc viết thơ là một thể động gần như thiêng. Có lẽ ai cũng sẽ thấy điều này quá đà. Khi đã ăn hết tiền tiết kiệm, ông tìm một chỗ mới phù hợp với mình, chính bằng cách này ông đã được dẫn dắt đến Thoune và đến Soleure, nơi ông thấy vô cùng khoan khoái. Làm sao mà không thấy thích thú vô tận cho được tại những chốn xinh đẹp nhường ấy, được lộng khung theo lối xinh đẹp nhường ấy bởi các ngọn núi? Chẳng phải chúng ta có ở đây, một bên, một tòa lâu đài trung cổ, còn bên kia, một đại giáo đường baroque theo lối thuần khiết hơn cả? Không lâu sau đó, chúng ta tìm lại được ông tại Zürich. Dường như ở đó, ông đã sống một thời giạn tại Trittligasse, trong một chỗ gồm hai phòng, một dạng chòi nhỏ quyến rũ nơi ông viết các texte mà, đầy can đảm, về sau ông cho xuất bản, dưới nhan đề Fritz Kochers Aufsätze. Để tồn tại, ông làm công việc viết lách tại Văn phòng trợ giúp người thất nghiệp, hoặc giả ông trở thành người hầu gì cũng làm trong một villa bên hồ Zürich. Các mối bận tâm như vậy chắc chắn đã không gây hại cho ông, chúng đã khiến ông biết một chút thế giới và các con người, cũng như chính ông, chẳng hạn, điều này không thể làm ông thờ ơ. Vào thời ấy, ông đi sang Đức, với rất ít tiền trong túi, và một số người bảo hình như ông làm gia nhân ở nhà một bá tước. Dẫu chuyện có là thế nào đi chăng nữa, thì vẫn chắc chắn rằng ông từng là thư ký cho Secession của Berlin, quả đúng là không lâu, bởi ông nhận ra mình được tạo ra để viết và sống bằng những cuốn tiểu thuyết thì mới đúng. Ông viết ba cuốn: Anh em Tanner, Người phụ tá, Jakob von Gunten, cũng như nhiều ê-tuýt, phác thảo và câu chuyện với độ dài rất khác nhau, và làm như thế, ông ở lại Berlin gần bảy năm. Sau đó ông quay về nhà mình và định cư tại Bienne, nhằm hoàn thành, trong chừng mực có thể, tác phẩm đã khởi sự và, nếu người ta có thể nói vậy, vo tròn nó theo lối hào phóng hết mức."

Ghi chú tiểu sử trên đây, do Robert Walser viết, chắc hẳn theo lời yêu cầu của một nhà xuất bản [cho lần tái bản các bài thơ của ông], khiến người ta nuối tiếc đoạn tiếp theo mà nó hẳn có thể có, nếu Walser nghĩ đến việc kể lại cuộc đời mình. Được viết vào năm 1920, tức là ba mươi sáu năm trước khi tác giả của nó chết, lẽ dĩ nhiên nó quá thiếu hoàn chỉnh để có thể dùng làm tài liệu. Nhưng dẫu ngắn như vậy, cũng hết sức mơ hồ về một số điểm, nó làm người ta cảm thấy rõ hơn so với một nghiên cứu dài, cái hỗn hợp đó, của chính xác và thiếu chuẩn xác, của nghiêm trang và nhẹ dạ, của bất kính và tôn trọng, thứ làm nên sự độc đáo cho tác phẩm của Walser, chẳng phải là không tạo nguy cơ cho sự cân bằng tinh thần của ông. Sự thật thì, đó là một trang giống tất tật những trang mà nhà thơ giải rắc trên các tờ báo, tùy theo chỗ các ông giám đốc có muốn nhận chúng hay không. Một "phơi ơ tông", theo cái từ thông dụng trong tập quán Đức, hay nếu người ta thích hơn, một bài thơ văn xuôi nơi có thể đoán, vừa thật giống vừa rất mờ, bóng hình lang thang theo lối miên viễn của tác giả.

Lang thang, hay nói đúng hơn là ma cà bông, Robert Walser từng là như vậy hết sức nhất quán, với sự thường hẳng, hẳn người ta bị cám dỗ nói là với sự nghiêm ngặt mà những người khác hay đặt vào nhằm tổ chức cuộc đời họ. Giống mọi người du mục đúng nghĩa, ông bị đẩy về phía các thành phố lớn - Berlin hay Zürich - hoặc bị thu hút bởi sự an toàn của những chốn thân thuộc - Berne hay Bienne, thành phố quê hương ông - nhưng ông luôn luôn lại lên đường, ngày này sang hôm sau ông lại khởi sự ở trên đường, một mình, không tiền, đi bộ. Ngay cả những người mà ông yêu cũng không thể nghĩ đến việc khiến ông ở yên một chỗ. Chị gái Lisa của ông, mà ông rất sùng kính và được ông vinh danh trong những cuốn sách của mình (Anh em TannerJakob von Gunten, nơi bà xuất hiện dưới các đường nét gây nhiều cảm động của cô giáo Lisa), anh trai Karl của ông, mà ông có một tình bạn gắn bó và là người sống gần ông trong quãng ông ở Berlin, cũng đều không thể giữ ông lại gần họ, ngay khi ông đã quyết định ra đi. Và nếu, vào năm 1920, ông thực sự nghĩ mình ở lại "nhà mình" nhằm viết xong tác phẩm, thì thế nhưng ông cũng không làm gì như vậy: năm sau đó, ông đã lại ở Berne, nơi ông tiếp tục đổi nơi ở cùng chỗ làm liên xoành xoạch. Cho tới cái ngày bệnh tật, thứ, chắc hẳn đã từ lâu, chậm rãi phá hỏng sự cân bằng tâm trí của ông, đặt dấu chấm hết cho các lang bang của ông và chặn ông lại một lần là xong luôn giữa những bức tường chật hẹp của một trại điên [chú thích của MR: Do nhiều nằn nì của Lisa chị ông, vốn dĩ phát điên vì những toan tính tự sát mà ông thực hiện nhiều lần, ông đồng ý vào bệnh viện tâm thần Waldau, nơi ông ở từ 1929 đến 1933. Dường như các mối bất hòa với viên bác sĩ trưởng đã dẫn tới việc chuyển ông sang trại Herisau, nơi ông sống cho đến khi chết.] Được bảo vệ trước chính ông, dường như với sự nhất trí của ông, Robert Walser không tìm cách giành lại một tự do vốn dĩ đồng nghĩa, đối với ông, với việc quay trở lại một thế giới nơi ông từng lúc nào cũng cảm thấy không đúng chỗ, nếu không thì cũng khả nghi. Và ông thì hy vọng rốt cuộc cũng ổn định được, để "xong xuôi trong chừng mực có thể tác phẩm đã bắt đầu", sống hăm ba năm cuối cùng của đời mình mà không viết lấy một dòng.

Các dữ kiện tiểu sử [ở đây MR chú thích về Carl Seelig] mà giờ đây chúng ta có được không cho phép nói chính xác hoàn cảnh đã tạo điều kiện cho tiến hóa của chứng bệnh ấy, về nó chính Walser nói như một căn bệnh tinh thần khó định nghĩa và có vẻ không thể chữa. Không đi ngược lên tuổi thơ của nhà thơ, mà chúng ta gần như không biết gì, ngoại trừ việc nó đã trở nên u tối do những đau đớn dài dặc của mẹ ông, cũng bị mắc một chứng rối loạn tinh thần trầm trọng, một số sự vị có thể khiến ta nắm bắt được bản tính của cuộc vật lộn bên trong mà Walser phải tiến hành suốt nhiều năm, trước khi hoàn toàn gục ngã. Là con trong một gia đình đông người được biết tới một cách hết sức đáng kính, nhưng khiêm nhường, ông được nhận một sự giáo dục khá sơ sài - ông rời trường học ở tuổi mười bốn - cùng một sự đào tạo nghề nghiệp không mấy đủ sức thỏa mãn các sở thích của ông. Do đó ông không tạo ra hình tượng trí thức, mà đúng hơn, một người tự học, với những gì mà điều này chứa đựng ở phương diện nhạy cảm trước đánh giá của kẻ khác và các nghi ngờ về bản thân. Người ta thấy ông, thông qua các giai thoại mà ông không ngừng nhắc lại trong những trò chuyện cùng những bức thư của ông: bất kỳ ai tiếp cận ông hoặc quan tâm đến tác phẩm của ông thoạt tiên đối với ông đều có vẻ là một người kiểm duyệt, cùng lúc là ông chủ và thẩm phán (với thằng bé học sinh Jakob vai trò này do Herr Benjamenta, con người gây nhiều lo lắng, đóng). Một nữ ca sĩ, được ông gửi cho một bản cuốn sách đầu tiên, Fritz Kochers Aufsätze, gửi trả nó lại cho ông, nêu nhận xét rằng lẽ ra ông phải học tiếng Đức trước khi viết các câu chuyện. Một ông nào đó, chủ tịch một nhóm văn chương nơi ông ta phải đọc một trích đoạn từ các tác phẩm của nhà văn, cảnh báo công chúng rằng Walser còn chưa biết ngôn ngữ của chính mình. Thomas Mann, "người khổng lồ trong địa hạt văn chương tiểu thuyết", coi ông là một đứa trẻ nhìn chung hết sức trí tuệ. Một nhà xuất bản gợi ý ông viết giống Gottfried Keller (người mà Walser cảm thấy sự ngưỡng vọng lớn hơn cả), một người khác, ngược lại, khuyên ông đi theo dấu của Hermann Hesse. Nhưng chẳng ai chấp nhận ông đúng như ông vốn dĩ; ở trường hợp tốt đẹp nhất, người ta đối xử với ông như một đứa trẻ đầy hứa hẹn, thật không may lại đâm đầu vào các kỳ quặc tốt hơn hết là phải sửa chữa đi; ở trường hợp tệ hại nhất, như một kẻ điên rồi sẽ phải vào trại. "Trong một khoảng thời gian, ông nói, ở đây người ta đã nhìn nhận tôi như một thằng điên và nói rõ to những lúc tôi đi ngang bên dưới các vòm tường của chúng tôi: chỗ của hắn là ở trại tâm thần. Nhà thơ Thụy Sĩ Conrad Ferdinand Meyer lớn lao của chúng tôi... cũng từng phải định kỳ lưu trú tại một sanatorium dành cho những người không hoàn toàn tỉnh trí. Giờ đây, người ta đang ăn mừng sinh nhật một trăm của con người khốn khổ ấy với những bài diễn văn và những khúc hát. Và từng có một hôm ông ấy cả gan dùng một cái bút, vì e sợ trở thành một kẻ ẩu tả thảm hại..." Trong thâm tâm chính ông, vì mong muốn được công nhận, chứ không phải bị phán xét, Robert Walser thấy một xâm phạm không thể dung thứ nơi mọi đánh giá, dẫu nó diễn tả một lời khuyên hay một ý kiến đầy từ tâm, thậm chí là một niềm ngưỡng mộ thành thực và bộc phát. Sự từ chối của ông, bị giới hạn như thế bởi lời lẽ của những người khác, đi xa tận tới chỗ thậm chí ông hoảng lên trước lời ngợi ca kín đáo của một người bạn. "Sẽ không bao giờ, Carl Seelig kể, tôi quên được buổi sáng mùa thu ấy, nơi chúng tôi đi bộ từ Teufen đến Speicher, băng ngang một màn sương dày như làm bằng bông. Hôm đó tôi bảo ông rằng có lẽ tác phẩm văn chương của ông sẽ có sức sống lâu dài ngang với tác phẩm của Gottfried Keller. Ông dừng khựng, như bắt rễ xuống đất, nhìn tôi với vẻ nghiêm trang nhất và nói với tôi rằng nếu tôi coi trọng tình bạn của chúng tôi, thì không bao giờ được tới nói với ông những lời khen ngợi như vậy nữa. Ông, Robert Walser, là một con số không và muốn được quên đi." Ở đây ta gặp lại chính lời của Jakob von Gunten, người, nhằm thoát khỏi cái vòng đầy thù địch nơi sự phát xét của kẻ khác nhốt cậu vào, đặt toàn bộ tham vọng của mình vào việc biến chính mình thành một con số không hoàn hảo.

Qua nhiều nét, và nhất là sự dễ động lòng rất lớn trước đánh giá và phê bình ấy, Robert Walser gợi nhắc theo lối dị thường Heinrich von Kleist, nhà thơ hoàn toàn không được hiểu vào thời của mình, ở sai chỗ tại mọi nơi, và thậm chí "không thể hiểu nổi" trong mắt chính ông. Trong một phơi ơ tông mang tên Heinrich von Kleist, ông dựng ra theo cách thức rất hài riêng của mình, vừa tàn nhẫn vừa ngây thơ, bản danh sách gây ngao ngán các thất bại của Kleist, mà sự nghiệp bày ra với sự nghiệp của ông những tương đồng đáng kinh ngạc. Cùng thái độ đó của phê bình, vừa nghiêm khắc lại vừa độ lượng, nói tóm lại là đầy vẻ cha chú, cùng sự không hiểu từ phía các nhà văn lớn đương thời mà ý kiến mang giá trị của luật, cùng sự mất rễ và cùng sự lang thang miên viễn; tức là, một sự cô lập có thể so sánh, với một người là ở giữa lãng mạn luận, còn người kia, ở giữa nhiều dòng khác nhau tạo dựng avant-garde của thời đại. Khác biệt duy nhất nằm ở cách thức với đó mỗi người đưa số phận riêng vào tác phẩm của mình. Quả thật, nếu Kleist, tìm cách thoát khỏi số phận của ông bằng cách tưởng tượng ra một thế giới bi thảm nơi lỗi và hỏng được đảo ngược ở đoạn kết theo lối thần kỳ, thì Walser viết nên một bài thơ vì vinh quang của thất bại thuần túy và đơn giản, về thất bại được tìm kiếm cho chính ông, cách nào đó theo lối vui tươi, không hy vọng được bù trừ và còn ít hy vọng về phần thưởng hơn. Và trong khi các nhân vật của Kleist là những người mộng du được biện minh bởi giấc mơ của họ, thì các nhân vật của Walser đi qua trong tiểu thuyết bằng bước chân vững chãi và nhậm lẹ, mắt mở to, những tay ma cà bông đích thực mà toàn bộ tham vọng là đi ngang qua, không trông đợi từ ân sủng nào khác ngoài ân sủng mà họ đặt vào chuyện mình không là gì hết.

Mặc cho sự mù mờ của ông, và sự hài hước, thứ thường xuyên chuyển dịch nghĩa của truyện, sự tìm kiếm thất bại ấy quá mức hiển nhiên được nối vào với tình cảm sâu sắc của Walser, thành thử người ta không thể hài lòng với việc thấy ở đó một thái độ thuộc cảm năng. "Trước cái ý tôi sẽ có được thành công trong đời, ông nói, tôi phát hoảng." Và nữa: "Tôi thây kệ thế giới trên cao, bởi tại đây, phía dưới, tôi có toàn bộ những gì mà người ta cần, các thói tật đẹp cùng các đức hạnh đẹp, muối và bánh mì." Đấy không phải là một cách nói, ông thây kệ cái thế giới bên trên kia tận tới nỗi, mỗi lần bị buộc đến đó - và rất thường xuyên, bởi còn xa thì lúc nào ông cũng có "muối và bánh mì" - ông đều chọn, như thể vậy thì mới được, những công việc thấp kém nhất và được trả công tồi tệ nhất. Ở Zürich, ông nói với chúng ta, ông từng làm người hầu gì cũng làm tại một villa giàu có ("Ở nhà một phụ nữ Do Thái, ông nói rõ hơn trong một bức thư, bà ta có một phòng khách chăng từ đầu đến cuối thứ lụa vàng và đi những đôi giày viền lông"). Và nếu dường ông chối bỏ, hay ít ra thì khiến người ta phải nghi ngờ, việc từng có lúc ông làm gia nhân tại một lâu đài vùng Thượng Silesia, thì ở chỗ khác ông xác nhận trường đoạn ấy trong đời mình với những chi tiết mà hẳn người ta không thể lờ đi, bởi vì ta tìm thấy lại chúng, chỉ biến đối chút ít, trong Jakob von Gunten, nơi, hết sức hiển nhiên, chúng có một giá trị thuộc tiểu sử. "Cô cũng sẽ tìm thấy ở số đầu tiên này... một chân dung tôi theo một bức ảnh mà một hôm tôi đã thuê chụp tại Berlin, chỗ cửa hàng Wertheim, cái hồi thiếu chút nữa thì tôi đã vào nhà một bá tước làm gia nhân. Chuyện cách đây đã mười bảy năm rồi, và chắc hẳn cô sẽ rất buồn khổ khi biết mình đang trao đổi thư từ với một người xưa kia từng là cư dân tại một lâu đài, hay nói đúng hơn một kẻ đày tớ và kẻ chuyên cọ đồ ăn bằng bạc, một người, sau khi kết thúc sự nghiệp tên hầu ở Thượng Silesia, tức là sau khi đã bị đuổi việc với một tờ giấy chứng nhận tương đối tươm, đã viết Anh em Tanner, một cuốn sách mà cô biết và yêu quý, như cô đã có lòng tốt nói điều đó với tôi..." [thư RW gửi một phụ nữ, mà MR tìm được - mấy chỗ trích dẫn ở trên cũng từ đó]. Khi quay trở lại hoàn cảnh rất kỳ quái này trong cuộc đời một nhà văn, về sau ông nói rõ vai trò của mình ở việc tạo ra "Nhật ký" của Jakob von Gunten, được tạo nên, ông nói, "với các nhận xét mà tôi đã tập hợp được hồi làm gia nhân trong một cơ sở có chút giống với cơ sở được miêu tả trong cuốn tiểu thuyết". Như vậy, Robert Walser tạo ra nhân vật chính trẻ tuổi của mình theo hình ảnh chính ông: như Jakob, hậu duệ đã kiệt sức của một gia đình lâu đời, người đặt toàn bộ lòng kiêu hãnh của mình vào việc chỉ còn trở thành kẻ hầu hạ thấp kém nhất nữa mà thôi, ông chế nhạo thế giới bên trên, ông "thây kệ" nó, thậm chí ông còn trả thù nó, không phải bằng sự khinh bỉ hay nổi loạn, mà, hết sức nghịch lý, bằng cách tuyên bố thiên hướng "phục vụ" của mình.

Niềm say mê thất bại này, được giả trang trong cuốn tiểu thuyết thành tình yêu "sự phục vụ", không chỉ có những hệ quả mà người ta tưởng tượng được lên cuộc sống xã hội của Walser. Bởi nó không có các giới hạn, nó không thể dừng lại như nhờ phép mầu ở chỉ địa hạt mà một nhà văn, dẫu anh ta hết sức cuồng nhiệt muốn lạc lối, buộc phải cấm nó. Vì muốn thất bại ở mọi sự, từ rất sớm Walser dự cảm được rằng ông cũng sẽ phải chấp nhận việc thất bại trong việc tạo ra tác phẩm của ông, tức là ở nơi ông chỉ có thể đồng ý với thất bại bằng cách lo sao mà tự phá hủy chính mình. Chắc chắn, đến một điểm nào đó ông được phép nghĩ là mình tìm thất bại xã hội nhằm đoạt lấy thắng lợi trên một mảnh đất khác, mảnh đất của nghệ thuật. Nhưng thất bại này và thắng lợi này có thể được duy trì cùng nhau lâu hay không? Một giao kèo với cuộc đời như thế chẳng phải mắc vào nguy cơ chính nó thành ra một thất bại hay sao? Dẫu thế nào thì cũng có mối nguy theo đó cá nhân luận cực điểm của nhà thơ gây hại nghiêm trọng cho sự phát triển tiểu thuyết gia của anh ta, tách anh ta khỏi các vật lộn cùng xung đột, thứ mang tới cho tiểu thuyết lẽ sống chính yếu của nó.

Đấy là điều mà Franz Kafka từng thấy rõ, vốn dĩ ông ngưỡng mộ Walser vô vàn và tự khám phá với nhà văn Thụy Sĩ các giao cảm chặt chẽ và theo một nghĩa gây nhiều lo lắng. Chúng ta hãy ghi nhận là Walser hơn Kafka năm tuổi và vào quãng ông xuất bản Anh em Tanner (1907), Kafka hẵng chỉ là một tiến sĩ luật trẻ tuổi say mê văn chương, nhân viên một hãng bảo hiểm (giống chính Walser, có lúc), người, dẫu lúc nào cũng viết, chưa tạo ra được gì mà chính ông có thể coi như một tác phẩm. Trong mắt những người xung quanh ông, được các tờ báo Praha làm cho quen thuộc với cái tên Walser, hẳn hết sức tự nhiên ông gợi lên bóng dáng của Simon Tanner hoặc Joseph Marti, những nhân vật đi ngang qua, dừng lại ở đây đó, rồi biến mất với tự do tuyệt diệu của các vật thể trôi nổi, chẳng hiểu bằng cách nào mà thoát được khỏi trọng lực. Dẫu thế nào thì ta cũng có một bức thư nơi Kafka dường đáp lại một ám chỉ thuộc dạng này, và nơi, ông công nhận, cho đến một điểm nhất định, việc ông giống các tạo vật của Walser, tuy nhiên ông chỉ ra những gì, theo nghĩa đen, phân tách ông với tác giả của họ. Bức thư ấy, có khả năng viết vào năm 1909 và gửi cho Dr Eisner, giám đốc của Kafka tại Công ty nơi ông làm việc, xứng đáng được trích thật dài, cả vì vị thế văn chương mà nó khẳng định lẫn vì độ thấu suốt mà nó cho thấy về Walser, mà vào thời đó không ai có thể đoán được tấn kịch: "Walser biết tôi? Tôi không biết ông ấy, tôi biết Jakob von Gunten, một cuốn sách hay. Tôi còn chưa đọc những cuốn khác, một phần do lỗi của ông, bởi vì, mặc cho các lời khuyên của ông, ông đã không muốn mua Anh em Tanner. Simon, tôi nghĩ, là một trong những anh chị em trong cuốn sách. Anh ta đi lang thang, có phải không, sung sướng như một con cá gặp nước, và rốt cuộc anh ta không tới được gì hết, ngoại trừ việc tạo ra khoái lạc cho độc giả? Đấy là một sự nghiệp hết sức tệ hại, tuy vậy, chỉ một sự nghiệp tệ hại mới cung cấp cho thế giới ánh sáng mà một nhà văn đã giỏi nhưng còn chưa hoàn hảo tìm cách tạo ra, thật không may là bằng mọi giá. Lẽ dĩ nhiên, nếu nhìn mọi điều từ bên ngoài, thì có những người như thế khắp nơi, hẳn tôi sẽ có thể liệt kê cho ông vài người, kể cả chính tôi, nhưng tuyệt đối không có gì làm họ nổi bật, nếu chẳng phải là hiệu ứng ánh sáng kia, ở những cuốn tiểu thuyết đủ hay. Người ta có thể nói về những người ấy rằng họ đã chui ra chậm hơn so với những người khác từ thế hệ ngay trước, người ta không thể nào đòi hỏi tất cả mọi người phải đi theo cùng nhịp đều đặn của các bước nhảy đều đặn của thời gian. Khi đã ở lại đằng sau, thì người ta không còn có thể bắt kịp những người khác nữa, tất nhiên rồi, tuy nhiên điều này mang lại cho bước chân lẻ loi một vẻ bề ngoài khiến người ta sẵn sàng đặt cược rằng đó không còn là một bước chân con người nữa, nhưng người ta sẽ thua cược thôi. Hay nghĩ một chút, ánh mắt của một con ngựa đang chạy trên đường đua, nếu người ta có thể giữ lại được biểu cảm của cặp mắt nó, ánh mắt của một con ngựa đang nhảy qua một chướng ngại vật, chắc chắn chỉ cái đó thôi đã hé lộ tính cách cực điểm, lúc này và tuyệt đối đúng của cuộc đua. Nhất thể của khán đài, nhất thể của công chúng sống động, nhất thể của vùng xung quanh vào mùa đó của năm, v.v..., ngay cả khúc valse cuối cùng của dàn nhạc cùng cách thức với đó người ta thích thú chơi nó hôm nay. Nhưng nếu con ngựa của tôi tránh đi mà không muốn nhảy, nếu nó từ chối chướng ngại vật, hay thoát đi và lao vào phía bên trong trường đua, hoặc thậm chí nếu nó hất tôi xuống đất, thì lẽ dĩ nhiên bức tranh toàn cảnh ở vẻ ngoài đã giành được rất nhiều. Các khoảng trống được đào xuống trong công chúng, một số người chạy, những người khác ngã, các bàn tay huơ như thể bị tất tật những loại gió khả dĩ lay, một trận mưa các quan hệ thoáng chốc ập xuống tôi, có thể một số khán giả cảm thấy cái đó và nhất trí với tôi, trong khi tôi nằm như một con sâu trên bãi cỏ. Cái đó có chứng tỏ điều gì hay chăng?" Người ta thấy rằng ở đây Kafka đang tường trình cuộc truy đuổi thất bại vốn dĩ cũng là thứ cám dỗ chính ông một cách nguy hiểm. Phê phán của ông chỉ nghiêm khắc tới vậy vì ông xoay nó vào ông, nó chẳng hề làm biến đổi chút nào một niềm ngưỡng mộ mà ông trao nhiều chứng cớ, đặc biệt trong Nhật ký của mình. Nhưng nếu nhìn nhận phối cảnh đặc biệt vốn dĩ là phối cảnh của ông ở đây, ông chạm vào một điểm đau đớn mà Walser, với tư cách nhà văn được thiên phú một ý thức sắc nhọn về hoàn hảo, hẳn nhất thiết phải thức nhận. Sự thể là sau khi đã viết ba cuốn tiểu thuyết của mình, với một sự nhanh chóng đáng kinh ngạc, ông hoàn toàn ngắt ngang sự sản xuất tiểu thuyết, hoàn toàn không phải vì ông quay đi khỏi thể loại ấy, mà ngược lại vì ông đánh giá nó là "quá lớn" đối với ông. "Vào thời đó, về sau ông sẽ nói, tôi bị ám bởi ham muốn viết các cuốn tiểu thuyết. Nhưng tôi đã nhận ra rằng mình cứ ương bướng trong một hình thức quá rộng đối với tài năng của tôi. Do đó, tôi đã rút mình vào trong cái vỏ sò của câu chuyện ngắn cùng phơi ơ tông." Sau Jakob von Gunten, dường như ông còn có một toan tính cuối cùng nữa. Nhưng nếu đã viết ba cuốn tiểu thuyết khác trong kỳ lưu trú tại Berlin, thì ông đã đốt chúng đi mà không tìm cách cho xuất bản chúng và thậm chí còn không giữ kỷ niệm về chúng.

Như vậy là, Walser, nhằm không xúc phạm các giới hạn của mình, đầy chủ ý hy sinh những thiên bẩm gây choáng ngợp, chúng, người ta sẽ tin chắc vào điều này trong Jakob von Gunten, hẳn đủ để bù trừ cho sự yếu ớt mà ông tự phát hiện ở mình trước quyền năng to lớn của tiểu thuyết. Một hy sinh như thế, về đó người ta có thể đặt giả định là chẳng thể không kèm sự vật lộn, sẽ có thể có vẻ quá đà, thậm chí mang triệu chứng cho chứng rối loạn nghiêm trọng dần dà đã hoàn toàn làm tê liệt hoạt động sáng tạo của nhà thơ. Nhưng cùng lúc, nó thuộc vào con người Walser, và không thể tách rời khỏi cảm hứng của ông, nó hé lộ sự dữ dội của các mâu thuẫn, chúng, theo đúng nghĩa đen, vừa tạo ra sự yếu ớt của ông vì chúng sẽ buộc ông ngừng viết lại vừa sức mạnh của ông, trong chừng mực chúng biến thành phong cách. Loại đạm bạc mà Walser tự áp đặt lên mình do một nỗi đắn đo nhiều tính cách chết chóc, chắc chắn, nhưng cũng do một ý thức chính xác về những giới hạn riêng của ông, không thể bàn cãi khiến ông có một sự e dè, một sự chuẩn xác về tông giọng, một vẻ quyến rũ, chúng hoàn toàn cô lập ông vào quãng đầu thế kỷ ấy nơi, ở Berlin cũng như ở Wien, văn chương ít hướng vào sự kín đáo hơn so với vào sự quẫy đạp ồn ào của các ý, ít lo âu về nói chuẩn hơn so với khiến mình được nghe thấy bằng mọi giá. Nói cho đúng, Walser "tách biệt hết sức đẹp đẽ" như chính ông nói, đến độ cần phải nỗ lực thì mới nhớ ra được rằng ông cùng thời với Rilke và Hofmannsthal, Musil và các bùng nổ cuối cùng của biểu hiện luận. Sự cô lập này, thứ giải thích một phần cho sự không hiểu gần như chung của phê bình [chú thích của MR: Chúng ta hãy nhắc tới những nhà văn hiếm hoi không như vậy: những người mà Walser từng gọi là "các bạn nước ngoài của tôi": Max Brod, Otto Pick, những người đã cố công áp đặt các "phơi ơ tông" cho những tờ báo Praha và không phải lúc nào cũng dễ dàng làm được việc này; Christian Morgenstern, người đã viết về Walser những dòng đáng ngưỡng mộ; Walter Benjamin, và rốt cuộc Carl Seelig, bạn và nhà xuất bản của Walser, người giúp chúng ta biết tác phẩm của ông và đặt nó vào đúng chỗ], có hệ quả dị thường là làm ông hiện ra vừa rất muộn màng lại vừa rất sớm sủa đối với thời của ông. Rất muộn màng, bởi dáng vẻ tinh thần ông, sự nhẹ sâu sắc và nhất là sự trong suốt của ngôn ngữ ông, mang đến cho tác phẩm của ông dạng tuổi trẻ không tuổi đó, mà có lẽ chỉ các Truyện cổ tích của Grimm mới có. Như Walter Benjamin từng nhận xét với rất nhiều tinh xảo, Walser tiếp tục Grimm theo nghĩa kép của từ này, tức là ông bắt đầu truyện của ông vào thời điểm Grimm từ bỏ nó, để, nhằm, cách nào đó, xem chuyện gì xảy ra sau từ "hết". Đôi khi thậm chí, ông viết lại truyện ngay từ đầu, khiến hiện ra khía cạnh các vật mà, do bản tính, truyện thần tiên không để tâm nói tới. Đấy chính là trường hợp của Jakob von Gunten, mà bản thân chủ đề tôn trọng theo lối trung thành truyền thống folklore. Đây, chẳng hạn, Jakob, hậu duệ của một gia đình quý tộc mà cậu đã từ bỏ hoặc bị đuổi khỏi, người ta không biết rõ lắm cả tại sao lẫn bằng cách nào. Chẳng phải cậu gợi nhớ theo lối dị thường chàng hoàng tử trẻ tuổi của các câu chuyện cổ tích, bị buộc phải rời ngôi nhà của ông bố và "đi khắp thế giới rộng lớn" nhằm trưởng thành và chinh phục tự do của mình, hay sao? Bị lạc trong khu rừng tối một thành phố lớn - nơi chúng ta nhận ra Berlin - cậu tìm được chỗ trụ ngụ trong một ngôi nhà có vẻ hồ hởi tiếp đón, nhưng thật ra hết sức nguy hiểm, bởi vì nó chẳng là gì khác ngoài hang ổ đáng khiếp hãi của con yêu. Herr Benjamenta, quả thật, là một con yêu - nhiều lần ông ta chực ăn thịt Jakob - cũng chắc chắn ngang mức, Fraulein Lisa, em gái ông ta, là một nàng tiên. Nếu bản tính của một người bị lộ ra trong giọng nói, sức vóc, thói phàm ăn khủng khiếp của ông ta, thì bản tính của người còn lại được hé lộ nơi chức năng quyền lực giám hộ, được đặc trưng hóa bởi cây gậy nhỏ [cây đũa] của cô giáo. Về phần mình, Viện trình hiện khá chính xác địa điểm thử thách nơi cậu thiếu niên của các truyện cổ tích phải học sống, ở giữa những đau đớn cùng những tước bỏ tồi tệ hơn cả. Khác biệt duy nhất, thứ đủ để biến cổ tích thành tiểu thuyết, ấy là ở đây người ta cho chúng ta thấy cái mà thông thường truyền thuyết không hé một lời: cuộc sống thường nhật của các nhân vật, sự thiếu tiền tàn nhẫn, đối với họ là thứ thay thế cho số phận hẩm hiu, những mối quan hệ vừa rất đơn giản lại vừa rất lạ thường của con yêu với con mồi của nó, của nàng tiên với học trò của mình, và của cả ba với thế giới bị yểm bùa nhỏ bé - sao mà nực cười - mà trong chốc lát họ chiếm lấy trung tâm. Và cả, tất nhiên, chuyện mọi sự không được gỡ rối hoàn toàn như sự lạc quan không thể lay chuyển của truyện cổ tích đòi hỏi: bởi nàng tiên chết, con yêu rơi vào quyền lực nạn nhân của nó, chàng hoàng tử trẻ, còn xa mới được đưa lên kế vị ngai vàng của bố chàng, vẫn ma cà bông như trước, vì đã chẳng kiếm được gì, học được gì, và Viện Benjamenta đùng một cái biến mất, để chỗ lại hoàn toàn không phải cho một cung điện tuyệt vời, mà cho hư vô thuần túy nhất.

Điều gây ấn tượng mạnh trong truyện cổ tích vừa sầu muộn vừa hung dữ này, ấy là Walser đã viết nó khởi đi từ một trường đoàn trong đời ông, dẫu thế ma thuật nơi ông nhốt nó vào không vì vậy mà làm suy yếu thực tại. Viện Benjamenta quả thật vẫn ở lại được trong địa hạt của cái kỳ diệu, một địa hạt đầy rẫy những thứ thô kệch và gây khiếp sợ, vẫn không ngừng là cái trường thuộc hạng thấp kia, được định nội quy như một trại lính Phổ, nơi Walser, để học "phục vụ", chắc hẳn đã phải học sống theo lối cay nghiệt. Ở đây kinh nghiệm thực và huyễn tưởng của giấc mơ ở trong một tương quan thuộc thơ, nó khiến người ta nghĩ, theo lối không thể vượt qua, đến Kafka, người mà ta đã có thể nói hẳn sẽ không hoàn toàn là chính ông nếu Walser không đi trước. Và quả thật, trong số tất tật các nhà văn cùng thời, Walser là người duy nhất từng đánh dấu một cách trực tiếp, nếu không phải lên thế giới tưởng tượng của Kafka, vốn dĩ quá dị thường nên không thể nhận một xung lực nào đó từ bên ngoài, thì ít nhất là yếu tố tạo hình nơi văn xuôi của ông. Chắc chắn, thay vì ảnh hưởng, tốt hơn hết là nói, ở đây, về cuộc gặp hay thiện cảm, nhưng vẫn cứ là cuộc gặp thật đáng kinh ngạc và đôi khi hẳn đánh lừa được những chuyên gia thấu đáo hơn cả. Độc giả nào của Kafka mà không rơi vào hoang mang khi đọc, chẳng hạn, những dòng sau đây, mở đầu cho Người phụ tá: " Một buổi sáng, tám giờ, một thanh niên đứng trước cửa một ngôi nhà tách biệt, trông có vẻ khang trang. Trời đang mưa. “Mình còn hơi ngạc nhiên,” người đang đứng đó nghĩ, “là mình lại mang theo ô.” Những năm trước, anh ta chẳng bao giờ có lấy một cái ô. Bàn tay buông thõng bên hông xách một cái va li nâu, loại rẻ tiền nhất. Trước mắt người thanh niên - có vẻ vừa qua một hành trình vất vả, là tấm biển tráng men ghi: C. Tobler, Văn phòng Kỹ thuật. Anh chờ thêm một lúc, như thể đang chìm vào một suy nghĩ nào đó hẳn chẳng mấy liên quan, rồi mới nhấn nút chuông điện ở cửa. Một người - trông có vẻ là cô hầu - hiện ra mở cửa cho anh. “Tôi là nhân viên mới,” Joseph nói; đó là tên anh. Cô hầu bảo anh vào nhà, đi thẳng xuống đó - cô ta chỉ - là tới văn phòng. Chủ nhà sẽ ra ngay..." Ví dụ này không biệt lập, người ta tìm được nhiều ví dụ khác nữa trong các truyện của Walser, và nhất là trong câu chuyện về Jakob von Gunten, nơi Herr Benjamenta hiện ra như mẫu hơi đơn giản và được họa ra một cách không đầy đủ cho các ông bố khủng khiếp của Kafka. Vóc dáng khổng lồ của ông ta, giọng sầm rền của ông ta, các chuyển hóa ông ta lao thân vào trước mặt Jakob đầy nghi ngại và chăm chú, bản tính của ông ta, vừa nhiều tình yêu lại vừa hung dữ, sự tiến lên không thể dự đoán của suy nghĩ ông ta - toàn bộ những cái đó, không thể chối cãi, mang lại cho đối tác của Jakob một dáng vẻ họ hàng với ông bố trong Bản án hay ông bố trong Biến hình. Quả đúng là mặt khác Herr Benjamenta giống con yêu tinh hơn viên thẩm phán, và ông ta không có ở trước mặt mình một Joseph K., mà là một chàng trai nhẹ bẫng, được phú cho "sự phù phiếm của người nhảy dây", hết sức cả quyết tránh mọi xung đột với thế giới, tự lao mình "xuống đáy bóng tối thấp kém và vớ vẩn". Bằng cách đặt lòng kiêu ngạo của mình ở chuyện chỉ thở tại các vùng thấp, tức là những chỗ nơi thông thường người ta vẫn đặt một sự yếu ớt có chút đáng xấu hổ, Jakob bị đánh bại, bị thua cuộc từ trước, và thêm nữa lại thấy sung sướng. Về điểm vả lại cốt yếu này, cậu được phân tách khỏi cả K. lẫn chàng thanh niên trong các Truyện của Grimm, tức là khỏi người anh hùng trong anh hùng ca, mà những thử thách, dẫu chúng là cơ hội cho thành công hay thất bại, rất đúng lý chiếm toàn bộ không gian của tiểu thuyết. Jakob đã quyết định không vượt qua thử thách, và thậm chí chối bỏ nó, chính vì thế cậu đến một cái trường nơi không có cả thầy giáo, các bài học lẫn các bài kiểm tra. Và trung thành với sự từ chối bướng bỉnh của mình việc giật lấy sự chú ý, không ngừng tuyên bố sự ít quan trọng của mình, cậu đẩy sự hèn mọn tới tận chỗ náu mình vào một góc tối trong câu chuyện của chính cậu, nhằm đỡ bị nhìn thấy hơn nữa. Chính tại đó, trong cái chốn thụt lại này nơi cậu ở với một sự khiêm nhường có chút quỷ quái, mà cậu bắt độc giả phải đến phát hiện mình.

Trong những mối quan hệ của ông với "thế giới bên trên", Walser hành động không khác Jakob, người phát ngôn có thẩm quyền nhất của ông và theo một nghĩa thiên tài hơn cả của ông. Cũng như Jakob đặt toàn bộ nỗi ương bướng của các kẻ nhiều tham vọng vào việc hoàn hảo hóa thất bại của mình, Walser cũng, trong thời kỳ sáng tạo của cuộc đời ông, chỉ quá mức thành công trong việc nhân lên vô số ở quanh chính ông và tác phẩm của ông các cơ may cho thua cuộc. Nhưng như Jakob, người thấy những nỗ lực của mình bị trái ý một cách kỳ quặc, bởi vì Herr Benjamenta, con yêu háu ăn, ông chủ hùng mạnh bất cứ lúc nào cũng có thể nghiền nát cậu đột nhiên buông mình vào sự thụ động đầy nhạo báng nơi nạn nhân của ông ta, Walser cũng giành được trước con quái vật văn chương, kẻ gây cho ông biết bao nỗi sợ cùng niềm nghi ngại, một thắng lợi mà ông đã tưởng mình tránh được hẳn. Ở những năm cuối đời, ông có tự biến mình trở nên bất khả xâm nhập hết mức giữa những bức tường trại điên của mình, thì ít nhất ông vẫn tri nhận được các dấu hiệu cho sự trở ngược, thứ có lẽ sẽ biến đổi số phận ông ba mươi năm về trước, nhưng giờ dây ông chỉ khiến ông lạnh lùng và im lìm, còn cô độc hơn bao giờ hết. Người ta bắt đầu tái bản những cuốn sách của ông, người ta nhắc đến ông, rốt cuộc người ta khám phá được chỗ thuộc về ông, người ta ăn mừng ông trên các tờ tạp chí và radio, toàn bộ những cái đó, chẳng phải là ông không biết, nhưng không gì cho thấy là ông sung sướng với chúng, bởi ông im lặng. Loại vinh quang đến được với ông một cách yếu ớt đã quá chậm trễ, đối với ông nó nực cười, hay ngược lại ông đánh giá là mình bất xứng - không thể nào biết được điều này. Robert Walser không thuộc vào số những người im lặng để người ta phải cầu xin ông cất lời, sự câm nín của ông có một cái gì đó không thể lay chuyển và bề thế, nó có thể khơi lên nỗi hiếu kỳ, nhưng chặn đứng những câu hỏi cuối cùng. Toàn bộ những gì mà người ta có thể nói, có lẽ, ấy là ngay trước cái chết của mình, Robert Walser dường không được hòa giải với thức gây hấn kia, tức là đánh giá của các kẻ khác trong mắt ông, dẫu nó có được phủ lên tiếng ồn của thành công. Có gì đáng ngạc nhiên đâu? Rất lâu ông từng thấy nó trước mặt mình như một trở ngại không thể vượt qua, nhưng sự im lặng của ông đã kéo dài ba mươi năm, và rốt cuộc ông đã đi sang phía bên kia.

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công