Lou Andreas-Salomé viết hồi ký (tiếp): Tình yêu
nối tiếp Kinh nghiệm về Thượng đế,
Khi Thượng đế đã vắng, một người đàn ông - dường là sự hiển lộ trần thế của những phẩm tính từng được quy chiếu vào Thượng đế - đột ngột xuất hiện trong cuộc đời người thiếu nữ mười chín tuổi, gây nên những xáo động sâu sắc nơi điểm giao quãng thơ ấu và dậy thì. Người đàn ông vừa nới rộng những chân trời tinh thần, vừa buộc cô phải đối diện với giới hạn không thể vượt qua giữa ham muốn hướng tới cái tuyệt đối và tính hữu hạn của chính đối tượng mà cô bám víu.
Ở điểm trung tâm của của tam giác ấy, kinh nghiệm về Tình yêu trồi lên như vùng giao của những xung năng phức tạp và bí ẩn đang bện xoắn.
Kinh nghiệm về Tình yêu
Cuộc đời nào cũng hàm chứa một nỗ lực để bắt đầu lại, để được tái sinh: người xưa nói đúng - quãng dậy thì là lần sinh ra thứ hai. Sau nhiều năm học cách thích nghi với đời sống xung quanh, với những chuẩn mực và phán xét dễ dàng áp đảo tâm trí non nớt thì bất đồ một thôi thúc nguyên sơ dữ dội trỗi dậy từ bên trong cơ thể đang lớn, như thể thế giới chỉ khi ấy mới được tạo thành - thế giới mà ta bị ném vào trong lúc ngây thơ, bất lực trước những khao khát sâu thẳm vây hãm.
Ngay cả kẻ tỉnh táo nhất cũng có lúc bị mê hoặc: cảm tưởng rằng một thế giới mới và tuyệt đối khác biệt vừa được khai sinh, và mọi điều trái với cảm tưởng ấy đều là sự nhầm lẫn khó hiểu. Thế nhưng vì ta không có khả năng giữ vững niềm tin táo bạo ấy và, vì ta buộc phải quy thuận thực tại như nó vốn là, nên cái thời “lãng mạn” về sau còn phủ lên ta màn sương u hoài - tựa ánh trăng mơn man mặt hồ rừng, hay sức mê hoặc kỳ ảo của những phế tích cổ xưa. Khi ấy ta thường đánh đồng nhịp đập nguyên uỷ nhất với những cảm xúc bập bùng gắn với một giai đoạn nhất định. Song thứ mà ta gán mác là “lãng mạn” kia thực ra bắt nguồn từ phần cốt lõi nhất, sống động nhất, uyên nguyên nhất: xung năng sống - chỉ nó mới có thể dung hòa lực bên ngoài và lực bên trong, từ đó thiết lập nền tảng chung cho ngoại giới và nội tâm con người.
Những năm hoàn thiện về mặt thể chất tự thân mang nhiều xáo trộn và giằng xé, song đó cũng quãng lúc sung sức nhất để tái định nghĩa những rối loạn và ức chế từng đè nặng trong giai đoạn trước.
Tôi cũng từng như thế, khi giấc mơ và tưởng tượng thời thơ ấu bị thế giới thực đẩy lùi. Một người sống đã thế chỗ chúng: không đứng cạnh mà hấp thụ chúng rồi trở thành hiện thân của thực tại. Không có cách nào đơn giản hay ngắn gọn hơn để diễn tả cảm xúc dữ dội người ấy khuấy động nơi tôi ngoài cụm từ này - nơi sự kỳ diệu tuyệt đỉnh hòa vào một nỗi thân thuộc nguyên sơ chưa từng biết, thứ tôi có lẽ vẫn luôn âm thầm chờ đợi: một con người thật! Hồi nhỏ tôi chỉ biết mối thân mật như thế với Thượng đế bởi xung quanh Ngài luôn đầy ắp điều kỳ diệu - đối lập với mọi thứ quanh tôi - và do vậy, chưa từng “hiện diện” theo nghĩa cụ thể. Bây giờ những phẩm tính thấu trọn và siêu việt ấy đã hiển lộ trong một con người. Hơn nữa, con người phàm trần ấy còn chống lại mọi ảo tưởng. Với tư cách một người thầy1, anh dẫn tôi đến sự phát triển vô hạn của tư duy sáng rõ và lý tính; càng theo kịp tôi lại càng mê mải lắng nghe. Nhờ được nâng đỡ bởi niềm si mê, tôi đã có thể, theo cách đó, làm hòa với thực tại. Mới trước đó tôi còn chưa dám một mình tiến tới mép của thực tại mà anh đại diện.
Người thầy ấy, ban đầu tới thăm trong bí mật rồi sau đó được cả gia đình chấp thuận, còn giúp tôi chuẩn bị cho hành trình học tập tiếp theo ở Zurich. Dù nghiêm khắc, anh vẫn rộng lượng chẳng kém “ông-Thượng Đế” hồi nhỏ, người luôn ban cho tôi mọi điều tôi ao ước. Anh vừa là quyền năng, vừa là khí cụ dẫn dụ tôi theo con đường của những khuynh hướng sâu thẳm nhất nơi bản thể. Và chỉ khi tôi không thể đưa mối tình ấy tới hồi kết trong đời thực, tôi mới thực sự nhận ra mức ảnh hưởng của vị Thượng đế thời thơ ấu mãnh liệt đến mức nào.
Dĩ nhiên tôi có thể vin vào vô số cớ để biện hộ, trong đó không thể không kể đến sự chênh lệch tuổi tác, vốn tương đương với khoảng cách cảm xúc giữa niềm si mê và sự thức tỉnh đầu tiên. Thêm việc anh đã có vợ và hai con gần bằng tuổi tôi (dù điều này không khiến tôi bận tâm bởi Thượng đế cũng yêu thương hết thảy con người mà vẫn giữ được mối liên hệ thân mật nhất với từng cá nhân). Ngoài ra, bản tính trẻ con của tôi - hậu quả từ sự chậm phát triển thể chất thường thấy ở xứ lạnh - khiến anh ban đầu phải giấu nhẹm việc đã bàn với gia đình tôi chuyện cưới hỏi. Khi quyết định cần được đưa ra và tôi buộc phải hạ cánh từ thiên đường xuống mặt đất, tôi đã từ chối. Chỉ trong chốc lát, mọi điều tôi từng tôn thờ rời bỏ tim óc tôi mà lui vào cõi xa lạ. Một điều gì đó mang theo những đòi hỏi riêng - không những không thoả mãn được ham muốn của tôi mà còn đe dọa chúng, tìm cách nắn mọi nỗ lực anh từng nói là dành cho tôi nhằm phục vụ một bản thể khác - và như sét đánh ngang tai, một Kẻ Khác lù lù hiện ra. Người trước mắt tôi là ai đấy khác hẳn, người mà trước đó tôi không sao nhìn thấy sau lớp màn thần thánh. Dù sao tôi đã đúng khi tôn thờ anh vì cho đến thời điểm ấy, anh là người duy nhất có thể dẫn tôi tới tiềm năng sâu thẳm nhất của mình. Mối quan hệ hai chiều này, vốn ngay từ những buổi đầu, dẫn tới nghịch lý kỳ lạ là dù chúng tôi yêu nhau, tôi chưa từng một lần gọi anh bằng lối xưng hô thân mật trong khi anh thì có. Vì vậy suốt cuộc đời tôi, cách xưng hô trang trọng hàm chứa tầng thân tình sâu kín còn cách xưng hô thân mật lại mang khoảng cách.
Hồi ấy bạn tôi làm việc ở đại sứ quán Hà Lan. Từ thời Peter Đại đế, Nga đã có một cộng đồng người Hà Lan đông đảo và họ cần một mục sư đảm nhận các nghi lễ chính thức, nhất là nghi thức tuyên thệ cho thủy thủ. Các bài giảng được thuyết giảng bằng tiếng Đức và tiếng Hà Lan tại nhà nguyện trên đại lộ Névsky. Vì anh dành phần lớn thời gian giúp đỡ tôi nên thỉnh thoảng tôi cũng soạn bài giảng thay anh; và dĩ nhiên những lần đó tôi đều có mặt tại nhà thờ, nóng lòng xem liệu thính giả (anh vốn là một diễn giả xuất sắc) có bị cuốn hút hay không. Mọi chuyện kết thúc vào một lần, trong cơn hứng khởi khi viết bài, tôi đã chọn câu: “Tình cảm là tất cả! Danh xưng chỉ là âm thanh và khói” từ Faust của Goethe làm câu dẫn cho buổi lễ thay vì một trích đoạn từ Kinh Thánh. Chuyện này khiến anh bị đại sứ khiển trách, và trong cơn bực bội, anh đã trút lại lời trách ấy lên tôi.
Trong hoàn cảnh Hà Lan là một quốc gia có sự phân định rõ ràng giữa giáo hội và chính quyền, bạn tôi là một mục sư được chứng nhận đã vô tình mở ra cho tôi một lối khác. Khi chính quyền Nga từ chối cấp hộ chiếu cho tôi do đã rút khỏi Giáo hội, anh đề nghị xin giúp tôi một chứng thư xác nhận lễ thêm sức từ một người bạn của anh, linh mục tại một giáo đường nhỏ ở một ngôi làng Hà Lan xa xôi. Nghi thức kỳ lạ ấy - hoàn toàn tuân theo nguyện vọng riêng của tôi - đã để lại trong lòng cả hai những rung động khó gọi thành tên. Diễn ra vào một ngày Chủ nhật bình thường, giữa những người nông dân chất phác và trong khung cảnh tháng Năm thi vị, buổi lễ ấy đánh dấu cuộc chia ly mà tôi sợ hãi không khác gì cái chết. May thay mẹ tôi - người đồng hành trong chuyến đi - không hiểu một chữ nào của bài giảng tiếng Hà Lan đầy phạm thượng cũng như những lời xác nhận cuối cùng, gần như một tuyên thệ hôn nhân: “Đừng sợ, vì Ta đã chọn con, đã gọi con bằng tên: con là của Ta.” (Thật ra chính anh đã đặt lại tên cho tôi2 vì tên “Lyola” [hay “Lyolya”] của tiếng Nga rất khó phát âm.)
Chuyện tình đầu đời của tôi - vốn lúc ấy tôi chưa thực sự hiểu rõ - trở thành chất liệu cho truyện ngắn Ruth tôi viết sau mười năm. Tuy vậy câu chuyện vẫn khá mơ hồ vì thiếu đi phần bối cảnh quan trọng: nền tảng tôn giáo đã gắn kết mối quan hệ với Thượng đế và mối tình đầu đời. Quả thật người tình được tôn thờ trong truyện đột ngột biến mất, hệt như cách Thượng đế đã từng biến mất khỏi đời tôi. Nhưng vì mối tương liên ấy không được làm rõ, câu chuyện mang dáng dấp “lãng mạn” nhiều hơn là sự phản ánh sâu sắc những xáo trộn bị dồn nén trong quá trình trưởng thành của một cô gái trẻ. Song chính bởi sự non nớt đó mà kinh nghiệm tình yêu dang dở lại giữ một sức hấp dẫn độc nhất, một vẻ đúng đắn không cần kiểm chứng. Bởi vậy ở kết thúc đột ngột ấy, khác với nỗi đau khi Thượng đế thời thơ ấu đi khỏi, dù hai kinh nghiệm ấy có nét tương đồng - lần này lại mang đến cho tôi cảm giác giải phóng và niềm vui: thậm chí mở ra mối gắn bó lâu bền với người đàn ông đầu tiên từng hiện hữu chân thực đến mức, bằng ý chí và trí tuệ của mình, anh đã giúp tôi đạt tới sự tự do bên trong mà nhờ đó tôi rốt cuộc đã học được cách sống cuộc đời trọn vẹn.
Nếu chuỗi sự kiện mà tôi kể phần nào hé lộ tuổi thơ có phần bất thường, thì điều này còn rõ ràng hơn qua cách cơ thể tôi phát triển – vốn không song hành với sự trưởng thành về tinh thần và trí tuệ. Cơ thể tôi phản ứng với những xung lực nhục cảm trong khi tâm chưa sẵn sàng đón nhận. Cuối cùng tôi phát bệnh (ho ra máu) và phải rời Zurich để chuyển về phương Nam. Sau này nghĩ lại, tôi nghĩ chuyện ấy giống với việc một con chó nằm gục bên mộ chủ cho đến lúc chết đói, chẳng hiểu sao lại không thiết ăn. Khi mang trong mình một trái tim trung thành, một đứa trẻ không thể bị tổn thương về mặt thể xác mà tâm trí lại hoàn toàn không nhận ra điều ấy.
Còn tôi lạ lùng thay, lại thấy nhẹ nhõm trong giờ phút chia ly, thậm chí nhìn những khổ sở thể xác như thứ gì đó xa lạ không hề chạm tới nguồn vui sống đang dâng lên trong lòng. Đúng vậy, có thể nói tôi gần như mang một chút kiêu hãnh - giữa bao bài thơ tình lẽ ra phải được viết vào thời điểm ấy, tôi cố ý đặt nét ngạo nghễ vào một bài thơ bệnh tật có tên Nguyện cầu nơi giường tang:
Khi em nằm trên giường tang
- tàn lửa khép dần ánh sáng,
Hãy vuốt tóc em thêm lần nữa, người yêu,
Trước khi hồn em tan theo gió nổi.
Trước khi tro tàn em về với đất,
Như mọi điều vốn luôn như vậy,
Hãy đặt nụ hôn chót lên đôi môi
Chưa biết tới ai khác, ngoài anh.
Và đừng nghĩ em đã yên nghỉ,
Bên trong cỗ quan tài đóng bằng gỗ,
Bởi đời em đã gửi trọn cho anh
Và bây giờ, tất tật gửi anh cả.
Việc lấy cái chết làm biểu tượng - thậm chí là điều kiện tiên quyết - cho cuộc hợp nhất sâu xa và trọn vẹn hơn, một lần nữa cho thấy bản chất đặc biệt của mối tình này. Tuy nhiên tôi cần nói thêm: nó chỉ đặc biệt khi so với khuôn mẫu hôn nhân tiểu tư sản cùng mọi hệ lụy đi kèm - thứ mà tôi khi ấy còn quá non trẻ để gánh vác; đồng thời mối tình ấy cũng mang dấu ấn của kinh nghiệm thuở nhỏ với Thượng đế. Trên nền ấy, tình yêu của tôi ngay từ đầu đã không hướng đến một sự kết hợp thông thường, mà hướng về một hình ảnh biểu tượng gần như thần thánh của người tôi yêu.
Giống như những sự kiện đi lệch khỏi quỹ đạo thường nghiệm vẫn có thể làm sáng rõ những nguyên lý phổ quát ở dạng đậm đặc, mối quan hệ này cũng hé lộ một điều gì đó về tình yêu nói chung. Bởi trong tình yêu, người yêu - dù không mang những phẩm tính thiêng liêng như ta đang bàn - vẫn thường được lý tưởng hóa đến mức trở thành hiện thân cho cái tuyệt đối. Tình yêu tuyệt đối giả định sự hiến dâng toàn vẹn - từ cơn ngây ngất thuần khiết cho tới những tầng sâu nhất của si mê. Nhưng ta cũng kỳ vọng rằng sau quãng “đánh mất chính mình” sẽ đến lúc “tỉnh thức” như điều kiện để đối mặt với những yêu cầu khác của cuộc sống, cũng như những bổn phận mới bắt đầu nảy sinh giữa hai người. Dẫu vậy, những ai từng chìm sâu trong cơn si mê - dù sau này có bị lý trí phê phán hay coi thường - vẫn mang lòng biết ơn sâu sắc bởi chính kinh nghiệm ấy đã mở rcho họ một chiều không gian khác, nơi giá trị không bị định đoạt bởi thế giới bên ngoài. Người khiến ta vừa có thể yêu lẫn tin, vẫn ngự trị như một bậc vương giả trong lòng ta dẫu sau này có thể đối nghịch với ta.
Vì vậy, ngay cả mối tình được hoàn tất một cách “đúng đắn”, hai người yêu nhau vẫn phải học cách bao dung cho những gì nằm ngoài ràng buộc - dù điều đó không dễ khi ranh giới giữa thủy chung và phản bội luôn mơ hồ. Có lúc một khoảnh khắc bừng sáng thị kiến lại gắn với những đòi hỏi rất cụ thể từ người khác; khi ấy, người yêu chỉ còn là mảnh thực tại khơi nguồn cho thi sĩ. Mà bài thơ, một khi đã ra đời, không còn quyền đòi hỏi gì thêm ở thực tại. Trong mỗi chúng ta, phần thi sĩ luôn lấn át phần lý trí; ở tầng sâu nhất, bản thể trong trạng thái sáng tạo chính là một sự thoát ly khỏi cái cũ - một sự hiện hữu ngoài mọi hệ giá trị, nơi con người hữu cảm bị cuốn vào cuộc thương lượng mù mờ với dòng chảy của chính mình, nơi ta chỉ còn cách dò dẫm cùng nhau tìm lối.
Tình yêu giữa hai người là chiếc phao cứu sinh cho phép cả hai học cách tồn tại. Vậy mà ta thường cư xử như thể người kia là cả đại dương nâng đỡ mình. Có lẽ chính vì thế mà Đối phương trở nên hết sức thiêng liêng - vừa như quê hương tối hậu, vừa mơ hồ và rối rắm như chính cái vô hạn. Chúng ta, những mảnh hữu hạn mang tri giác tách ra từ vũ trụ nguyên khối, buộc phải học cách nâng đỡ nhau giữa những chao đảo để có thể chịu đựng thế giới và, chịu đựng lẫn nhau. Ta phải minh chứng cho sự hợp nhất nguyên sơ ấy bằng thân xác, phải xác lập nó qua tính vật chất. Nhưng ngay cả minh chứng cụ thể ấy cũng chỉ là một khẳng định vì rốt cuộc, nó không thể chạm tới nỗi cô độc tuyệt đối của mỗi con người trong cái tôi biệt lập.
Vì thế hai linh hồn gắn kết bằng tình yêu tinh thần rất có thể sẽ rơi vào ảo tưởng rằng họ đang trôi bồng bềnh, vượt thoát khỏi thân xác và hợp nhất với nhau ở một tầng cao hơn chính họ. Cũng vì thế mà điều ngược lại có thể xảy ra: thay vì sự hợp nhất về tinh thần, thể xác lại đạt tới viên mãn thuần tuý khi nó chiếm hữu một đối tượng mà nó chẳng còn chút hứng thú nào. Bởi vậy ta thường phân biệt giữa Eros - lực hút tình cảm - và dục tính - lực hút xác thịt; giữa tình dục như điều phổ biến tầm thường và tình yêu như một kinh nghiệm huyền nhiệm, tuỳ vào cách nó biểu đạt qua phần thể xác ngây thơ của ta - nơi cái tầm thường không hiện hình và lạc thú đến nhẹ nhàng như hơi thở - hay qua nỗ lực khi con người nhỏ bé của ta dốc trọn con người mình để cử hành mối mối liên hệ nguyên sơ với toàn thể vũ trụ.
Sự viên mãn thuần khiết của tính dục không bị giằng co bởi mâu thuẫn nội tâm là đặc ân dành riêng cho loài vật. Con người bị dày xéo bởi yêu và không yêu, trong khi loài vật sống theo một nhịp điều tự nhiên, bộc lộ qua cơn động dục và trạng thái tự do tuyệt đối. Chỉ con người mới biết phản bội.
Chỉ có hai lực nối liền bản năng loài với đời sống nhân loại vượt lên mọi lựa chọn cá nhân: sinh sản và mẫu tính. (Việc ta hầu như không thể nói chắc điều gì về tình yêu - ngoài việc nó luôn làm sụp đổ mọi khái niệm về một đời sống có trật tự - phản ánh sự bất lực trong việc “hiểu” những gì không quy về lý trí hay dục vọng, vốn đều quá nghèo nàn so với độ sâu của kinh nghiệm sống.) Vì vậy ta trở thành mẹ. Vượt khỏi mọi lý lẽ, trong người phụ nữ vẫn tồn tại một trực giác khỏe mạnh âm thầm khẳng định sự tiếp diễn của sự sống - ngay cả khi động lực ấy chưa hiện thân thành ý muốn rõ ràng về việc tái sinh thời thơ ấu của người đàn ông mà cô yêu. Việc không trải qua kinh nghiệm làm mẹ tức là đánh mất phần quý giá nhất trong việc làm một phụ nữ. Tôi còn nhớ ai đó đã rất ngạc nhiên khi nghe tôi nói, trong một cuộc trò chuyện kéo dài nhiều năm sau: “Anh biết không, tôi chưa từng dám sinh con.” Tôi biết điều ấy không bắt nguồn từ tuổi trẻ, mà từ thời thơ ấu, khi những điều như thế còn chưa được lý trí cân nhắc. Khi ấy tôi biết đến Chúa còn nhiều hơn cả chuyện con cò mang trẻ con tới nhà. Trẻ con đến từ Thượng đế, và khi qua đời, chúng quay trở về với Ngài - làm sao sự hiện hữu ấy khả dĩ nếu không nhờ Ngài? Tôi không nói rằng sự biến mất của Thượng đế làm suy yếu hay huỷ hoại ý định làm mẹ trong tôi. Không, tôi không nói về trường hợp cá nhân. Nhưng không thể phủ nhận rằng ý nghĩa đầy đủ của việc “sinh ra một con người” phụ thuộc rất nhiều vào việc đứa trẻ ấy đến từ hư vô hay từ sự toàn vẹn của thế giới. Ngoài những khao khát và hy vọng riêng, phần lớn con người vượt qua do dự bằng cách bám víu vào niềm tin chung rằng con cái sẽ giúp họ hoàn tất những hy vọng cùng mơ ước mà họ không thể tự mình đạt được. Nhưng điều khiến việc sinh nở trở nên hệ trọng không nằm ở đạo đức hay bổn phận, mà ở chính hoàn cảnh đó - một hoàn cảnh lôi ta ra khỏi cái tôi riêng lẻ, đặt ta vào trạng thái sáng tạo nơi quyết định riêng tư dường được trao phó cho điều gì lớn lao hơn. Nếu trong phần lớn hành động đời thường, ta chỉ như người ký tên vào bản văn được viết sẵn, thì trong những hành vi sáng tạo - ở bất kỳ lĩnh vực nào - cái riêng và cái-phi-ngã bện xoắn rõ nhất. Dẫu cha mẹ cố gắng chia sẻ trách nhiệm nuôi dạy con cái một cách công bằng và nghiêm túc đến đâu, điều đó vẫn khó ngăn nổi sức nặng của tương lai - nơi cấu trúc tinh thần và tâm hồn riêng biệt nơi đứa trẻ cùng những biến cố xa xôi khó đoán đang âm thầm tiến tới. Bởi vậy dễ hiểu khi trong mọi tín đồ, người mẹ luôn là người cần đức tin nhất: Thượng đế phải hiện hữu, chí ít ở nơi này, trên đỉnh đầu đứa con bà đã sinh ra. Trần đời không có Mary nào chỉ là vợ của Joseph mà không cùng lúc mang trong mình sự thụ thai vô nhiễm, tức là huyền nhiệm tột cùng của sự sống: rằng bà đã được chọn.
Khi được Eros đánh thức, vượt lên trên mọi liên kết cá nhân hay chức năng sinh sản giữa hai con người, vẫn tồn tại một dạng kết nối sâu xa hơn - hiếm và không dễ cắt nghĩa như những mối quan hệ ta thường hiểu ngay chỉ qua vài dấu hiệu mơ hồ. Ta có thể mạo hiểm liên hệ kết nối ấy bằng một phép ẩn dụ như đã từng bàn: hãy hình dung một cặp đôi xem sự hợp nhất thể xác chỉ và duy nhất là phương tiện sinh ra một đứa trẻ; bây giờ hãy nâng khao khát ấy vượt khỏi cấp độ sinh học, bước vào một cõi tinh thần cao hơn. Ở đó cái hữu hình và cá nhân nhất lại hoà vào điều xa vời và phổ quát nhất. Cơn hoan lạc khiến họ trở nên siêu hình không còn hướng vào nhau mà dâng trọn cho đối tượng thứ ba - nơi mọi khao khát của họ quy tụ, nâng cả hai lên khỏi những tầng sâu nhất của tồn tại, đến mức như thể họ được phép hiện ra trước chính cái nhìn của mình. Họ không còn dựa vào thế giới bên ngoài mà tìm điểm tựa trên mặt đất chung: nơi họ cùng nhau thụ tạo một điều gì đó.
Mặc dù mô tả trên có phần thiếu cụ thể và hơi mơ hồ, nhưng vẫn cần thiết để không nhầm lẫn nó với mối quan hệ ta gọi là “tình bạn” - vốn không đặt trên nền tảng thể xác mà dựa trên sự tương hợp về trí tuệ, tinh thần hay lý tưởng. Nhưng kiểu kết nối tôi nói tới khác với tình bạn như đồi thấp khác với đỉnh núi cao - không chỉ về mức độ mà về bản chất. Nó giống như sự khác biệt giữa sinh con và nhận con nuôi: dù việc nhận con nuôi có ý nghĩa và hạnh phúc đến đâu, nó vẫn là chuyện hoàn toàn khác. Có lẽ chỉ trong tuổi trẻ, tình bạn mới mang đôi nét mê đắm mà ta đang bàn: quãng thời gian những năng lực sáng tạo lớn trỗi dậy và đòi quyền hiện hữu, khi thân xác chưa lôi kéo toàn bộ chú ý về phía nó cùng những đòi hỏi của nó. Rất hiếm khi những rung động đầu đời ấy kéo dài và trưởng thành trọn vẹn: trở thành mối quan hệ huy hoàng và hiếm có nhất mà Eros có thể ban tặng. Ở đó, Kẻ Khác hiện ra như một hình trong suốt, một trung giới nơi những dục vọng thẳm sâu nhất trong ta được chạm tới. Khi ấy việc gọi nhau là “bạn” tức là hóa giải những đối cực lớn nhất của đời sống: cả hai cùng trú ngụ trong cõi thiêng của mình, cùng chia sẻ nỗi cô độc - chỉ để làm nó sâu thêm - cho đến khi ở trong Người kia, ta nhìn thấy chính mình đang phình nở với mọi khả thể sinh sôi của nhân tính. Người bạn ấy bảo vệ ta khỏi sự đánh mất cảm tri về cô độc; ta thậm chí được bảo vệ khỏi nhau.
Bản chất của mối tình đầu lớn lao thời thanh xuân hẳn có liên quan đến những gì tôi vừa cố gắng mô tả - và cũng vì vậy tôi mới dám mạo hiểm tìm cách diễn đạt điều mình cảm nhận. Mối quan hệ ấy rốt cuộc vẫn dang dở, không thành toàn trong đời thực. Vậy nên tôi phải thừa nhận rằng trong cả ba hình thức tình yêu trọn vẹn (hôn nhân, làm mẹ, mối gắn bó thuần tuý của Eros), tôi chưa từng đạt được điều mà người khác có thể đã có. Nhưng đấy không phải mấu chốt với tôi. Điều quan trọng là liệu những gì ta chạm tới có phải là Sự Sống, liệu nó có để lại dấu ấn trong đời sống, và liệu ta có thể tiếp tục sáng tạo như những sinh thể sống cho đến cuối đời hay không.
Có thể nói thế này: ai thò tay vào bụi hoa hồng sẽ hái được một nắm hoa; song dù hái được bao nhiêu, đó vẫn chỉ là phần nhỏ so với cả bụi hoa. Chỉ khi ta không chịu thò tay vào bụi hoa vì biết mình không thể hái hết mọi đóa hoa cùng lúc, hoặc khi ta nâng niu nắm hoa trong tay như thể đó là cả bụi hoa - lúc ấy bụi hoa mới lặng lẽ nở ở một nơi ta không thể với tới, không thể chạm vào, để lại ta một mình.
Tôi chỉ biết lác đác vài câu chuyện về cách những thiếu nữ cùng thời đối diện với tình yêu và cuộc đời. Ngay từ lúc đó cách tôi nhìn mọi sự đã khác - dù chưa thể tự định nghĩa. Có lẽ một phần vì cảm giác “phấp phỏng và sợ hãi trong nỗi đau và chờ đợi” [Goethe] mà ai cũng trải qua ở tuổi ấy sớm đã đi khỏi tôi từ sau cuộc gặp định mệnh với người đàn ông đã mở toang cánh cổng của Cuộc đời, khiến tôi sẵn sàng bước đến với tâm thế gần như một cậu trai thay vì mang vai nữ giới nhu thuận. Nhưng không dừng ở đó. Trong tinh thần lạc quan tuổi trẻ, những cô gái đồng trang lứa tô hồng mọi ước vọng và khát khao còn tôi lại thiếu mất thứ cần thiết cho sự lạc quan ấy - hay có lẽ vì tôi biết quá nhiều: như thể một loại tri thức cổ xưa đã ăn sâu vào bản tính tôi. Nó giống như hòn đá bất động dưới chân trong khi tôi vẫn bước đi tự tin trên lớp rêu cũ và hoa đã ải. Có lẽ tôi đang cường điệu hoá vì thực lòng tôi luôn đón nhận những điều phía trước bằng niềm vui tự nguyện.
Bởi “Cuộc đời” là điều tôi luôn luôn yêu mến, chờ đợi, ôm ấp bằng toàn bộ sức lực bên trong mình. Không phải cuộc sống của quyền lực, kiểm soát hay áp đặt, nơi con người buộc phải phục tùng, mà là một điều gì đó - hay một ai đó - giống như tôi, cùng tồn tại trong một hoàn cảnh không sao lý giải. Eros kết thúc ở đâu, khi nào? Chẳng phải cũng thuộc về “Kinh nghiệm Tình yêu” hay sao? Tất thảy nhiệt huyết tuổi trẻ của tôi dồn về Cuộc sống - vượt ra ngoài mọi câu hỏi về hạnh phúc hay khổ đau, hy vọng hay khát khao - một trạng thái cảm xúc vô phương hướng, giống như tình yêu, được thổ lộ thành thơ. Bài tiêu biểu nhất là bài thơ tôi viết ở Zurich khi đi khỏi nước Nga mà tôi dùng để kết chương này. Tôi đặt tên là “Lời nguyện cầu gửi Cuộc đời”:
Cuộc đời ơi, ta yêu ngươi tha thiết
Như yêu người bạn, với muôn điều bất toàn—
Dẫu ta từng khóc hay cười,
Dẫu ngươi ban cho niềm vui hay nỗi sầu khổ.
Ta yêu cả nỗi đau ngươi trút xuống;
Và nếu ngươi buộc phải huỷ diệt ta,
Ta cũng sẽ rứt mình đi
Như cách ta nói lời tạm biệt một người bạn.
Ta ôm ngươi bằng tất cả sức lực!
Hãy cứ thiêu ta bằng ngọn lửa của ngươi,
Và trong ánh sáng nơi trận chiến cuối,
Ta sẽ dò đến tận đáy điều bí ẩn.
Được sống! Qua bao thế kỷ!
Hãy quấn lấy ta thêm lần nữa:
Nếu chẳng còn niềm vui để ban tặng—
Cứ chừa lại đó cho ta nỗi đau.
(Có lần tôi chép lại bài thơ này theo trí nhớ để gửi Nietzsche; ông đã phổ nhạc với những câu dài và trang nghiêm hơn.)
Chú thích:
- Hendrik Gillot
- Lou von Salomé
Thanh Nghi dịch
