Lou Andreas-Salomé viết hồi ký
Đời người, hay mọi sự sống, đều là thơ. Chúng ta sống trong đó, vô thức, ngày qua ngày, tựa những xen trong vở kịch; thế nhưng nơi tính toàn vẹn bất khả xâm phạm, chính đời sống lại sống và tạo ra ta. Điều này khác hẳn với câu sáo cũ: “Hãy biến đời mình thành một tác phẩm nghệ thuật.” Thực ra chúng ta là những tác phẩm nghệ thuật song không phải nghệ sĩ.
_Lou Andreas-Salomé_
Kinh nghiệm về Thượng Đế
Kinh nghiệm đầu tiên của chúng ta, thật đáng kinh ngạc, là kinh nghiệm về mất mát. Ta mới vừa là tất cả - không phân biệt, không tách lìa khỏi một dạng hiện hữu nào - thì bỗng chốc bị sinh ra. Kể từ đó phần thừa của cái toàn thể kia buộc phải gắng sức để không teo biến, phải đứng vững trước thế giới đang dâng lên với thực tại ngày càng đặc; nó đã rơi vào thế giới ấy - từ toàn vẹn tuyệt đối - như rơi vào một vực thẳm hau háu.
Trạng thái ban đầu ấy được cảm nhận như một điều mâu thuẫn với hiện tại. Thứ về sau này ta gọi là “ký ức” đầu tiên chứa đựng cú choáng váng thất vọng trước sự mất mát của trạng thái tồn tại, lẫn ý thức còn sót lại rằng lẽ ra nó vẫn phải tồn tại.
Đó chính là vấn đề của tuổi ấu thơ. Giống như vậy, trong mọi giai đoạn sơ khởi của loài Người, ý thức về bản thân được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn luôn đi kèm với ký ức dai dẳng về sự hợp nhất với vũ trụ, ký ức ấy vận hành như một truyền thuyết đầy uy lực về một mối liên minh vĩnh cửu trong quyền năng vũ trụ. Con người thời sơ khai vẫn giữ một lòng tin vững chắc vào quyền năng ấy và, toàn bộ thế giới của các hiện tượng dường bị quy phục dưới thứ ma thuật do con người kiểm soát. Con người chưa bao giờ hoàn toàn từ bỏ sự hoài nghi đối với tính hiệu lực phổ quát của thế giới ngoại tại, một thế giới từng có lúc được tri nhận như thứ không thể tách khỏi họ. Con người không ngừng bắc cầu qua khoảng cách ấy bằng trí tưởng tượng, cho dù mô hình đã được tinh chỉnh theo thần tính mà họ đề xuất bị uốn cho khớp với tri nhận ngày một chính xác hơn về thế giới bên ngoài. Cõi giới nằm trên và vượt ra ngoài thế giới này, bản sao tưởng tượng ấy - được tạo ra để xoa dịu và che lấp những điều khó chịu đã giáng xuống nhân loại - được gọi là tôn giáo.
Vì thế đứa trẻ của hôm nay, hay của hôm qua, nếu được nuôi dưỡng trong đức tin của cha mẹ, có thể hấp thụ niềm tin tôn giáo tự nhiên như tri giác. Chính vào những năm đầu đời lúc năng lực phân loại chưa phát triển, đứa trẻ vẫn tin rằng mọi điều đều khả dĩ. Việc những quyền năng tối cao có thể nhiệm mầu hiện ra ngay trên cuộc đời với nó thật thiết thân, cho tới khi nó va vấp đủ với cái tầm thường và sự phân loại thế tục.
Một đứa trẻ chưa từng chạm tới tôn giáo vẫn phải đi qua giai đoạn sơ khởi ấy. Mọi đứa trẻ đều khởi đầu trong cõi của những khả thể vô hạn bởi năng lực phân tích còn non nớt cùng lực mãnh liệt của những xung lực ham muốn. Khi cảm thức hợp-nhất của chúng ta với vũ trụ dần nhường chỗ cho phán đoán lý tính, một dư quang của quá khứ lắng lại trên những đối tượng mà ta từng gắn bó sâu đậm nhất, hoặc bao quanh những biến cố đầu tiên từng lay động ta một cách mãnh liệt - như một sự biến dung, nâng chúng lên một chiều cao hơn, như thể được thu nhận vào trong một vòng ôm phổ quát. Giả sử hôm nay hay ngày mai, xu thế của thời đại tìm cách cách ly đứa trẻ khỏi cõi giới ấy với hy vọng giúp nó tránh khỏi những vỡ mộng. Giả sử nó bị yêu cầu phải phát triển năng lực phê phán từ sớm, đến mức buộc phải kìm nén khát vọng tự nhiên muốn vận hành trí tưởng tượng - vốn đã hoạt động từ rất lâu trước khi lý trí thành hình. Chẳng phải khi ấy ta có đầy đủ lý do để lo sợ một phản ứng chống lại lý tính, một sự trả đũa của trí tưởng tượng, trong đó mọi chuẩn mực khách quan bị bỏ rơi hay sao?
Hơn nữa một đứa trẻ bình thường thường tự nó vượt khỏi sự nuôi dưỡng thấm đẫm “tôn giáo”, chuyển sự chú ý mang tính phê phán của sang thế giới xung quanh cũng như việc sở thích dành cho truyện cổ tích nhường chỗ cho vui thú đời thực. Nếu điều này không xảy ra, phần nhiều đấy là sự phát triển không bình thường, một sự lệch pha giữa xung lực hướng về đời sống và sự miễn cưỡng trong việc chấp nhận những giới hạn của đời sống.
Việc bị sinh ra tạo khoảng cách giữa hai kiểu tồn tại - hai thế giới - vì thế một hình thức hòa giải rất cần thiết. Trong trường hợp của tôi, những xung đột thời thơ ấu đã gây ra thói thoái lui. Khi mới vừa bắt đầu điều chỉnh mình theo phán đoán lý tính, tôi lại rút về giai đoạn của tưởng tượng thuần tuý nơi cha mẹ tôi cùng những quan điểm của họ, theo nghĩa nào đó, bị gạt sang một bên (gần như bị phản bội) để nhường chỗ cho trạng thái hòa nhập trọn vẹn hơn. Tôi hiến mình cho một quyền năng cao hơn và cùng dự phần vào uy quyền của nó, thậm chí cả quyền năng tối thượng của nó.
Có thể hình dung như thế này: Tôi đã trượt khỏi lòng cha mẹ để bây giờ ở trong lòng của Thượng Đế - người ông nuông chiều tôi hết mực, luôn luôn tán thưởng điều tôi làm, say mê ban phát cho tôi những món quà tới độ túi áo ông dường lúc nào cũng giắt đồ trong ấy. Tôi cảm tưởng mình toàn năng như ông, dẫu không tự xem mình “tốt lành” như vậy. Theo một nghĩa nào đó, ông mang trong mình phẩm tính của cả cha và mẹ: sự ấm áp từ mẫu và quyền năng phụ tính. (Việc tách hai phương diện ấy và phân biệt chúng như quyền năng và tình yêu, tự thân đã là một đứt gãy lớn của trạng thái an lành ban sơ.)
Nhưng điều gì khiến con người coi tưởng tượng là thực tại? Đó là khi ta từ chối tự giới hạn mình trong thế giới bên ngoài, từ chối sự áp đặt của cái gì đó nằm ngoài ta, và từ chối thừa nhận hoàn toàn một thực tại không bao hàm chính ta.
Chắc hẳn đó là lí do chính khiến tôi hầu như không bị hoang mang bởi sự vô hình hoàn toàn của quyền năng thứ ba ấy, một quyền năng vượt khỏi cha mẹ tôi - những người rốt cuộc cũng thụ nhận mọi thứ họ có từ nó. Với mọi tín đồ đích thực, sự việc vốn luôn như thế. Trong trường hợp của tôi còn có thêm một lý do nữa gắn với sự kỳ lạ nơi những cái gương. Mỗi lần soi gương, tôi lại bối rối khi thấy quá rõ ràng rằng mình chẳng hơn gì điều đang hiện ra trước mắt: nhỏ bé đến thế, hữu hạn đến thế; bị buộc phải ngưng lại trước mọi thứ xung quanh, kể cả những gì trong tầm với. Nếu không soi gương, tôi có thể tránh được cảm giác ấy; nhưng bằng một cách nào đó, chính sự mẫn cảm lại đòi tôi phải hiện diện trong từng cái gương, như thể thiếu hình ảnh của mình ở đó tôi sẽ không còn chỗ nương náu. Điều này thật kỳ khôi bởi tôi nhớ rằng cảm giác ấy vẫn thỉnh thoảng quay trở lại vào lúc mà đối với người khác, hình ảnh trong gương chỉ còn là mối liên hệ vô hại, thậm chí hay ho. Dù sao chính những suy nghĩ rất sớm ấy đã khiến tôi không hề cảm thấy xáo trộn trước việc Thượng đế vừa hiện diện khắp nơi, vừa hoàn toàn vô hình.
Dĩ nhiên một hình ảnh về Thượng đế được ghép nối từ vô vàn cảm tri và rung động thuở ban đầu như thế khó có thể bền lâu; nó không thể trường tồn như những cấu trúc hợp lý và dễ nắm bắt hơn mà ta tạo dựng về sau - cũng giống như các ông thường qua đời trước cha mẹ.
Một ký ức nhỏ có thể minh họa cách tôi trì hoãn sự nghi ngờ. Cha tôi trở về nhà sau một buổi lễ nào đó của hoàng gia, mang theo một bất ngờ lộng lẫy: một gói nhỏ có thể bật mở. Tôi chình dung bên trong là những bộ y phục bằng vàng. Khi tôi được cảnh báo rằng những thứ quần áo đó thực ra chỉ làm bằng giấy viền ánh kim, tôi đã quyết định không mở gói quà. Và thế là trong tâm trí tôi, những bộ y phục ấy vẫn mãi mãi là vàng.
Tôi cũng không cần phải nhìn thấy những món quà từ người ông-Thượng đế. Giá trị của chúng là vô lượng, số lượng thì vô kể, và tôi biết chắc rằng mình được nhận. Hơn nữa chúng không hề phụ thuộc vào cách cư xử của tôi - khác hẳn những món quà tôi được thưởng, chẳng hạn, vì nghe lời. Ngay cả những món quà lấp lánh trên bàn sinh nhật cũng chỉ ở đó vì tôi nghe lời hoặc vì người ta hy vọng tôi sẽ nghe lời. Còn tôi lúc ấy lại thường là đứa trẻ “hư”, quá quen với roi mây - thứ mà tôi chưa bao giờ quên kêu ca kịch liệt với Thượng đế. Và hóa ra ông hoàn toàn đứng về phía tôi. Thậm chí có lúc ông tỏ ra giận dữ trước việc cha mẹ tôi dùng roi mây đến mức, nếu tình cờ tôi đang lâng lâng trong cơn hào hiệp nào đó (không mấy khi xảy ra), tôi sẽ cố thuyết phục ông bỏ qua mọi chuyện.
Những tưởng tượng thường tràn vào đời sống hằng ngày của tôi, điều mà người xung quanh chỉ mỉm cười cho qua. Cho đến một hôm tôi trở về nhà sau buổi đi chơi cùng một người họ hàng, một bé gái lớn hơn tôi đôi chút. Khi chúng tôi được hỏi: “Nào, các cô bé, lúc đi dạo các cháu đã thấy gì?” tôi liền đáp lại bằng cả một vở kịch hoàn chỉnh. Người bạn nhỏ của tôi, cảm thấy danh dự và sự chân thật bị xúc phạm, ngơ ngác nhìn tôi một lúc rồi cắt ngang bằng một tiếng thét lớn: “Em nói dối!”
Tôi nghĩ rằng những nỗ lực về sau của tôi nhằm diễn đạt mọi sự cho thật chính xác bắt nguồn từ khoảnh khắc ấy. Tức là không thêm thắt vào sự mô tả của mình dù là chi tiết nhỏ nhất, mặc dù sự khắc khổ khiến tôi bị đè nặng bởi nỗi u uất.
Trong màn đêm, tôi không chỉ thuật lại cho Thượng đế những việc trong ngày, mà còn với sự hào phóng tự nhiên, kể cho ông nghe những câu chuyện chẳng đợi được hỏi đến. Những câu chuyện ấy chứa dụng ý riêng. Chúng sinh ra từ nhu cầu dâng lên Thượng đế toàn bộ thế giới song song với thế giới bí mật của chúng tôi, bởi mối quan hệ đặc biệt giữa tôi và ông dường đã làm chệch hướng sự chú ý của tôi khỏi thế giới thực thay vì khiến tôi cảm thấy mình thuộc về nó. Bởi vậy tôi không ngẫu nhiên chọn chất liệu cho những câu chuyện của mình từ những va chạm thường nhật với con người, vật hay muôn loài. Phần cổ tích của đời sống chẳng cần phải tô thêm - riêng việc Thượng đế là người nghe cũng đã đủ. Mối bận tâm duy nhất của tôi là vẽ ra một bức tranh đáng tin về thực tại. Dĩ nhiên tôi khó có thể kể cho Thượng đế điều gì mà ông chưa biết; nhưng chính điều ấy lại bảo đảm cho tính xác thực của câu chuyện tôi đang kể và đó là lý do vì sao tôi thường bắt đầu mỗi câu chuyện, không giấu được chút tự mãn, bằng câu:
như Ngài đã biết
Tôi chỉ thực sự nhớ lại những chi tiết về cái kết đột ngột của mối quan hệ tưởng tượng có phần đáng ngờ ấy khi tôi đã gần bước sang tuổi già. Tôi từng kể trong truyện ngắn Die Stunde ohne Gott (Giờ khắc không có Thượng đế). Ở đó đứa trẻ được đặt vào một bối cảnh xa lạ và trong những điều kiện đã đổi khác - có lẽ vì tôi cần một khoảng cách để đối diện với những điều quá riêng tư. Sự việc thực sự diễn ra như sau.
Mỗi mùa đông, một người hầu mang trứng tươi từ ngôi nhà ở quê của chúng tôi về căn nhà trong thành phố. Một hôm anh ta kể với tôi mình đã thấy một cặp đôi đứng trước căn nhà tí hon của tôi ở giữa khu vườn. Họ xin được vào nhưng anh bảo họ đi chỗ khác. Lần sau anh ta trở lại, tôi lập tức hỏi về cặp đôi ấy - có lẽ tôi lo trong quãng thời gian đó họ đã chết đói hoặc chết rét; họ còn biết đi đâu nữa? - Có, anh nói, họ vẫn ở đó. - Vậy họ vẫn đứng trước căn nhà à? - Không hẳn: họ đã thay đổi - từ từ nhưng triệt để - ngày một gầy đi, teo tóp. Họ tàn tạ đến mức cuối cùng đã ngã gục. Một buổi sáng khi anh quét dọn trước ngôi nhà, anh không còn thấy gì nữa ngoài những cái cúc đen từ chiếc áo khoác trắng của người đàn bà; còn người đàn ông chỉ sót lại một cái mũ cũ nhàu nát. Nhưng mảnh đất nơi họ từng đứng vẫn còn đẫm những giọt nước mắt đã đông cứng.
Không phải nỗi thương xót làm tôi bận lòng trước câu chuyện rùng rợn về họ mà bởi tính phù du, cách họ đơn giản tan biến. Dường như có một điều gì đó đã ngăn tôi nhìn ra lời giải vốn hiển nhiên, trong khi đồng thời toàn bộ con người tôi lại cuống quýt kiếm tìm một câu trả lời. Chính đêm hôm ấy tôi đã vật lộn với Thượng đế để đòi câu trả lời. Bình thường ông chẳng can dự vào những chuyện như thế; nói cho đúng, ông chỉ đóng vai trò như cái tai lắng nghe những chuyện ông vốn đã biết. Song lần này tôi cũng chẳng đòi hỏi gì nhiều ở ông. Ông chỉ cần thốt ra vài chữ ngắn ngủi lướt qua đôi môi vô hình của mình, từ một cái miệng câm lặng: “Ông bà Người Tuyết.” Nhưng việc ông đã không làm như thế mới thực sự là tai hoạ. Không đơn giản là một tai hoạ riêng tư, nó đã giật phắt tấm màn làm lộ thứ gì không thể nói bằng lời và đầy ám muội đang ẩn náu phía sau. Bởi Thượng đế được vẽ lên tấm màn ấy không chỉ biến mất với riêng tôi, ông đã biến mất hoàn toàn, biến mất khỏi vũ trụ.
Khi điều như thế xảy ra với một con người đang sống, khi nó buộc ta phải đối diện với nỗi thất vọng của mình, với cảm giác rằng họ đã rời bỏ ta, đã bỏ mặc ta, thì vẫn luôn luôn có khả năng rằng vào một lúc nào đó ta sẽ học được cách nhìn mọi sự cho đúng, rằng ta có thể sửa lại sự ngộ nhận từng có về họ. Điều tương tự, theo cách này hay cách khác, xảy ra với mỗi chúng ta, với mọi đứa trẻ. Sớm hay muộn luôn luôn có một đứt gãy giữa điều ta mong mỏi và điều ta thực sự gặp phải - và kinh nghiệm cho ta biết rằng sự đứt gãy ấy nghiêm trọng đến đâu, có thể hàn gắn được đến mức nào, rốt cuộc chỉ là vấn đề mức độ. Nhưng trong trường hợp của Thượng đế, sự khác biệt lại mang tính định tính. Điều này có thể thấy rõ ở chỗ, chẳng hạn, sự biến mất của niềm tin vào Thượng đế không hề đồng nghĩa với sự đánh mất năng lực tin vào các thực thể tưởng tượng nói chung - vốn được thụ nhận từ Thượng đế. Vì thế tôi nhớ lại một khoảnh khắc trong những buổi lễ tôn giáo quen thuộc tại nhà, khi tên của quỷ dữ hay các quyền năng ma quái được đọc lên làm tôi chợt tỉnh khỏi trạng thái uể oải: vậy ra hắn vẫn còn đó sao?! Phải chăng chính hắn, rốt cuộc, là kẻ đã khiến tôi trượt khỏi lòng Thượng đế, nơi tôi từng buông mình thoải mái đến thế? Và nếu hắn là kẻ chịu trách nhiệm thì tại sao tôi đã không chống lại hắn? Chẳng phải khi không làm như thế thì tôi đã thực sự tiếp tay cho hắn sao?
Khi thử phân tích khoảnh khắc ấy, thoáng qua mà ghim chặt đến vậy trong ký ức, tôi muốn nhấn mạnh một điều: không phải cảm giác cùng mang tội trước sự vắng của Thượng đế, mà là cảm thức đồng lõa trong chính sự vắng ấy - một linh cảm tiên báo những gì sẽ đến. Bởi chính sự tầm thường kinh ngạc của biến cố - biến cố đã khiến tôi đem Thượng đế ra thử thách - lại làm cho việc tôi không thể tự mình giải được câu đố trở nên khó tin, rằng tôi đã không nhận ra cặp đôi kia chính là Ông bà Người Tuyết dù đôi tay trẻ con vốn rất thành thạo nặn ra chúng.
Ý niệm về sự hung hiểm từng được đánh thức trong tôi hồi ấy về sau không còn giữ vai trò lớn trong tuổi thơ tôi nữa: nó chỉ khiến việc sống trong thế giới thực trở nên khó khăn hơn, một thế giới vắng Thượng đế. Kỳ là lạ sự vắng ấy dẫn đến hệ quả bất ngờ thuộc địa hạt đạo đức. Nó khiến tôi trở nên ngoan ngoãn hơn với tư cách một đứa trẻ, cư xử lễ độ hơn (vắng Thượng đế không biến tôi thành quỷ). Điều này một phần là do nỗi sầu muộn nói chung thường kìm hãm những hành vi bốc đồng. Song vẫn có thể có một lí do tích cực hơn: lòng cảm thông bản năng dành cho cha mẹ. Tôi không muốn gây thêm phiền toái cho họ, bởi cũng như tôi, họ đã phải hứng chịu một cú giáng - Thượng đế cũng đã vắng khỏi đời họ chỉ là họ không hay biết.
Dĩ nhiên trong một thời gian tôi cũng cố gắng xoay chuyển tình thế, bắt chước đời sống tôn giáo của cha mẹ giống như trước kia tôi nhận mọi thứ từ họ, học mọi thứ từ họ, nhờ họ mà chắc chắn về tính chân thực của sự vật trong thực tại. Vào mỗi buổi tối trong nỗi tuyệt vọng và dè dặt, tôi ngập ngừng chắp tay như một kẻ xa lạ nhỏ bé bị gọi từ rìa của miền cô độc mênh mông tới mảnh đất xa lắc. Nhưng nỗ lực hòa giải mảnh đất xa xôi ấy với cái thiêng liêng thân thuộc thuở trước đã hoàn toàn thất bại. Dẫu có khiêm nhường đến đâu, hành động ấy vẫn thật sống sượng: đó chỉ là sự gượng ép nhằm tiếp cận một kẻ hoàn toàn khác, xa lạ và dửng dưng. Sự nhầm lẫn căn cước ấy không những không xoá được nỗi cô độc mà còn làm sâu thêm bởi nỗi xấu hổ của việc tìm kiếm sự thân mật nơi kẻ hoàn toàn không hay biết về điều đang diễn ra.
Trong quãng thời gian ấy, tôi vẫn tiếp tục kể những câu chuyện của mình trước khi chìm vào giấc ngủ. Cũng như trước kia, tôi lấy chất liệu từ những nguồn đơn giản - những cuộc gặp và biến cố trong đời sống hằng ngày - nhưng chúng đã trải qua một sự đảo chiều mang tính quyết định bởi người nghe nay không còn nữa. Dù tôi có cố gắng đến đâu để tô điểm hay dẫn dắt số phận của chúng theo hướng tốt đẹp hơn, chúng vẫn tan biến vào bóng tối. Ngay trong chính cách tôi kể, có thể thấy rằng những câu chuyện ấy chưa từng có lấy khoảnh khắc an trú trong đôi tay dịu dàng của Thượng đế; chúng cũng không còn được trao cho tôi như những món quà được thừa nhận và bảo chứng, lấy ra từ túi áo rộng lớn của ông. Thậm chí, tôi còn không chắc rằng chúng có thật hay không bởi đã thôi không còn tiếp nhận và trao lại chúng với lời mở đầu quen thuộc: “như Ngài đã biết.” Chúng trở thành một nguồn lo âu âm thầm trong tôi. Dường như tôi đang xô đẩy chúng, trần trụi, trở lại chính sự bất định của đời sống, nơi ban đầu tôi đã rút ra từ đó những ấn tượng sống động để tạo ra chúng. Tôi nhớ tới cơn ác mộng vốn thường được kể lại cho tôi, xảy ra khi tôi mắc bệnh sởi và đang lên cơn sốt bừng bừng. Trong cơn ác mộng tôi mơ thấy vô số nhân vật từ những câu chuyện của mình, những người bị tôi bỏ rơi, không có thức ăn hay chỗ nương náu. Không thể phân biệt được họ, cũng không còn cách nào đem họ từ hành trình trôi dạt trở về nơi an trú được che chở mà tôi thường hình dung; tất cả họ, trong tính cá thể nhân lên vô tận, cứ thế sinh sôi, tái sinh cho đến khi không còn một đốm nhỏ nào của thế giới là chưa tìm được đường trở về bên Thượng đế. Có lẽ hình dung ấy đã khiến tôi kết nối những ấn tượng bên ngoài vốn toàn hoàn khác biệt. Chẳng hạn, một cậu học trò chạy vụt qua và một ông lão đi ngang, hay, một cây non mảnh khảnh và một cây đại thụ sừng sững. Dưới mắt tôi chúng là những chặng khác nhau của một vòng đời. Chúng dường thuộc về nhau ngay từ đầu. Điều đó vẫn không thay đổi dù những ấn tượng chồng chất dần làm ký ức tôi quá tải, buộc tôi phải lần theo những sợi chỉ, nút thắt, hoặc từ khóa để lần tìm dấu trong tấm thảm ngày càng dày. (Có lẽ thói quen ấy đã một phần theo tôi đến mãi sau này khi tôi bắt đầu viết truyện ngắn; truyện ngắn trở thành công cụ tạm thời giúp tôi tìm tới toàn thể lớn hơn - vốn khó được biểu đạt trọn vẹn trong khuôn của chúng - vì thế, rốt cuộc, chỉ là những giải pháp vá víu.)
Mối quan tâm của tôi dành cho các nhân vật trong những câu chuyện của mình không xuất phát từ sự chăm sóc mẫu tính - điều người ta vẫn thường chờ đợi ở một bé gái. Ngay cả khi chúng tôi chơi búp bê thì chính anh trai tôi, hơn tôi ba tuổi, mới là người đặt búp bê lên giường lúc chơi xong và dắt những con vật trở về chuồng. Với tôi chúng chỉ là những thứ phục vụ cho cuộc chơi. Điều lạ lùng là chính những cử chỉ ấy khiến tôi cảm giác anh trai mới là người có trí tưởng tượng mãnh liệt hơn.
Tôi thường không nói về những kinh nghiệm thiêng của mình khi ở cùng những cô bạn gái đồng trang lứa (một người bạn thân của tôi là họ hàng xa, người, giống như chúng tôi, thuộc dòng Pháp-Đức về đằng ngoại; sau này chị gái cô ấy kết hôn với người anh trai thứ hai của tôi). Tôi giữ mọi thứ mơ hồ, như thể chính tôi không dám chắc rằng họ có thể nhớ lại những kinh nghiệm tương tự. Và theo năm tháng, chính ký ức về những kinh nghiệm ấy nơi tôi cũng dần phai nhạt. Bởi vậy tôi nhớ mãi việc mình đã bàng hoàng thế nào khi tình cờ bắt gặp một mảnh giấy rách nát, nhàu nhĩ mà tôi từng viết nguệch ngoạc trên đó một bài thơ. Bài thơ ấy được viết ở Phần Lan, dưới ánh sáng huyền diệu của những đêm hè trắng:
Ôi bầu trời rực sáng trên cao,
Con đặt trọn lòng tin nơi Ngài:
Xin đừng để khao khát hay run sợ
Che khuất Ngài khỏi tầm mắt con.
Ngài trải rộng trên đầu chúng con,
Từ chân trời này đến miền gió xa xôi khác,
Xin hãy rẽ lối con đường trước khi con gục ngã
Để con lại một lần nữa tìm thấy Ngài.
Con không mong trốn chạy nỗi đau,
Cũng không cầu tình yêu vẹn toàn;
Con chỉ xin một miền đất rộng
Để quỳ phục dưới bầu trời của Ngài.
Cảm giác giống như đang đọc một bài thơ xa lạ. Tôi thậm chí còn bình thản tự phụ mà soi xét giá trị của nó! Thế nhưng cảm xúc nền tảng ẩn sau bài thơ đã ấn lên mọi hành động và kinh nghiệm sau này của tôi, như thể cảm xúc ấy không hình thành dần dần từ chuỗi biến cố vui buồn thông thường, trái lại, bật lên từ thời ấu thơ như một sự tái diễn của cú ngợp nguyên sơ mà mọi con người đều trải qua khi lần đầu ý thức được sự tồn tại của mình, một cảm giác theo ta suốt đời.
Dẫu chân thành đến đâu khi tự thuật đời mình, vẫn thật khó truyền đạt cảm thức nơi những điều như thế. Có lẽ một ví dụ cụ thể sẽ làm rõ hơn. Trên đầu giường tôi từng treo một cuốn lịch nhỏ gồm năm mươi hai câu Kinh Thánh, mỗi tuần đổi một câu suốt cả năm. Khi đến lượt câu trong Thê-sa-lô-ni-ca I, 4:11 hiện ra nơi ô cửa, tôi đã giữ nguyên nó ở đó: “Hãy học lấy sự yên lặng, lo việc của mình, và hãy lao động bằng chính đôi tay mình.” Khi ấy tôi không thể nói rõ vì sao mình làm như vậy. Nhưng có lẽ chính dư vang dai dẳng của cảm giác bị bỏ rơi thuở ban đầu cùng sự buông xuôi tuyệt đối đi cùng đã lý giải vì sao cho đến hôm nay, cuốn lịch nhỏ có câu ấy vẫn còn treo trên tường nhà tôi. Câu Kinh Thánh - hoàn toàn không mang dáng dấp trẻ con - ở lại suốt những năm tháng tôi vắng Thượng đế. Tôi không tháo nó xuống, vừa vì cha mẹ, vừa vì những lời ấy đã thấm sâu vào lòng tôi. Minh chứng sau cùng là khi tôi sống xa xứ, lúc cuốn lịch nhỏ được gửi cho tôi kèm theo vài món khác. Câu ấy vẫn lấn át câu của Goethe mà Nietzsche từng gợi ý thay thế: “Hãy quay lưng với những gì nửa vời; kiên quyết sống một đời trọn vẹn, đầy đủ, đẹp đẽ.”
Những dòng chữ viết tay ấy đến bây giờ vẫn còn đó, phía sau lớp chữ in đã phai.
Việc những ấn tượng ấy bắt nguồn từ thời thơ ấu rất sớm hẳn sẽ khiến người ta ngạc nhiên. Như tôi đã nói, chúng gắn liền với một sự thoái lui về trạng thái ấu nhi, hay với một sự ngưng trệ của quá trình phát triển ở giai đoạn ấy. Quan niệm của tôi về Thượng đế hình thành quá sớm, và lại đứng trong thế căng thẳng gay gắt với chính tiến trình tinh thần hóa của nó, đến mức sự sụp đổ của quan niệm ấy trở nên đặc biệt dữ dội và gây đảo lộn mãnh liệt. Cảm giác khi đó như thể tôi bị ném vào thế giới thêm một lần nữa, và từ đó buộc phải đối diện với một thực tại tỉnh táo hơn.
Vào năm mười bảy tuổi, những ký ức trực tiếp đầu tiên về cuộc vật lộn sớm nhất của tôi với đức tin đã trở lại từ một nguồn bên ngoài: những buổi học giáo lý chuẩn bị chịu phép thêm sức với Hermann Dalton tại nhà thờ Tin Lành Cải Cách. rong những khoảnh khắc ấy, có một phần trong tôi chọn đứng về phía hình ảnh Thượng đế mờ nhạt của thuở ấu thơ, người chưa từng đòi hỏi minh chứng hay giáo huấn như vậy. Một cơn phẫn nộ kín đáo, mang màu sắc sùng tín bỗng trỗi dậy, khước từ mọi chứng minh lý trí về sự tồn tại của Ngài, về công lý của Ngài, về quyền năng và lòng thiện tuyệt đối của Ngài. Nó khiến tôi thấy xấu hổ như thể từ sâu thẳm thời thơ ấu Ngài đang bị ép phải nghe tất tật trong nỗi kinh ngạc ngơ ngác; và theo một nghĩa nào đó, tôi đã nói thay Ngài.
Rốt cuộc, câu chuyện chịu lễ thêm sức của tôi khép lại như thế này: do cha tôi ngã bệnh, tôi để Dalton thuyết phục mình tiếp tục thêm một năm học giáo lý chỉ để tránh những xáo trộn có thể gây ra nếu tôi bỏ nhà thờ vào lúc ấy. Nhưng rồi tôi vẫn chính thức xin rút. Tôi làm điều đó mặc dù trong thâm tâm, xét về lý trí, tôi cảm thấy mình đã làm một điều còn tệ hơn nhiều so với việc cứ hoàn tất nghi lễ về mặt hình thức - điều vốn có thể giúp gia đình mộ đạo của tôi được yên lòng. Quyết định ấy không xuất phát từ sự cuồng tín đối với chân lý, mà từ một sức ép nội tâm không sao cưỡng lại.
Trong suốt cuộc đời mình, việc học và nhiều yếu tố khác đã đưa tôi tới các lĩnh vực thuộc triết học, thậm chí thần học, thường xuyên hơn các lĩnh vực mà lẽ ra tôi có thể đã chọn. Tuy nhiên, điều này không phản ánh một bản tính “sùng đạo” thời thơ ấu cũng không liên quan đến sự từ bỏ lòng sùng đạo về sau. Không điều gì trong những gì tôi đã nghiên cứu hay suy tư một cách có hệ thống từng khuấy động lần nữa đức tin ban đầu ấy, gần như đức tin ấy không có chỗ trong phạm vi của “tư duy trưởng thành.” Do đó toàn bộ những ngành học thuật ấy, kể cả thần học, đối với tôi chỉ giữ ở mức hấp dẫn thuần trí tuệ; chúng chưa từng chạm tới, càng không hòa vào, những vùng cảm xúc tôi từng kinh nghiệm. Tôi gần như có thể nói rằng chúng sớm hiện ra trước mắt tôi chẳng khác gì những buổi học giáo lý chuẩn bị chịu lễ thêm sức. Dĩ nhiên tôi vẫn nhận ra - và nhiều khi còn đánh giá cao - cách mà người khác đã kiến tạo, thông qua các nghiên cứu, một hình thức thay thế mang tính khai sáng cho lòng mộ đạo nguyên thủy, cũng như cách họ dung hợp quá khứ vào một chỉnh thể nhất quán bằng tư duy trưởng thành. Với họ, đó thường là phương tiện tối ưu để tự thúc đẩy mình tiến lên về mặt trí tuệ, để lĩnh hội toàn bộ bài học của đời sống - trọn vẹn hơn tôi, kẻ không bao giờ có thể nhắc lại bài học ấy mà không lúng túng, ngập ngừng. Nhưng đối với tôi những phương tiện ấy vẫn xa lạ như thể chúng thuộc về những lĩnh vực hay đối tượng khác hẳn.
Điều thu hút tôi nhất nơi những con người ấy, dù còn sống hay đã chết, những người hiến dâng trọn vẹn cho suy tư, là phẩm cách của họ. Dù họ diễn đạt điều tinh tế đến đâu trong triết học của mình, người ta vẫn luôn luôn nhận ra rằng ở một tầng sâu nào đó, Thượng đế vẫn là kinh nghiệm đầu tiên và trọng yếu nhất đời họ. Còn điều gì khác có thể so sánh? Tôi chưa từng ngừng yêu họ, một tình yêu khao khát xuyên qua trái tim con người, nơi định mệnh riêng tư nhất của ta được khai mở.
Giờ đây, hẳn sẽ có người hỏi: nếu trong đời tôi đã không đạt được sự điều hoà giữa khát vọng và chân lý, giữa những mong đợi cảm xúc và tri thức lý tính - một sự điều hoà vốn thường hình thành dần dần và khá tự nhiên trong tiến trình phát triển - thì những cảm thức tôn giáo sớm nhất ấy còn tiếp tục tác động đến tôi ở điểm nào? Thành thực tôi chỉ có thể đáp lại bằng chính sự vắng mặt của Thượng đế. Điều còn lại ở tầng sâu nhất, bất chấp mọi thay đổi trên bề mặt của đời sống và thế giới, là thực tại không lay chuyển của một vũ trụ đã bị Thượng đế bỏ mặc. Và có lẽ chính tính chất trẻ thơ của hình ảnh Thượng đế ban đầu đã khiến cho việc thay thế hay điều chỉnh hình ảnh ấy bằng những định thức về sau trở nên bất khả.
Nhưng ngoài hệ quả đó, khía cạnh trẻ thơ nơi sự vắng Thượng đế cũng có một mặt tích cực: nó đã đẩy tôi vào đời sống thực với mức độ không thể đảo ngược. Tôi chắc chắn rằng, đối với tôi - nếu tự đánh giá đời mình một cách trung thực - bất kỳ khái niệm Thượng đế thay thế nào, nếu từng hòa trộn với cảm xúc của tôi, chỉ có thể hạn chế, làm chệch hướng hoặc làm suy yếu kết quả ấy. Tôi sẵn sàng thừa nhận rằng nhiều người khác đã sử dụng sự thay thế như vậy theo những cách rất khác, những cách dẫn họ đi xa hơn tôi.
Ảnh hưởng sâu xa của tất tật những điều này đối với tôi là khía cạnh tích cực nhất: cảm tri sâu xa về một định mệnh được chia sẻ với toàn thể tồn tại. Ý thức ấy đã manh nha từ rất sớm, với một cường độ liên tục và xuyên thấu, chưa từng suy giảm. Vì vậy, “cảm tri” chính xác hơn “tri giác” bởi tri giác quy chiếu về đối tượng; đây là một xác tín rằng chúng ta thuộc về cùng một định mệnh. Và cảm thức này không giới hạn nơi con người mà mở ra đồng thời với cả bụi của vũ trụ. Chính vì vậy, nó không thể bị điều chỉnh bởi bất kỳ thước đo hay giá trị nào của con người, như thể sự hiện hữu tự thân đã tước bỏ mọi khả năng biện minh hay phán xét - cũng như không điều gì, kể cả giết chóc hay hủy diệt, có thể làm tổn hại đến ý nghĩa của tồn tại, ngoại trừ việc không dành cho nó sự tôn kính tối hậu đối với trọng lượng của chính nó, một trọng lượng mà nó chia sẻ với chúng ta, vì rốt cuộc, nó cũng chính là chúng ta.
Khi nói đến đây, tôi đã vô tình thốt ra một từ hé lộ phần dư tinh thần của mối quan hệ sớm nhất giữa tôi và Thượng đế. Quả thật, suốt đời mình, không có khát vọng nào nơi tôi mang tính bản năng hơn khát vọng được tỏ lòng tôn kính - như thể mọi mối quan hệ về sau với con người hay sự vật chỉ có thể hình thành sau hành vi nguyên sơ ấy. Vì vậy, từ này đối với tôi dường chỉ là một tên gọi khác, một danh xưng thứ hai cho mối ràng buộc của một định mệnh phổ quát, trong đó cái vĩ đại nhất được bao hàm mà không cần viện đến kích thước và ngay cả cái nhỏ bé nhất cũng được trao ý nghĩa. Nói theo cách khác: mọi tồn tại, chỉ vì nó tồn tại, đã mang trong mình toàn bộ trọng lượng của hiện hữu, như thể nó là toàn thể tồn tại. Liệu cường độ của cảm tri thuộc về này có thể hình dung được nếu thiếu một sự tôn kính nội tại, dù đó chỉ là tầng nền ít hiển lộ và ít được thừa nhận nhất của đời sống xúc cảm?
Ngay trong điều tôi sắp thuật lại ở đây, sự tôn kính đã hiện diện sẵn. Thật vậy, có lẽ chính sự tôn kính ấy - chỉ riêng nó - mới là đối tượng trung tâm, bất chấp việc phải dùng đến nhiều từ ngữ để xử lý những vấn đề xoay quanh nó, trong khi từ giản dị ấy vẫn âm thầm hiện diện ở bề sâu.
Dẫu có phi lý đến đâu, tôi vẫn phải thừa nhận rằng bất kỳ hình thức nào của niềm tin - dù vô lý nhất - cũng đáng giá hơn một nhân loại đã đánh mất hoàn toàn cảm tri về lòng tôn kính.
Thanh Nghi dịch
