favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
Đông 2025
Next

Kleist: Múa rối

11/01/2026 22:23

Über das Marionettentheater: tiểu luận của Heinrich von Kleist – ngoài viết tiểu thuyết và thơ còn là một kịch tác gia – viết về những con rối. Vẻ duyên dáng của một chuyển động vô thức, khi mà mọi phản xạ, hay suy nghĩ, đã trở nên mờ và yếu, chính là ân sủng đích thực.

 

BÀN VỀ MÚA RỐI

- Heinrich von Kleist

Một tối nọ trong một vườn công cộng ở M…, nơi tôi đã trải qua mùa đông năm 1801, tôi tình cờ gặp ông C…, người vừa được thuê làm vũ công chính của nhà hát thành phố và đã rất nổi tiếng.

Tôi nói với ông rằng tôi đã rất ngạc nhiên khi nhiều lần trông thấy ông ở một rạp múa rối tạm bợ được dựng lên trong chợ, nơi người ta phục vụ đám đông các bài hát và điệu múa, cùng các vở kịch hài nhỏ.

Ông khẳng định với tôi rằng các màn kịch câm của những con rối ấy đem lại cho ông niềm vui lớn, và gợi ý rất chắc chắn rằng một vũ công muốn cải thiện kỹ thuật của mình có thể học được nhiều thứ ở đó.

Theo cách ông nói về nó, lời nhận xét kia với tôi dường không chỉ là lời nói suông, tôi ngồi xuống với ông và tìm hiểu thêm các tiền đề cơ bản cho một tuyên bố lạ thường như vậy.

Ông hỏi tôi liệu tôi có thực sự nhận thấy một số chuyển động của các con rối, đặc biệt là những con rối nhỏ, là vô cùng duyên dáng không.

Sự thật này tôi không thể chối cãi. Một nhóm bốn nông dân nhảy điệu Ronde với nhịp nhanh thì không thể nào được thể hiện cách duyên dáng hơn ngay cả bởi Teniers.

Tôi hỏi về cơ chế hoạt động của các hình nhân này, và làm thể nào, mà chẳng cần quá nhiều dây nhợ buộc vào các ngón tay, lại có thể điều khiển chuyển động của từng chi và những khoảng dừng của chúng theo nhịp của chuyển động hay điệu nhảy?

Ông trả lời rằng tôi không nên hình dung như thể mỗi chi được người điều khiển giật và làm cho cử động riêng lẻ trong từng chuyển động của điệu nhảy.

Mỗi chuyển động, ông nói, đều có một trọng tâm; chỉ cần điều khiển điểm này ở trung tâm của hình nhân; các chi, xét cho cùng cũng chỉ là các con lắc, bản thân chúng sẽ tự động chuyển động theo mà không cần làm gì thêm.

Ông nói thêm rằng chuyển động này rất đơn giản; mỗi khi trọng tâm được dịch chuyển theo một đường thẳng các chi sẽ vẽ ra các đường cong; và thường thì, chỉ cần lắc nhẹ một cái ngẫu nhiên, toàn bộ cơ chế sẽ trượt theo một dạng chuyển động có nhịp giống như điệu nhảy.

Nhận xét này thoạt tiên có vẻ làm sáng tỏ phần nào niềm vui mà ông tuyên bố có được ở rạp múa rối. Nhưng tôi ngay lúc ấy chẳng thể nào mường tượng được các kết luận mà sau đó ông sẽ đưa ra.

Tôi hỏi rằng liệu ông có tin rằng người điều khiển con rối bản thân anh ta phải là một vũ công hay không, hay ít nhất có cảm năng về nhảy múa.

Ông trả lời rằng ngay cả một việc dường như thật đơn giản về mặt cơ học thì không nhất thiết có nghĩa là nó có thể được thực hiện mà không cần bất kỳ cảm tri nào.

Đường mà trọng tâm vạch ra quả thực hết sức đơn giản, và trong hầu hết mọi trường hợp, ông tin, là đường thẳng. Trong những trường hợp nó cong, quy luật của đường cong ấy hầu hết chỉ là ở bậc nhất, hoặc cùng lắm là bậc hai; và ngay cả ở loại thứ hai này, nó cũng chỉ là hình elip, mà dạng ấy của chuyển động, trong hầu hết mọi trường hợp, cũng là dạng tự nhiên nhất của các đầu mút trên cơ thể người (bởi có các khớp nối), và bởi vậy, không đòi hỏi kỹ năng lớn trong công việc của người điều khiển con rối.

Mặt khác, nhìn từ một góc độ khác, đường cong này lại là thứ gì đó rất bí ẩn. Bởi nó không là gì khác hơn là đường vạch ra bởi tâm hồn của vũ công; và ông đồ rằng nó chẳng thể nào được tạo ra bởi bất cứ nào khác ngoài việc người điều khiển con rối chọn trọng tâm của nó, nói cách khác, anh ta nhảy múa.

Tôi đáp lại rằng nghề múa rối đã được mô tả với tôi khá nhạt nhẽo: giống như việc xoay một cần quay để gảy đàn lia.

“Không hề,” ông đáp. “Mối quan hệ vận động giữa các chuyển động của ngón tay và chuyển động của con rối gắn liền với chúng thực sự rất tài tình, giống như quan hệ giữa các con số và logarit của chúng hoặc giữa đường tiệm cận và đường hyperbol.”

Đồng thời, ông ấy cũng tin rằng ngay cả mẩu cuối cùng của linh hồn này, điều ông vừa nói kia, cũng có thể bị rút ra khỏi con rối, rằng điệu nhảy của nó được chuyển hoàn toàn sang địa hạt của cơ học, và có thể được gọi lên, như cách tôi mường tượng, bằng một tay quay.

Tôi bày tỏ sự ngạc nhiên của mình khi thấy ông ấy dành thật nhiều chú ý vào hình thức nghệ thuật được phát minh cho đại chúng này, như thể đó là một môn nghệ thuật đích thực. Không chỉ cho rằng nó có khả năng phát triển tính nghệ thuật cao hơn nữa, mà bản thân ông dường cũng tự mình nghiên cứu nó.

Ông mỉm cười và nói ông dám khẳng định rằng nếu một thợ máy có thể làm cho ông một con rối theo đúng những yêu cầu mà ông mường tượng, thì ông hẳn có thể để nó biểu diễn một điệu nhảy mà chính ông, hay bấy kỳ vũ công tài năng nào khác vào thời ấy, thậm chí cả Vestris, cũng không thể thực hiện được.

“Anh,” ông hỏi, khi thấy tôi im lặng nhìn xuống đất, “anh có từng biết về những cái chân giả bằng cơ khí mà các nghệ sĩ người Anh đã chế ra cho những người bất hạnh đã mất chân không?”

“Chưa, tôi nói.” Tôi chưa từng trông thấy thứ gì như vậy.

“Tiếc thật,” ông đáp; “bởi nếu tôi nói với anh rằng những người bất hạnh khốn khổ này có thể nhảy múa với họ, tôi e rằng anh sẽ không tin. – Chà không hẳn là nhảy múa! Phạm vi những chuyển động của họ thực sự bị hạn chế; nhưng các chuyển động mà họ có thể đáp ứng được đều được tiến hành với sự điềm tĩnh, dễ dàng và duyên dáng khiến bất kỳ ai có suy nghĩ đều phải đứng dậy thán phục.”

Tôi nói đùa rằng chắc hẳn là ông đã tìm được người thợ máy phù hợp cho mình. Bởi vì một nghệ sĩ có khả năng tạo ra một chi giả đáng kinh ngạc như thế thì chẳng nghi ngờ gì cũng có thể làm cho ông cả một con rối đúng theo các yêu cầu kỹ thuật ông chỉ định.

“Sao cơ?” Tôi hỏi, bởi nhận thấy ông nhìn xuống đất với vẻ mặt dường chán nản: “Các yêu cầu kỹ thuật mà ông đặt ra cho việc chế tạo một con rối như thế là gì vậy?”

“Chẳng có gì,” ông đáp, “mà người ta còn chưa biết: đối xứng, linh hoạt, nhẹ – nhưng tất cả ở một mức độ cao hơn; và đặc biệt là sắp xếp cách tự nhiên hơn các trọng tâm.”

Và lợi thế mà con rối này có được so với các vũ công sống là gì?

“Lợi thế? Trước hết, đó là một sự thiếu vắng hoàn toàn, bạn thân mến, tức là nó không bao giờ tạo điệu bộ. Bởi vì sự làm ra vẻ, như anh biết, xuất hiện khi tâm hồn (vis motrix) [lực truyền động] bị đặt vào bất kỳ điểm nào khác ngoài trọng tâm của chuyển động của nó. Bởi vì khi sử dụng dây thép hoặc chỉ, người thợ đơn giản là không có điểm nào khác để buộc vào ngoài điểm này, tất cả các khớp khác của cơ thể đều chết, như chúng vốn dĩ, như những con lắc thuần túy, và chỉ tuân theo luật của trọng lực; một phẩm chất tuyệt diệu mà người ta dường tìm kiếm trong vô vọng nơi hầu hết các vũ công của chúng ta.

“Hãy xem P…, chẳng hạn,” ông tiếp tục, “khi cô ấy múa trong vai Daphne, và ngoảnh người lại nhìn Apollo, kẻ đang đuổi theo cô; tâm hồn cô nằm ở trục của cột sống; cô uốn con người như thể sắp gãy tới nơi, giống như một nàng tiên cá của Bernini. Xem F… trẻ tuổi kìa, khi, thủ vai Paris, anh ta đứng giữa ba vị thần và dâng quả táo cho Venus: tâm hồn của anh ta hoàn toàn (và thật khủng khiếp khi nhìn thấy) nằm ở khuỷu tay.

“Những sai lầm như thế,” ông đột ngột nói thêm, “là không thể tránh khỏi từ khi chúng ta ăn quả của Cây Tri thức. Nhưng Thiên đường bị đóng lại và thiên thần ngay sau lưng chúng ta; chúng ta buộc phải đi vòng địa cầu và vòng sang phía bên kia để xem liệu có thể vào bằng cửa hậu không.”

Tôi bật cười. – quả thật, tôi nghĩ thầm, tinh thần không thể sai lầm ở nơi không có nó. Nhưng tôi cảm thấy rằng ông vẫn còn nhiều hơn nữa trong đầu, và giục ông nói tiếp.

“Các con rối, hơn nữa, có lợi thế là chúng phản trọng lực. Chúng chẳng hề biết đến quán tính của vật chất, đặc tính ghét nhảy múa nhất: bởi lực nâng chúng lên không trung lớn hơn lực giữ chúng dưới mặt đất. Nàng G… tuyệt diệu của chúng ta sẽ đánh đổi điều gì để nhẹ đi sáu mươi pound đây, hoặc để một trọng lượng lớn như vậy có thể trợ giúp nàng trong những động tác xoay tròn và đập chân nhảy? Con rối chỉ cần mặt đất, giống như đám yêu tinh, để chạm sượt qua, và bởi vậy làm sống lại sự linh hoạt của các chi nhờ lực cản tức thời; chúng ta cần mặt đất để nghỉ và phục hồi sau trạng thái căng của điệu nhảy: đối với chúng ta khoảnh khắc tiếp xúc mặt đất ấy rõ ràng không đóng vai trò gì trong điệu nhảy và chúng ta không có cách nào khác ngoài nhanh chóng kết thúc nó.”

Tôi liền nói rằng, dẫu ông có khéo xoay chuyển điểm mấu chốt của nghịch lý ấy tới đâu, ông cũng không bao giờ thuyết phục được tôi rằng có nhiều vẻ duyên dáng ở một hình nhân cơ học có khớp nối hơn so với cấu trúc cơ thể con người.

Ông đáp lại rằng con người đơn giản là không thể nào chạm đến được hình nhân cơ học ấy. Chỉ có thần thánh mới có thể sánh được với vật chất trơ ì ở khía cạnh này; và chính đây là điểm mà hai đầu của thế giới hình vòng gặp nhau.

Tôi càng ngạc nhiên hơn nữa và chẳng biết phải làm sao trước những khẳng định lạ thường như vậy.

Có vẻ như, ông nói, trong khi nhấm một ít thuốc lá, tôi đã không đọc kỹ chương thứ ba quyển đầu tiên Sách Moses; và chẳng thể nào bàn luận được với một người không biết đến giai đoạn đầu của toàn bộ sự giáo dục nhân loại về các giai đoạn tiếp theo sau đó, huống chi là giai đoạn cuối cùng.

Tôi đáp lại rằng quả thực tôi hoàn toàn hiểu rõ sự hỗn loạn mà ý thức đã gây ra cho sự duyên dáng tự nhiên của con người. Một chàng trai trẻ mà tôi quen, đúng hệt như thế, ngay trước mắt tôi, đã đánh mất sự ngây thơ của mình chỉ bằng một nhận xét đơn giản, và chẳng bao giờ, từ đó về sau, bất chấp mọi nỗ lực khả dĩ, còn có thể tìm lại được thiên đường đánh mất ấy. “– Nhưng ông có thể rút ra kết luận gì về điều đó cơ chứ?” Tôi nói thêm.

Ông ấy hỏi tôi chính xác thì chuyện gì đã xảy ra.

“Khoảng ba năm trước,” tôi kể lại, “ tôi tình cờ tắm bên cạnh một thanh niên, lúc bấy giờ được phú cho vẻ đẹp đáng kinh ngạc. Anh ta khoảng chừng mười sáu, và chỉ để lộ những dấu vết đầu tiên rất mờ nhạt của vẻ phù phiếm được vun đắp bởi sự ưu ái của phụ nữ. Tình cờ là mới trước đó cả hai chúng tôi đều đã xem bức tượng cậu bé rút gai khỏi bàn chân [còn được gọi là Fedele hay Spinario] ở Paris; một bản sao của bức tượng nổi tiếng ấy có thể được tìm thấy trong hầu hết các bộ sưu tập ở Đức. Một cú liếc qua tấm gương lớn ngay lúc anh ta đặt bàn chân lên ghế đẩu để lau khô đã nhắc anh ta nhớ về bức tượng kia; anh ta cười và nói rằng mình vừa khám phá ra điều gì đó. Thực ra, ngay thời điểm ấy tôi cũng liên tưởng đến điều tương tự; nhưng, chẳng biết là để kiểm tra xem vẻ duyên dáng bẩm sinh của anh ta có còn nguyên vẹn hay không, hoặc để làm giảm bớt tính tự phụ của anh ta, tôi cười và bảo rằng anh ta nhìn nhầm rồi! Anh ta đỏ mặt và lại gác chân lên lần nữa; để cho tôi xem; nhưng, như có thể dự đoán được, nỗ lực ấy thất bại. Hết sức bối rối, anh ta nhấc bàn chân lên thêm một lần thứ ba và thứ tư, quả thật anh ta đã nhấc chân lên như thế thêm cả chục lần nữa: nhưng đều vô ích! Anh ta đơn giản là không thể lặp lại cùng động tác ấy – và hơn nữa, các động tác mà anh ta thực hiện trông khôi hài đến nỗi tôi khó mà nhịn cười được.

“Từ hôm đó trở đi, mà thật ra, có thể nói rằng kể từ khoảnh khắc ấy, cậu thanh niên này đã trải qua một sự biến đối không thể hiểu được. Anh ta bắt đầu đứng trước gương hàng ngày; và anh ta dần dần mất đi từng nét quyến rũ một. Một lực vô hình và không thể tưởng tượng nổi, giống như một lưới sắt, dường đè lên và ghì chặt mọi tự do trong các cử động của anh ta, và sau một năm, chẳng còn thấy một dấu vết nào của sự duyên dáng từng làm say mê tất tật mọi con mắt đổ dồn lên anh ta nữa. Tôi biết một người khác cũng đã chứng kiến sự việc kỳ lạ và bất hạnh ấy, và có thể xác nhận từng lời câu chuyện tôi kể.”

“Theo mạch này,” ngài C… đáp lại một cách rất thân thiện, “tôi phải kể cho anh một câu chuyện khác, anh sẽ ngay lập tức hiểu ra mối liên hệ.

“Trong một chuyến đi Nga tôi tình cờ xuất hiện ở điền trang của một ngài von G… nào đó, một nhà quý tộc Livonia, các con trai của ông ta vào lúc bấy giờ vô cùng say mê môn đấu kiếm; đặc biệt là cậu cả, người vừa trở về từ trường đại học, tỏ ra rất giỏi, và một buổi sáng nọ trong phòng mình, cậu ta đưa cho tôi một thanh kiếm. Chúng tôi đấu với nhau, nhưng tôi lại trội hơn; dục vọng khiến cậu ta mất cảnh giác; hầu như mỗi cú đâm của tôi đều trúng đích, cho đến khi, rốt cuộc, thanh kiếm của cậu ta bay vào góc tường. Nửa đùa nửa thật, cậu ta nói, khi nhặt kiếm lên, rằng cậu ta đã tìm được sư phụ; nhưng mọi thứ trong tự nhiên đều có đối thủ, và cậu ta dẫn ngay tôi đến chỗ đối thủ của tôi. Hai anh em cưới phá lên và gào to: ‘Đi đi! Ra kho củi!’ Ngay lập tức họ nắm tay dẫn tôi đến chỗ một con gấu mà ngài von G…, ông bố của họ, đang huấn luyện trong sân.

“Khi tôi đứng trước nó trong nỗi kinh ngạc tột độ, con gấu đứng thẳng trên hai chân sau, lưng dựa vào cái cột mà nó bị cột vào, chân trước bên phải đã giơ lên và sẵn sàng tấn công, nhìn thẳng vào mắt tôi: đây là tư thế đấu kiếm của nó. Và khi thấy mình mặt đối mặt một đối thủ như vậy, tôi chẳng biết mình có mơ không; nhưng ngài von G…, khích lệ tôi: ‘Đâm! Đâm đi!’ ông kêu lên. ‘Xem ông có thể dạy được gì cho nó không!’ Và sau khi vượt qua nỗi kinh ngạc ban đầu, tôi đâm kiếm của mình tới; con gấu cử động rất khẽ chân trước và gạt ra cú đâm của tôi. Tôi cố dùng các miếng nhử để đánh lừa nó; con gấu chẳng hề nhúc nhích. Và lại một lần nữa tôi đâm tới với một đòn thật nhanh chắc chắn xuyên thủng  bất kỳ bộ ngực con người nào; nhưng con gấu thực hiện một chuyển động chân rất khẽ và lại gạt được cú đâm của tôi. Giờ thì tôi cũng bối rối chẳng kém cậu von G… lúc trước. Sự bình tĩnh tuyệt đối của con gấu càng làm tôi mất bình tĩnh hơn, tôi liên tục vung ra những cú đâm và nhử, mồ hôi túa ướt trên trán: vô ích! Con gấu không chỉ, giống như một kiếm sĩ hàng đầu thế giới, đỡ được tất tật mọi cú đâm của tôi; nó, không giống như bất kỳ đối thủ con người nào, chẳng hề lấy một lần mắc bẫy những cú nhử của tôi: Nhìn thẳng vào mắt tôi, như thể nó có thể đọc được tâm hồn tôi, nó đứng bất động, chân giơ lên sẵn sàng, và nếu những cú đâm của tôi chỉ là đòn nhử, nó thậm chí chẳng buồn nhúc nhích.

“Anh có tin câu chuyện này không?”

“Hoàn toàn tin!” tôi trả lời với tràng vỗ tay vui vẻ; “Tôi sẽ tin chuyện ấy từ bất kỳ người lạ nào; huống chi là từ ông!”

“Thế thì, bạn tốt của tôi,” ông C… nói, “giờ anh đã biết đủ để hiểu ý tôi. Chúng ta đều thấy rằng trong thế giới hữu cơ, đến một mức mà phản xạ trở nên tối hơn và yếu hơn, ân sủng lại rực rỡ và vượt trội hơn. Nhưng đúng như hai đường thẳng giao nhau tại một điểm ở bên này, sau khi đi qua vô cực, đột nhiên gặp lại nhau lần nữa ở bên kia, hoặc hình ảnh trong một gương lõm đột nhiên xuất hiện trước mặt ta sau khi lùi xa vào khoảng vô tận: cũng giống như vậy, khi tri thức như thể đã vượt qua vô tận, ân sủng lại được tìm thấy; bởi thế nó đồng thời xuất hiện cách thuần khiết nhất trong hình thức con người, hoặc hoàn toàn không có ý thức, hoặc sở hữu một ý thức vô tận, giống như hình nhân có khớp nối hoặc thần thánh.”

“Như vậy thì,” tôi nhận xét, có phần ngớ ngẩn, “liệu chúng ta có phải ăn quả của cây tri thức một lần nữa để rơi trở lại trạng thái ngây thơ?”

“Chắc chắn rồi,” ông đáp; “đó sẽ là chương cuối cùng của lịch sử thế giới.”

Công Hiện

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công