“Và Hà-nội vẫn đẹp, cái vẻ đẹp rũ rượi của người yểu mệnh.” (Ung thư, Thanh Tâm Tuyền).
“Sau ấn tượng hoang vắng đêm nay, sẽ là sự thật tàn nhẫn ngày mai.” (Đêm giã từ Hà Nội, Mai Thảo).
Trước khi một sự kiện hiện ra, thường có khoảng hoang vu lan ra như tiền triệu. Hoang vu là cái bóng đổ về phía trước.
Thành phố ấy chỉ trong cơn hấp hối, mọi sự trong nó mới sống đời sống mãnh liệt và chân thật nhất; chỉ dưới cái bề ngoài rệu rạc, tinh thần của nó mới còn cựa quậy. Tức là, nếu nó có một vẻ đẹp thì đó là vẻ đẹp của sự nghẹn uất.
Hà Nội lại một lần nữa bước vào cuộc biến di của lịch sử. Những đường phố nhà cửa bị đào bới, cây cối bị đốn hạ, từng đoàn người đến và đi khỏi Hà Nội, mộng tưởng này thế chỗ mộng tưởng khác. Nhưng số phận của nó lúc nào mà chẳng như thế? Đấy là số phận của một người bệnh nằm trong phòng hồi sức cấp cứu luôn luôn bị bao quanh bởi tiếng máy móc và tiếng người chộn rộn. Cái không gian của một phòng hồi sức thì chẳng bao giờ thôi gây ám ảnh bất cứ ai từng bước vào đó bởi trong một điểm duy nhất, nó nén đồng thời quá nhiều niềm tin lẫn tuyệt vọng, sự sống và cái chết, ảo tượng lẫn hết ảo tưởng; những cực ấy nếu không làm con người nổ tung thì cũng biến họ trở nên đờ đẫn.
Phần lớn người ta nhìn xuống Hà Nội không như nhìn xuống một vực thẳm mà như một vật thích hợp để khai triển những thí nghiệm đông phương lẫn tây phương.
Giờ này nhiều người đang than khóc cho Hà Nội ở khắp nơi, họ biết chẳng ai có quyền can thiệp vào ham muốn khóc thương của họ nên họ rải nước mắt cùng những lời đưa tiễn từ các công viên, phố phường, hàng quán lên tới tận tường cá nhân trên mạng xã hội - tức là khuếch tán trạng thái ấy lên tất tật thực tại mà họ có. Những người sống ở trong lẫn những người ở xa trót mang món nợ với Hà Nội đều tin rằng mình có bổn phận dự phần đám tang tiếp theo của nó. Song ai lại khóc mãi cho một người vốn đã biết trước phải gánh số yểu mệnh bao giờ? Nước mắt trút xuống như mưa làm mờ Hà Nội. Dẫu vậy nếu không khóc thì chẳng còn biết làm gì, đứng trước một người yểu mệnh lúc nào cũng dấy lên trong tinh thần nỗi mặc cảm.
Một số phận yểu mệnh tức là một số phận sống dưới ánh sáng tiên báo của cái chết và do vậy, mọi chuyển động đều chứa trong nó yếu tính của cái lai. Đối với số phận ấy, sự sống không bao giờ hiện ra hoàn toàn vô tư nhưng ngay cả cái chết cũng hết sức khắc khoải. Sống với thành phố này nghĩa là sống với trạng thái cam chịu cơn ám ảnh dai dẳng về một trận bão, một biến cố, một thời khắc đoạt mạng sẽ bất chợt ập tới. Giữa quãng chờ sống và chết lọt ra những ngẫu nhĩ mà ở khía cạnh nào đó, rất gần với xen Igitur của Mallarmé gieo xúc xắc trong một nghi lễ hòng tiến vào cái tuyệt đối, nơi không gian gắn với huyệt mộ và tro cốt tổ tiên. Ngẫu nhĩ đã xâm lấn từ cấu trúc của hành động tung xúc xắc. Nó không đưa Igitur ra khỏi huyệt mộ hay xóa bỏ dòng giống ám ảnh y mà phá bĩnh cái tất yếu khép một vòng hoàn tất bằng cách tạo ra những khe nứt. Tinh thần Hà Nội trú trong những khe nứt ấy, nó khước từ một cách gọi, một hình thức vững chãi cố gò nó thành hiện vật. Tuy nhiên ngẫu nhĩ còn đóng vai trò là nơi để cái tất yếu đi qua và trở thành chính nó. Igitur muốn đạt tới cái tất yếu thì y không được phép tránh né cú gieo xúc xắc cuối cùng. Cái chết đích thực phải chấp nhận tự phơi mình trước cơ may, đồng thời tiếp nhận lực dao động của các khả thể. Nói cách khác, ngẫu nhĩ cùng lúc dung chứa trong nó một tất yếu. Hà Nội và tinh thần của nó cần một cái chết đích thực. Vấn đề không nằm ở số yểu mệnh mà nằm ở một cái chết thực thụ bởi chỉ nó mới đủ sức phản ánh một số phận đích thực. Rốt cuộc cái chết mà người ta đang than khóc có phải là cái chết hay chỉ là cơn hôn mê? Đúng hơn, người ta đang tiếc thương cho Hà Nội nào? Những người xung quanh tôi đã sẵn sàng vận lên mình bộ đồ tang và yên ổn trong nỗi buồn của họ; nhưng còn tôi, tôi vẫn đang cam chịu chờ đợi khoảnh khắc thành phố này thực sự chết cái chết của nó. Ngày Hà Nội đi tới tận cùng số phận cũng là ngày diễn ra cuộc phục sinh.
Tân Trúc, ngày 16 tháng Năm năm 2026
Thanh Nghi
