Tôi đọc một quyển tiểu thuyết, trong đó có rất nhiều cửa sổ; chẳng thể nào, nhân vật của nó than thở, bỏ được thói quen thiếp ngủ khi cửa sổ vẫn mở. Phải chăng nơi cửa sổ kia mở ra là lối thoát duy nhất khi nào những gì tưởng chừng rất quen ở trong căn phòng – thứ đôi khi bất chợt trở nên chật chội và dồn nén quá sức chịu đựng – hiện rõ cái vẻ thờ ơ của chúng, chẳng muốn dây đến sự tồn tại của kẻ ở bên trong? Nhưng, cũng ở bên cửa sổ ấy, những huyễn tưởng hình thành, hướng về một ai đó ở rất xa, mà chính bởi sự vắng ấy lại hiện ra thật rõ; nàng thật đẹp, giờ thì mỗi lúc điều này một thêm chắc chắn, trong khi chẳng thể nào người ta nghĩ đến khi ở cạnh nàng. Nhưng cũng có thể đi quá những gì trông thấy theo một lối khác. Bên cửa sổ các ký ức được xâu chuỗi lại, bởi luôn luôn chúng, không như người ta tưởng mỗi khi nhắc đến như một thể thống nhất trọn vẹn, hiện ra tản mác chỗ này chỗ kia, các mẩu và mảnh rời rạc; chúng nháy mắt với nhau trêu ngươi kẻ bị chúng chơi khăm, mẩu này trỏ sang mẩu khác, mẩu khác lại trỏ sang những mẩu khác nữa, và trong khi đó chúng lần lượt lẩn đi mất, khiến cho nỗ lực gom góp lại tất tật – mà đôi khi người ta phải làm thế bởi bị một nỗi thôi thúc bất chợt nào đó túm lấy – trở nên vô cùng khó nhọc. Và đến lượt cô gái, đối tượng được khuôn định qua những giờ mà người kia được để yên bên cửa sổ, cũng có cửa sổ thời ấu thơ của mình, dù cô chẳng bao giờ là người biết kể chuyện. Mẩu nhỏ mở đầu cho những gì cô kể lại là nỗi cô đơn – mọi thứ đều mở ra bởi cô đơn, dẫu đó là hoàn cảnh dẫn về các ký ức hay đó chính là mở đầu cho ký ức: một buổi tối thời thơ ấu, cô đi lên phòng mình, nghĩ rằng mình thật mệt, có lẽ bởi những bổn phận, tiếng ồn, con người chẳng làm gì khác hơn ngoài cố gắng viền thật rõ một thực tại mà cô chẳng thể quá hân hoan ở đó, hoặc có lẽ bởi khi ấy cô còn quá nhỏ. Nhưng rồi cô nhận ra cửa sổ trong phòng, và cô bị giật ra khỏi bản thân. Cô đứng bên cửa sổ đến tận khuya, có thể tưởng tượng như thế, những vì sao kia, tự do, trong khi cô ở bên này cửa sổ, trong phòng, tù nhân.
Tự do: thứ luôn luôn chảy tuột ra khỏi các nỗ lực khuôn cho nó một hình thức, giống như những khái niệm mơ hồ khác; vậy thì, để cho một thứ gì đó được nuôi dưỡng ở bên trong, lúc nào cũng lớn lên, như một cái mầm, lúc nào cũng hướng về tự do ấy, không bao giờ ngừng chất vấn, đòi hỏi, hoài nghi nó, liệu như thế có kém quan trọng hơn so với thực sự đạt được tự do ấy? Và, nếu đã như thế, liệu một cửa sổ bít kín có kém quan trọng hơn một cửa sổ mở toang? Nhưng bản thân cửa sổ cũng mơ về tự do. Kể từ khi quyển sách ấy – về một người học nhìn – được viết ra, cửa sổ đã vượt qua mọi giới hạn; thậm chí bức tường, thứ phải bị khoét một lỗ để mở ra một tầm nhìn, đã hoàn toàn có thể biến mất và thay vào đó là một cửa sổ đạt đến kích thước tối đa: vách kính; nhưng cũng phải thêm rằng những gì bên ngoài không vì thế mà trở nên bớt dửng dưng hơn với con người. Có phải là khi quá dễ để thấy mọi thứ cũng là khi người ta không thể nào thoát ra khỏi những gì dễ dàng hằn lên võng mạc? Và câu hỏi kia vẫn còn nguyên: liệu một cửa sổ bít kín – hay một bức tường không cửa sổ và nỗi thôi thúc nó gây ra – có kém quan trọng hơn một một tầm nhìn vô tận?
Một cửa sổ đã từng vô cùng khắc khổ, bởi trước khi người ta nghĩ đến chuyện có thể nhìn xuyên qua, nó là kết quả của cả một sự giành giật khó nhọc với bức tường để đem ánh sáng vào bên trong. Chưa từng là hiển nhiên chuyện đục một lỗ trên bức tường dày, bởi nó bắt buộc phải đủ dày, từng là như thế, để đỡ được tất tật những thứ bên trên và đỡ được bản thân nó. Và vượt qua một khoảng cách bằng những khối kết cấu nặng đã từng là mối bận tâm lớn của con người, thế rồi có các vòm cung tròn, rồi vòm cửa sổ; và để từ một vòm cong có thể nhích cao thêm thành vòm nhọn, với cùng độ rộng cửa nhưng được lợi hơn về chiều cao của lỗ rỗng, đã phải trải qua rất nhiều năm. Thậm chí chỉ một cái lỗ nhỏ xíu trên tường cũng để lại những dấu vết của toan tính con người; người ta biết đó là một lỗ châu mai khi phần vách tường bị vạt xéo nằm ở mặt trong, để được lợi về góc nhìn cho người nhắm bắn, còn nếu vạt xéo ở mặt tường bên ngoài: cố rướn thêm một chút nữa để hứng thêm ánh sánh. Và dù ở hình thức nào đi nữa, nơi những gì được tạo ra luôn luôn kèm với sự khó nhọc như thế, chẳng phải chúng đã từng nói thật rõ về con người, về xứ sở, gốc tích, về chính bản thân người ấy?
Nhưng, một cửa sổ là để nhìn? Nếu chỉ có vậy, tôi thích nhắm mắt lại hơn. Hoặc phải kéo rèm mà che lại. Một quãng nọ tôi ở trong một phòng khách sạn có vách kính rất lớn. Đó là một cửa sổ góc, với không chỉ một mà tận hai mặt kính rộng, không hề bị ngắt giữa chừng bởi cột, cao suốt từ sàn đến trần; và lúc nào cũng phải kéo kín tấm rèm lá che kín hai mặt. Một trong hai mặt quay sang bức tường căn nhà bên cạnh, mái nhà bên ấy cao quá tầng lầu tôi ở, và xa hơn, qua một khe hẹp, có thể nhìn thấy ngã tư đường, xa hơn nữa, một trong nhiều cây cầu bắc qua con sông của thành phố; mặt bên kia, vuông góc, quay về phía một căn nhà mang dáng vẻ trông như một hidden bar, bởi chẳng có thông báo nào rõ ràng ngoài những dấu vết nho nhỏ khơi lên ý nghĩ về sự tồn tại thực của nó, đáng thèm muốn, nằm ở sâu tít bên trong. Tôi chẳng nghĩ đến chuyện đi vào đó, dù vô cùng tò mò, và thật dễ để biết rõ vì chỉ cách vài bước chân. Thành phố có sẵn mọi thứ, biển, núi, rất nhiều người nước ngoài và những ngôi nhà ngoại quốc, thậm chí cả một ngôi làng cổ châu Âu: một thành phố dễ sống. Dễ sống, vì mọi thứ đã được tính toán hết, người ta chỉ việc thả cho mình bị đón lõng một cách tử tế; ăn những món luôn biết cách làm sao cho hợp với khẩu vị của người ở xa đến, đi bộ trên con đường được tạo ra để đi bộ, chơi trong khoảng sân được rào sẵn, thật rộng, được làm ra để chơi và không gì khác ngoài chuyện ấy; thậm chí, nếu cần phải tìm một công việc, luôn có những công việc được dành sẵn, thật cụ thể, một chuỗi được chia nhỏ đến nỗi việc biết được kết quả cuối cùng sẽ là gì thì hoàn toàn vô ích. Nhưng không thể chịu được việc phải nhìn thêm một khi cái ý nghĩ kia đã chui vào đầu, rằng chúng, những thứ ở trước mắt mà thoạt tiên ta tưởng chỉ vô tình bắt chợt giữa sự sống riêng đang tự vận hành, bất kể có ta hay không, lại được bày ra cho ta, để nhìn, tươm tất và ngay ngắn, và thân thiện, hay bất cứ vẻ gì mà một kẻ lạ có thể muốn; những ánh mắt hau háu luôn biết làm cho hài lòng kia rình, rất giỏi bắt lấy những tia chú ý dù là nhỏ nhất. Suốt nhiều ngày tôi ngồi trong phòng, trên một cái ghế phô tơi, tựa lưng vào vách kính, bằng lòng với góc nhìn mà với tôi là quá hào phóng.
Cái nơi dường như là lối vào một hidden bar kia thỉnh thoảng, vào buổi tối, sẽ xuất hiện những nhân vật rất đẹp, lối ăn mặc hoàn toàn tương phản với cái vẻ khép kín bề ngoài của nó; người bảo vệ mở cửa ra và khép lại ngay sau lưng người vừa đi vào, chẳng để lộ bất cứ gì bên trong. Đôi khi có người ở trong đi ra, chờ xe đến, đứng lại trước cửa một lúc. Hoặc một người đứng hút thuốc; nếu một lúc nào đó bất chợt thắc mắc trên những cửa sổ khách sạn đối diện có gì, hoặc đơn giản chỉ là một cú lia mắt giải khuây, người kia hẳn sẽ nhìn thấy tôi đứng sau vách kính. Phải làm sao cho lá rèm chỉ trông như tình cờ bị vén lên. Rốt cuộc, cách tốt nhất là hạ tầm mắt xuống thật thấp, sao cho toàn bộ những gì bên dưới con mắt bị giấu đi. Vậy là, suốt những ngày ở lại thành phố dễ sống ấy, tôi ngồi trên ghế, hài lòng với vách kính kéo kín rèm sau lưng, và bất cứ lúc nào tôi cũng có thể tắt hết đèn và nằm xuống sàn, dưới chân vách kính, nhìn cái lối vào của căn nhà đối diện.
Ở đó, khi ngồi trên ghế, tôi đọc, trước khi biết đến cuốn sách có rất nhiều cửa sổ kia, một quyển sách về một ngôi trường nổi tiếng, tồn tại vào quãng đầu thế kỷ trước. Trong đó một họa sĩ, cũng là một giáo sư của trường, khiến tôi chú ý, nhưng ấn tượng không đến với tôi ở chương viết về ông, dù đó là một họa sĩ nổi tiếng, thậm chí ông được biết đến nhiều từ trước khi vào trường, và tranh của ông, về quãng sau này, thì chẳng lẫn đi đâu được. Nhưng, khi một nhân vật trở nên vô cùng đáng nhớ, hoặc tác phẩm của một họa sĩ được nhận ra ngay lập tức bởi một lượng người xem rất đông thuộc nhiều thế hệ, liệu có phải đó là bởi con người, hoặc tác phẩm, các bức tranh của một họa sĩ chẳng hạn, đã bị rút gọn lại thành những đặc điểm thật đơn giản, gọi tên được ngay, và không bao giờ thay đổi? và mặc cho chuyện ấy có thể làm mọi sự méo mó tới đâu, với một nhân vật như thế, người ta dễ dàng cười, căm ghét, thông cảm, hoặc yên tâm trước bất cứ chuyện gì sắp xảy đến. Có lẽ bởi vậy mà sự chú ý chỉ được khơi lên đủ mạnh khi tôi đọc được các chi tiết cho thấy sự khó ở của ông đối với căn nhà, ông được hiệu trưởng phân cho, nằm trong khuôn viên trường. Dẫu sao thì đó cũng chỉ là một chuyện vặt – so với những gì quyển sách nói đến, về lịch sử của một ngôi trường – một hành động là kết quả của cơn bực dọc kéo dài. Giống như các căn nhà khác, đồng dạng, trong khuôn viên, căn nhà của ông họa sĩ có một vách kính lớn thông suốt cả hai tầng, ở một trong các mặt ngoài của căn nhà, khiến cho người ta có thể nhìn thấy hết những gì xảy ra ở sảnh chính, nơi dẫn đến các phòng khác, và nếu một người từ chỗ ấy đi cầu thang lên tầng trên, mọi thứ đều có thể bị phơi bày. Dẫu cho xung quanh nhà có nhiều cây, và chẳng phải lúc nào cũng có đông người lai vãng đến khu nhà ấy của khuôn viên, rốt cuộc, ông họa sĩ lấy sơn trắng phủ kín mặt trong của vách kính ấy.
Nhưng đó chỉ là một phần rất nhỏ trong toàn bộ công việc của ông họa sĩ: làm cho căn nhà ấy có thể ở được. Cùng với họa sĩ đồng nghiệp ở trường, người ở trong căn nhà giáp lưng với căn của ông, họ sơn lại toàn bộ nội thất. Vậy là chẳng còn nữa tường bao xung quanh các gian phòng hình hộp được tính toán rất cẩn thận kia, vốn không để lại một góc thừa nào, mà là vô số các màu, và nếu đi lại trong đó người ta hẳn có cảm tưởng chúng liên tục đuổi bắt, ghì nhau lại hay đẩy ra xa. Một hình chữ nhật màu lam đậm cứ như thể sắp lẩn vào góc nào đó bên trái, trong một khoảng không vàng chanh nhạt, nếu không có đường gấp khúc màu lục-lam sẫm chặn nó lại dưới chân, nhưng nó cũng khó mà vượt qua được hình chữ nhật xám chắc nịch chặn ở góc xa, trông như một cánh cửa; kia là một đường mảnh gấp khúc màu đỏ, mà dải lớn màu trắng song song với nó vừa làm nổi lên nhưng cũng giống như đang cố kìm nó khỏi bật tung đi mất, còn màu vàng bên dưới thì neo lại thật chắc bởi nó có hình răng cưa, và kết hợp với các dải đen mảnh từ lớn đến nhỏ, chúng trở thành một cụm chắc chắn mà tình cờ là người ta cũng có thể tận dụng để đi lên tầng trên; đường gấp khúc màu vàng ở gần đó dường như cũng có thể sử dụng làm lối đi, bởi màu đen hình chữ nhật mà nó bao quanh ấy có thể chính là bóng tối của phòng bên cạnh; một hình chữ nhật đứng màu đen ở một chỗ khác lại không thể đi xuyên qua được, bởi đó chính là một bức tường, và rõ là nó đang đứng yên trong khi ở bên cạnh, phân cách bởi một dải đứng màu trắng, một mảng vuông lớn màu lam nhạt cứ như thể lùi dần ra sau, và thật thích hợp để họa sĩ ngồi vẽ ở đây, trong một chỗ cứ rộng ra mãi và tràn đầy ánh sáng.
Rõ là người ta không thể chỉ đơn thuần gán cho sự chuyển động không ngừng, hoặc từ chối nhúc nhích, ở vô số các màu kia lý do rằng ông là họa sĩ và đương nhiên ông thích màu sắc. Sự thật là ông vốn đã quen với việc không được ai hiểu. Sự trừu tượng mà người ta nhắc ngay đến khi nói về tranh của ông, và cũng để tóm gọn toàn bộ con người ông, thì cũng là một cách để không hiểu, và từ chối nhìn lâu hơn vào sự cân bằng ông dành lại được trước một tập hợp những thứ trông có vẻ vô cùng lộn xộn và lúc nào cũng nhúc nhích: ở bên này thì ngả nghiêng nhưng sang bên kia lại vững vàng, cái này dường bị đặt sai chỗ thế nên mới có cái kia để chữa lại, và nếu chúng hút vào nhau quá, phải bẳng cách nào đó tách được chúng ra, để toàn bộ những thứ khác không bị chúng lật nhào hết. Học trò của ông, những người hầu như lúc nào cũng thật hoang mang trước những gì được dạy ở trường, hầu hết chẳng hiểu ông muốn gì khi bắt họ tìm kiếm một sự căng thẳng mơ hồ nào đó nơi các hình; nhưng không chỉ có thế, và điều này dường luôn gây cho họ – nhất là các học viên theo học ở trường với hi vọng sẽ trở thành nghệ sĩ – một sự khó chịu là kết quả của thất vọng và mặc cảm: ông còn khác xa với bất kỳ hình dung nào của họ về một nghệ sĩ, cụ thể hơn, một nghệ sĩ nổi loạn. Đúng là ông vẫn luôn đối nghịch với cái đám họa sĩ hàn lâm viện, vốn khăng khăng lao đầu vào kỹ thuật, nhưng trước khi động vào vẽ bất cứ gì sẽ víu lấy ngay các hình thức quen, các mẫu, tức là những cái xác chết khô, trong cái đầu tỏn mỏn đầy chật lý thuyết của họ. Những tìm tòi của ông ở giai đoạn này hướng đến chỗ gạt bỏ đi tất cả những gì không phải là căn bản nhất, chỉ còn lại các yếu tố không thể nhỏ thêm được nữa; và nỗ lực khái quát ấy, nỗ lực tìm ra các luật hoặc chứng minh một trực giác nào đó của mình là đúng, ông áp lên, không chỉ hội họa, đủ mọi thứ trên đời. Nhưng cũng bởi phẩm chất ấy, mà dường như ông hiệu trưởng nhìn thấy ở ông một nhà lý luận chẳng bao giờ mệt (hơn là một họa sĩ có tài năng đặc biệt), đối với biểu đạt những màu và hình, và tổ hợp của chúng mỗi cái lại có một tư thế riêng, ông buộc phải đặt ra các quy tắc – dẫu sao thì người ta cũng có thể nhớ lấy chúng rồi sau đó tìm cách hiểu chúng là gì, bởi bản thân ông chẳng phải lúc nào cũng chứng minh được rạch ròi những gì thuộc về cảm năng ấy, – một hệ thống riêng mà ông tuyên bố như những sấm rền của một nhà tiên tri từ trên núi xuống. Và thêm vào cho sự xa cách của ông với học trò, với các thợ thủ công và với các nghệ sĩ, là cái vẻ mô phạm và giáo điều cố hữu, một ông già (ông chỉ thực sự vẽ khi đã luống tuổi) lúc nào cũng nghiêm chỉnh.
Nhưng đấy là chuyện khác, giờ thì, chỉ có ông và căn nhà của ông, ông làm cho chỗ này chỗ kia ấm hơn lên hay lạnh đi, ông làm hiện ra, bằng màu, các ý, các huyễn tưởng, các khơi gợi về quê hương mà ông bị buộc phải rời khỏi, hoặc chỉ đơn giản để lấp cho kín chỗ (có ai quy định rằng ông không được lấp kín mọi thứ, bằng màu, hay bằng những chi tiết bất chợt nảy ra đâu đó, miễn là nó hồi ứng lại với chuyển động chung của tất thảy và đơn giản là ông cảm thấy nhất thiết phải có nó? có khuôn mẫu nào bảo rằng ông không được để cho bất kỳ hình nào không mang một nghĩa ẩn dụ?), và đương nhiên thỉnh thoảng ông đổi lại màu chỗ này chỗ kia, chẳng bao giờ hoàn toàn yên tâm trong căn nhà của mình. Và, đương nhiên, còn cả cái sự lúng túng kỳ quặc kia nữa, mà ông không thể không nhận thấy ngay từ đầu, nơi các vật dụng riêng của ông. Ở đây mọi thứ đều được chăm chút tỉ mỉ đến nỗi tất tật đều vừa khít, chẳng có lấy một khoảng trống không có chức năng, và đâu đâu cũng thẳng thớm ngăn nắp: các hốc chừa sẵn đặt tủ phủ kín một mảng cao từ sàn đến trần, còn gọi là tủ âm tường, bếp được thiết kế theo các module vuông vắn phù hợp với hình dạng của căn phòng, bồn tắm dường chính là một khối chữ nhật lập phương lẫn vào các hình chữ nhật khác của sàn và trần phòng tắm…. Và khi ở giữa những gian phòng bao quanh bởi các hình vuông và hình chữ nhật, ở giữa các đường thẳng và đường ngang được vạch ra dứt khoát ấy, sự vụng về nơi các đồ vật của ông, những thứ ông mang theo từ nơi ở cũ, một cái ghế chẳng hạn, một cái bàn, hoặc những vật dụng linh tinh khác mà ông sử dụng hằng ngày, vốn dĩ khác xa với một hình kỷ hà, chẳng còn lẩn vào đâu được nữa mà phơi hết ra đó, méo mó đến vô duyên. Mọi thứ cũ kỹ phải thay đổi, ông đành phải quyết định như thế. Ông bắt tay vào việc phác ra các ý của mình cho các món đồ nội thất: chúng buộc phải mang dáng vẻ sao cho không bị chệch ra khỏi bầu không khí chung, và phải làm sao để cho các hình cơ bản, thậm chí cả hình tam giác vốn xa lạ với vật dụng, được gợi ra ngay ở hình dáng tổng thể của chúng. Đó là giai đoạn ông say mê các hình tròn, càng nhiều hình tròn càng tốt. Ông cũng thích mê cái ghế mà một đồng nghiệp – học trò cũ – thiết kế, bởi không thể kiếm được cái ghế nào phù hợp hơn với phòng tiếp khách của ông, đến nỗi cái ghế mang tên ông chứ không phải người làm ra nó, dù, thành thực mà nói, đó là một cái ghế chẳng gây cho ông ham muốn ngồi lên (và làm sao mà trông đợi một cái ghế có thể ngồi được, khi mọi thứ được tạo ra trước hết bởi dáng vẻ bề ngoài của nó?).
Có một sự tương phản đầy ấn tượng, giữa những gì tạo ra bởi các chấm, đường và hình cơ bản mang vô vàn sắc độ màu khác nhau bên trong căn nhà, với vẻ ngoài của nó, trắng và đen, và mọi trang trí đều bị gạt bỏ; đó là kết quả sự phản ứng của họa sĩ với căn nhà mà không lúc nào ông không cảm thấy, đôi khi bực mình, sự uốn nắn kỳ quặc của nó lên các đồ vật và lên chính bản thân ông. Nhưng chẳng phải đó cũng là điều mà ông hiệu trưởng tuyên bố về trách nhiệm định hình lại cuộc sống hay sao? Rõ là sự định hình ấy, khi phải đối mặt một cách cụ thể, dẫn đến những hình thức ông chưa từng biết đối với một căn nhà: trong các bức tranh trước đây của ông, ở giai đoạn mà những gì quen thuộc trong thế giới con người vẫn còn được nhận ra, người ta thấy các căn nhà xuất hiện với những nét cố hữu của căn nhà: dù cao hay thấp, mỗi căn nhà đều có mái dốc về hai bên và mang hình một khối hộp duy nhất, thậm chí còn đơn giản hơn cả các căn nhà của Paul Cézanne, và các cửa sổ, không lớn hơn nét chấm cọ, xếp đều thành nhiều hàng ở mặt tiền.
Trong khi đó căn nhà của ông giờ đây đã không còn những gì quen thuộc vốn gợi ngay đến một căn nhà; đó là một căn nhà vô cùng hiện đại vào thời ấy, dù đương nhiên không thuộc loại hiện đại nhất, và là một trong các ví dụ sớm cho hình thức nhà ở mới, hướng đến việc đạt được hiệu quả tối đa, và cũng bởi vậy, bỏ đi hết những thứ không cần thiết. Đương nhiên những gì mà sự tồn tại của chúng chỉ để làm giả, vốn được lặp đi lặp lại bởi thói quen, bị loại bỏ trước tiên: bỏ các họa tiết trang trí, dẫu là mục đích của sự phô trương hay để giảm nhẹ các nếp gấp quá đột ngột của kết cấu và trông thật thô thiển trước mắt con người, bỏ hết các cột giả, hay các đầu hồi được dựng lên chỉ để lặp lại một hình thức cũ vốn luôn được xem là tiêu chuẩn, và không còn phụ thuộc vào các cột trụ bằng đá hoặc các tường chịu lực dày và nặng. Người ta tiết kiệm được không chỉ ở vật liệu, thời gian và nhân công xây dựng, mà cả các không gian bên trong: có một sự căng thẳng thấy rõ giữa kích thước và chức năng nơi các phòng, chúng tách biệt, rộng đủ mức cần thiết và đủ tiện nghi, được sắp đặt sao cho studio của họa sĩ – trung tâm của căn nhà – là phòng rộng và cao nhất, và mọi phòng trong nhà đều có thể được đi đến với khoảng cách tối thiểu từ sảnh trung tâm; như thế cũng có nghĩa là loại bỏ luôn các hành lang dài dẫn đến các phòng, ngoại trừ ban công kéo dài ở tầng lầu, nhưng, đương nhiên, nó thực hiện chức năng làm mái che cho lối đi bên dưới.
Nhưng cũng có những căn nhà cũ thuộc một loại khác, không hề là những gì phô trương và thừa mứa mà sự loại bỏ kia nhắm vào, hoặc giả người ta phải cố mà tưởng tượng ra đúng là có những căn nhà như vậy, mà sự tồn tại của chúng dựa trên những gì cơ bản nhất: chống lại trọng lực của một mái che, và khuôn lại cuộc sống con người vốn lỏng lẻo. Chúng được tạo nên trước hết chỉ như một cái khung cho những yêu cầu cơ bản nhất để sống, và được hoàn thiện từ năm này qua năm khác, có thể mở rộng thêm hay làm cho cao hơn ở chỗ nào đó bởi những hoàn cảnh không thể cưỡng lại, và không bao giờ biết chắc được hình thức cuối cùng là khi nào; và rõ ràng, bởi con người thì lúc nào cũng phải biết về những hình thức cơ bản nhất, chẳng thể nói rằng vẻ thô kệch đôi khi trông thấy ở chúng lại chỉ xuất phát từ sự căn cơ của con người sống bên trong (không phải là con người vẫn được đặt lên hàng đầu ở khả năng thích nghi với sự bó buộc của các chất liệu, thời tiết, những gì sẵn có ở một vùng đất nào đó, biến đổi chúng theo một cách riêng mà chỉ con người mới làm được hay sao?) Và căn nhà, dù sao cũng là một vật cụ thể và phải được sử dụng, trải qua bao nhiêu năm, đến lượt nó cũng định hình các tập tính của con người, và trong khi người ta bay thật cao với trí tưởng tượng của mình, các thói quen nhỏ nhặt giữ người ta lại dưới mặt đất. Kích thước của người chẳng vì bất cứ lý do gì mà tăng lên hay nhỏ đi quá nhiều, điểm nhìn của người, khoảng cách từ mắt xuống sàn, chỉ thay đổi độ cao đáng kể khi, chẳng hạn, người ta ngồi xuống; và cả cái tư thế ngồi ấy nữa, đâu phải vì một kiểu ghế mới mà thế xương sống và trọng tâm cơ thể của một người buộc phải thay đổi?
Một căn nhà được làm ra giống như căn nhà của ông họa sĩ ngay từ đầu đã hướng đến việc phục vụ tốt nhất cho chủ nhân, bởi vì, so với những căn nhà lúc nào cũng vụng về và luôn nhúc nhích cơi nới ra thêm kia, nó, có thể nói, về cơ bản đã xong xuôi từ khi ông bước vào, giống như một thứ hiện vật, để nhìn: mọi thứ đều được cẩn thận tính toán, kể cả những hốc thụt nhỏ xíu cũng được tạo ra với chức năng riêng và chẳng phải là để trang trí, và cũng bởi vậy mà các mặt tiền của nó có những khối lớn đưa ra thụt vào không hề ngẫu nhiên. Và còn cả những cái cửa sổ kia nữa. Rốt cuộc, khi mặt tường đã được giải phóng, không còn phải chống đỡ bất cứ thứ gì, không còn chịu sự vướng víu mà các cột trụ khổng lồ tạo ra, và cũng không phải che đậy những hình thù nặng nhọc của kết cấu vốn quy định hình dạng bên ngoài bởi các phương đứng và phương ngang, vị trí của cửa sổ, rốt cuộc đã không còn phụ thuộc vào những gì vốn giúp cho căn nhà đứng được, trở nên tự do hoàn toàn. Nhưng sự tự do ấy ngay lập tức đòi hỏi phải được xác định bởi một luật khác. Với căn nhà của họa sĩ, chẳng hạn, sự tự do bề ngoài của các cửa sổ kia phụ thuộc vào chức năng của các căn phòng bên trong: khi chẳng còn bị bó buộc vào một hình dạng dù khắc khổ hay diêm dúa nào nữa, các cửa sổ có thể ở đây và ở kia, và cao bao nhiêu thì tùy thuộc vào chức năng căn phòng bên trong, chúng có thể hẹp và dài, như cửa sổ ở nhà bếp, hoặc mở rộng hoàn toàn như vách kính của studio (khác với vách kính ở sảnh, lúc này hiệu quả của nó là tối đa bởi cho phép ánh sáng lọt vào).
Tự do có phải là một trạng thái mà khi có được rồi người ta nhất định muốn biện minh cho tồn tại của mình, bằng các trật tự? Ngay khi bê tông cốt thép dần thay thế được cho hết thảy các kết cấu cũ, một căn nhà được đòi hỏi, chẳng hạn, phải trở nên hợp lý và ngăn nắp hệt như trên một con tàu, vốn hoạt động ở nơi lúc nào cũng có các hiểm nguy rình rập. Nhưng, tại sao lại căng thẳng đến thế? bất kỳ góc nào cũng sẵn sàng có những kẻ chồm ra mà vồ lấy cái tự do của con người, và đâu phải là ít, chuyện nó dễ dàng bị chặn họng bởi các hình thức được chìa ra sẵn. Sự can thiệp phần nào bởi chức năng bên trong kia, như căn nhà của ông họa sĩ, không phải là khả năng duy nhất, và rõ ràng nó chỉ diễn ra trong một giai đoạn ngắn. Người ta có thể, mà chẳng gây ra thảm họa nào, tạo ra các bề mặt nhà phẳng lỳ, và việc duy nhất là làm sao cho bố cục mặt tiền có vẻ ấn tượng, với các vị trí cửa sổ và cửa đi, lỗ rỗng hay mảng đặc, được xác định bằng các quy tắc về tỷ lệ hay một loại đường chéo nào đó để cân chỉnh kích thước trên bề mặt (có quan trọng gì một kẻ bên trong nào đó tự hỏi tại sao phải nhìn qua một cái cửa mang kích thước kỳ quặc đến thế trong phòng mình), hoặc dẹp bỏ hết mà thay bằng kính, hoặc, khi đã chán ngấy, làm cho sống dậy, bằng bê tông, các hình thức cũ, dẫu sao cũng vui mắt, từng được tạo ra bằng đá, gạch, gỗ ở những gờ chỉ, chóp mái hay các vòm cửa sổ, và đến cả những cái hốc vô ích cũng bị làm giả chỉ bởi bóng đổ của chúng tuyệt diệu, hoặc làm ra các lớp phủ khắp căn nhà bằng vật liệu nhẹ. Rõ ràng là để đối phó với tự do ấy, khi căn nhà buộc phải được ấn định sự hoàn thiện, phải được làm hiện ra, ngay lập tức, hình thức chung quyết của nó, rất nhiều lý thuyết và tiêu chuẩn đã được thiết lập; và ở phần đa trong số ấy, khi nhắm tới việc tạo ra những thứ để nhìn, hoặc ít ra đó cũng chiếm phần quan trọng nhất trong việc đánh giá một căn nhà (bởi những gì được làm ra chỉ để nhìn thì cũng mở ra một sự tự do mới cho bình luận và đánh giá), những gì tỏn mỏn, chệch choạc, gây lúng túng vốn thuộc về con người đều bị quên đi. Ở đó dường như sự tồn tại của con người sẽ được hiểu thấu đáo qua các thông tin, về số liệu và các tấm ảnh; và những gì sâu tận bên trong, chưa thể tìm được một hình thức để biểu đạt, hoặc chưa muốn, chỉ là điều tưởng tượng.
Công Hiện
